Từ khoá: Số Hiệu, Tiêu đề hoặc Nội dung ngắn gọn của Văn Bản...

Đăng nhập

Quên mật khẩu?   Đăng ký mới
Đăng nhập bằng Google

Nghị định 90/2006/NĐ-CP hướng dẫn Luật Nhà ở

Số hiệu: 90/2006/NĐ-CP Loại văn bản: Nghị định
Nơi ban hành: Chính phủ Người ký: Nguyễn Tấn Dũng
Ngày ban hành: 06/09/2006 Ngày hiệu lực: Đã biết
Ngày công báo: Đã biết Số công báo: Đã biết
Tình trạng: Đã biết

CHÍNH PHỦ
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 90/2006/NĐ-CP

Hà Nội, ngày 06 tháng 9 năm 2006

 

NGHỊ ĐỊNH

QUY ĐỊNH CHI TIẾT VÀ HƯỚNG DẪN THI HÀNH LUẬT NHÀ Ở

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Luật Nhà ở ngày 29 tháng 11 năm 2005;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Xây dựng,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1:

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung về phát triển nhà ở, quản lý việc sử dụng nhà ở, sở hữu nhà ở, giao dịch về nhà ở và quản lý nhà nước về nhà ở quy định tại Luật Nhà ở ngày 29 tháng 11 năm 2005.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Nghị định này được áp dụng đối với các đối tượng sau đây:

1. Tổ chức, cá nhân trong nước; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư phát triển nhà ở tại Việt Nam.

2. Tổ chức, cá nhân sở hữu nhà ở, sử dụng nhà ở và tham gia giao dịch về nhà ở tại Việt Nam.

3. Cơ quan quản lý nhà nước các cấp trong lĩnh vực nhà ở.

4. Tổ chức, cá nhân không quy định tại khoản 1, 2 và khoản 3 Điều này nhưng có liên quan đến lĩnh vực nhà ở.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Nhà ở được tạo lập hợp pháp là nhà ở do tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng, mua, thuê mua, được tặng cho, được thừa kế, đổi nhà ở hoặc được sở hữu nhà ở thông qua các hình thức khác theo quy định của pháp luật.

2. Nhà ở thương mại là nhà ở do tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng để bán, cho thuê theo cơ chế thị trường.

3. Nhà ở xã hội là nhà ở do nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng cho các đối tượng quy định tại Điều 53 và Điều 54 của Luật Nhà ở thuê hoặc thuê mua theo cơ chế do Nhà nước quy định.

4. Nhà ở công vụ là nhà ở do Nhà nước đầu tư xây dựng cho một số đối tượng quy định tại Điều 60 của Luật Nhà ở thuê trong thời gian đảm nhiệm công tác theo cơ chế do Nhà nước quy định.

5. Thuê mua nhà ở xã hội là việc người thuê nhà ở xã hội sau một thời gian quy định thì được công nhận sở hữu đối với nhà ở đó.

Chương 2:

PHÁT TRIỂN NHÀ Ở

Mục 1. DỰ ÁN PHÁT TRIỂN NHÀ Ở

Điều 4. Các loại dự án phát triển nhà ở

1. Dự án phát triển nhà ở thương mại.

2. Dự án phát triển nhà ở xã hội.

3. Dự án phát triển nhà ở công vụ.

Điều 5. Lập dự án phát triển nhà ở

1. Khi đầu tư phát triển nhà ở theo dự án, chủ đầu tư phải tổ chức lập dự án phát triển nhà ở theo nội dung quy định tại Điều 6 và Điều 7 Nghị định này và các yêu cầu quy định tại các Điều 24, 25, 26 và Điều 30 của Luật Nhà ở.

2. Chủ đầu tư tổ chức lập và trình duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 đồng thời với hồ sơ dự án phát triển nhà ở.

Điều 6. Nội dung của dự án phát triển nhà ở

Dự án phát triển nhà ở phải bảo đảm có các nội dung chủ yếu sau đây:

1. Sự cần thiết và cơ sở pháp lý của dự án (chương trình phát triển nhà ở của địa phương; kế hoạch phát triển nhà ở và các văn bản khác có liên quan do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành).

2. Hình thức đầu tư (để bán, cho thuê hoặc cho thuê mua) và chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở.

3. Cơ sở lựa chọn địa điểm dự án (quy hoạch xây dựng đô thị, điểm dân cư nông thôn; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; sự phù hợp với các đối tượng có nhu cầu về nhà ở).

4. Tình hình thực trạng khu vực dự án (điều kiện tự nhiên, xã hội, kiến trúc cảnh quan, mục đích sử dụng đất hiện trạng, diện tích, ranh giới khu đất hiện trạng).

5. Giải pháp quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 của khu đất dự án (quy hoạch tổng mặt bằng; mật độ xây dựng; hệ số sử dụng đất; vị trí, hình khối và quy mô tầng cao của các công trình kiến trúc và công trình ngầm).

6. Cơ cấu cụ thể của các loại nhà ở, các loại công trình khác trong dự án (trường học, bệnh viện, công trình phúc lợi công cộng và công trình dịch vụ).

7. Giải pháp ứng dụng công nghệ xây dựng, quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng áp dụng đối với dự án.

8. Phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng và bố trí tái định cư.

9. Các giải pháp về hạ tầng kỹ thuật (hệ thống giao thông, cấp điện, cấp - thoát nước, thông tin liên lạc, xử lý rác thải, phòng chống cháy nổ, công trình ngầm, chỉ giới đường đỏ, chỉ giới xây dựng và các yêu cầu khác).

10. Các cơ chế được áp dụng đối với dự án (chính sách về sử dụng đất, tài chính, thuế và các cơ chế khác).

11. Thời gian, tiến độ thực hiện dự án.

12. Xác định nhu cầu vốn, nguồn vốn và hình thức huy động vốn đầu tư.

13. Phương án tiêu thụ sản phẩm (đối tượng và hình thức tiêu thụ sản phẩm; số lượng cụ thể các loại nhà ở, công trình để bán, cho thuê, cho thuê mua; giá bán, giá cho thuê, giá thuê mua).

14. Phân tích các chỉ tiêu tài chính và khả năng thu hồi vốn.

15. Đánh giá hiệu quả đầu tư (hiệu quả kinh tế, xã hội của dự án).

16. Đánh giá tác động môi trường và các giải pháp giảm thiểu sự ảnh hưởng xấu đến môi trường.

17. Phương án tổ chức quản lý, khai thác, vận hành dự án sau đầu tư; trách nhiệm bảo hành, bảo trì công trình và nghĩa vụ đóng góp kinh phí của các tổ chức, cá nhân có liên quan để thực hiện việc quản lý, khai thác, vận hành dự án.

18. Kết luận và kiến nghị.

19. Hồ sơ bản vẽ của dự án phát triển nhà ở.

Điều 7. Hồ sơ bản vẽ của dự án phát triển nhà ở

1. Bản vẽ hiện trạng khu đất dự án (thể hiện vị trí và kiến trúc cảnh quan hiện trạng).

2. Bản vẽ quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500.

3. Bản vẽ tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan các loại nhà ở và công trình xây dựng trong phạm vi dự án.

4. Bản vẽ các hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật trong phạm vi dự án như: hệ thống giao thông, hệ thống cấp điện, thông tin liên lạc, hệ thống cấp, thoát nước, hệ thống các công trình ngầm, công trình hạ tầng trong phạm vi dự án và các công trình khác (nếu có).

5. Bản vẽ phối cảnh tổng thể của dự án.

Điều 8. Phê duyệt dự án phát triển nhà ở

1. Các dự án phát triển nhà ở trên phạm vi địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) phê duyệt, trừ các dự án phát triển nhà ở công vụ theo yêu cầu đặc biệt.

Căn cứ vào điều kiện cụ thể của từng địa phương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thể uỷ quyền cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp huyện) được phê duyệt dự án phát triển nhà ở thương mại có mức vốn đầu tư dưới 30 tỷ đồng.

2. Nội dung quyết định phê duyệt dự án phát triển nhà ở, gồm:

a) Tên dự án và chủ đầu tư;

b) Địa điểm dự án;

c) Quy mô sử dụng đất, ranh giới sử dụng đất, quy mô dân số;

d) Khối lượng các hạng mục chủ yếu (các loại nhà ở: nhà biệt thự, nhà vườn, nhà liền kề, căn hộ chung cư; các công trình hạ tầng kỹ thuật: đường giao thông, cấp điện, cấp - thoát nước, xử lý rác thải, thông tin liên lạc, phòng, chống cháy, nổ); các công trình hạ tầng xã hội: nhà trẻ, trường học, y tế, dịch vụ, thể thao, vui chơi, giải trí, chợ);

đ) Tổng mức đầu tư của dự án;

e) Phương án huy động vốn;

g) Các cơ chế ưu đãi (nếu có);

h) Thời gian thực hiện dự án và tiến độ;

i) Phương án tiêu thụ sản phẩm;

k) Quyền và nghĩa vụ chủ yếu của chủ đầu tư;

l) Phương án tổ chức quản lý, vận hành dự án sau đầu tư.

3. Đối với các dự án phát triển nhà ở xã hội, nhà ở công vụ, ngoài các nội dung quy định tại khoản 2 Điều này, nội dung phê duyệt dự án phải quy định cụ thể nguồn vốn đầu tư, quy mô thiết kế nhà ở, đối tượng được thuê, thuê mua nhà ở và giá cho thuê, thuê mua nhà ở.

4. Các dự án phát triển nhà ở trước khi phê duyệt phải được cơ quan quản lý nhà ở của cấp có thẩm quyền phê duyệt thẩm định.

Việc thẩm định dự án phát triển nhà ở phải tuân thủ các quy định của Luật Nhà ở, Nghị định này và các quy định khác có liên quan của pháp luật về đầu tư và xây dựng mà pháp luật về nhà ở không quy định.

5. Thời gian thẩm định và phê duyệt dự án tối đa không quá 45 ngày, kể từ ngày cơ quan quản lý nhà ở nhận được dự án quy định tại Điều 6 Nghị định này.

Điều 9. Thực hiện dự án phát triển nhà ở

1. Việc tiến hành các nội dung liên quan đến chuẩn bị xây dựng và thực hiện xây dựng phải tuân thủ các quy định của Luật Nhà ở, Nghị định này và các quy định khác có liên quan của pháp luật về đầu tư và xây dựng.

2. Các chủ đầu tư được sử dụng thiết kế mẫu, thiết kế điển hình đối với nhà ở và các công trình xây dựng khác trong các dự án phát triển nhà ở nhưng phải bảo đảm phù hợp với quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng do cơ quan có thẩm quyền ban hành.

3. Chủ đầu tư không phải xin phép xây dựng đối với từng công trình trong phạm vi dự án đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và quy định về đầu tư và xây dựng.

4. Chủ đầu tư dự án có trách nhiệm tổ chức kiểm tra, giám sát việc thực hiện quá trình đầu tư, xây dựng của các tổ chức, cá nhân tham gia dự án phát triển nhà ở do mình làm chủ đầu tư.

Điều 10. Nghiệm thu dự án phát triển nhà ở

1. Khi nghiệm thu các dự án phát triển nhà ở, ngoài việc thực hiện các quy định về nghiệm thu, bàn giao đưa vào sử dụng theo quy định của pháp luật về xây dựng còn phải nghiệm thu hệ thống cấp điện, cấp thoát nước, phòng chống cháy nổ và vệ sinh môi trường.

2. Hồ sơ dự án phát triển nhà ở và tài liệu nghiệm thu, bàn giao phải được lưu trữ tại đơn vị quản lý vận hành dự án và tại cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh nơi có dự án để theo dõi, kiểm tra.

3. Đối với nhà chung cư phải có chứng nhận phù hợp về chất lượng theo quy định của pháp luật về xây dựng.

Mục 2. PHÁT TRIỂN NHÀ Ở THƯ¬ƠNG MẠI

Điều 11. Yêu cầu đối với dự án phát triển nhà ở thư¬ơng mại

1. Các chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở thương mại có trách nhiệm lập quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 và lập dự án trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Nội dung quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 của dự án phải tuân thủ quy hoạch xây dựng đô thị, điểm dân cư nông thôn, thiết kế đô thị và đáp ứng yêu cầu nhà ở phù hợp với từng khu vực đô thị, nông thôn và miền núi quy định tại Điều 24, 25 và Điều 26 của Luật Nhà ở.

2. Thiết kế nhà ở trong các dự án phát triển nhà ở thương mại ngoài việc phải bảo đảm các yêu cầu về quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng còn phải tuân thủ các tiêu chuẩn cụ thể quy định về nhà chung cư, nhà riêng lẻ và nhà biệt thự quy định tại Điều 40 của Luật Nhà ở.

3. Các dự án phát triển nhà ở thương mại cần đáp ứng nhu cầu đa dạng về loại nhà ở cũng như về phương thức thanh toán (thu tiền một lần, bán trả chậm, trả dần thông qua các tổ chức tín dụng) để phù hợp với yêu cầu của thị trường và điều kiện thu nhập của dân cư.

4. Chủ đầu tư các dự án phát triển nhà ở thương mại phải đảm bảo đúng thời gian thực hiện dự án đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Trường hợp phải kéo dài thời gian, phải được sự chấp thuận bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền phê duyệt dự án.

Điều 12. Chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở thư­ơng mại

1. Chủ đầu tư phát triển nhà ở thương mại bao gồm:

a) Doanh nghiệp trong nước được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp;

b) Nhà đầu tư nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư theo Luật Đầu tư;

c) Hợp tác xã được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật Hợp tác xã.

2. Điều kiện của chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở thương mại:

a) Phải có đăng ký kinh doanh bất động sản hoặc Giấy chứng nhận đầu tư theo quy định của pháp luật;

b) Có vốn đầu tư thuộc sở hữu của mình để thực hiện dự án không thấp hơn 15% tổng mức đầu t­ư của dự án có quy mô sử dụng đất dưới 20 ha, không thấp hơn 20% tổng mức đầu tư của dự án có quy mô sử dụng đất từ 20 ha trở lên.

Điều 13. Lựa chọn chủ đầu t­ư dự án phát triển nhà ở thư­ơng mại

1. Việc lựa chọn chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở thương mại được thực hiện theo nguyên tắc công bố công khai các khu đất dành để phát triển nhà ở thương mại trên phạm vi địa bàn để các tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế biết và tham gia đăng ký đảm nhận chủ đầu tư dự án.

2. Trường hợp hết thời hạn quy định kể từ khi công bố kêu gọi đầu tư mà chỉ có 1 (một) nhà đầu tư đủ điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 12 Nghị định này đăng ký thì nhà đầu tư đó được chọn làm chủ đầu tư dự án. Trường hợp sau khi công bố kêu gọi đầu tư mà có từ 2 (hai) nhà đầu tư trở lên đăng ký thì phải thực hiện đấu thầu lựa chọn chủ đầu tư dự án theo quy định tại Điều 14 Nghị định này.

3. Trường hợp nhà đầu tư đã có quyền sử dụng đất thông qua việc ­nhận chuyển như­ợng, thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì nhà đầu tư đó được làm chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở thương mại trên diện tích đất thuộc quyền sử dụng của mình.

Điều 14. Đấu thầu lựa chọn chủ đầu tư dự án

1. Căn cứ chương trình phát triển nhà ở, danh mục dự án phát triển nhà ở thương mại trong từng thời kỳ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo các cơ quan chức năng thuộc thẩm quyền công bố công khai danh mục các dự án phát triển nhà ở thương mại trong từng thời kỳ trên phạm vi địa bàn; quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, điểm dân cư nông thôn tỷ lệ 1/2.000; địa điểm và ranh giới của các khu đất dự án phát triển nhà ở thương mại; quy mô, điều kiện về sử dụng đất (đất được giao hoặc thuê, thời hạn thuê, quỹ đất bố trí tái định cư, giá đất dự kiến) của từng dự án; yêu cầu về thời gian hoàn thành đối với từng dự án để kêu gọi đầu tư trong nước và nước ngoài tham gia đăng ký làm chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở thương mại.

2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có dự án phát triển nhà ở thương mại có trách nhiệm công bố công khai các yêu cầu cơ bản để lựa chọn chủ đầu tư, gồm:

a) Yêu cầu về năng lực, kinh nghiệm của chủ đầu tư dự án;

b) Yêu cầu về quy hoạch - kiến trúc; các dạng, loại nhà ở; hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và công trình xây dựng khác trong phạm vi dự án;

c) Các chỉ tiêu về kinh tế - kỹ thuật, vệ sinh, môi trường cần đáp ứng;

d) Khung giá đất tối thiểu và yêu cầu về tài chính, thuế mà chủ đầu tư phải nộp theo quy định;

đ) Yêu cầu về quỹ đất và các công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội mà chủ đầu tư phải chuyển giao (nếu có);

e) Yêu cầu về quản lý vận hành và khai thác dự án sau đầu tư mà chủ đầu tư phải đáp ứng;

g) Thời gian nhận hồ sơ xin đăng ký làm chủ đầu tư dự án;

h) Các thông tin cần thiết khác có liên quan đến dự án.

3. Sau khi nghiên cứu các điều kiện và yêu cầu cụ thể đối với từng dự án theo quy định tại khoản 2 Điều này, các nhà đầu tư đăng ký làm chủ đầu tư có trách nhiệm chuẩn bị hồ sơ xin đăng ký làm chủ đầu tư dự án, gồm:

a) Các giấy tờ chứng minh về cơ sở pháp lý, năng lực chuyên môn, kinh nghiệm và khả năng tài chính của nhà đầu tư;

b) Bản thuyết minh và sơ đồ thể hiện các giải pháp về kinh tế - kỹ thuật để thực hiện các yêu cầu quy định tại khoản 2 Điều này;

c) Năng lực và những lợi thế khác của nhà đầu tư (nếu có) khi được giao làm chủ đầu tư dự án.

4. Sau khi tiếp nhận hồ sơ xin đăng ký làm chủ đầu tư dự án của các nhà đầu tư theo thời hạn quy định, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm thành lập Hội đồng tư vấn lựa chọn chủ đầu tư để xem xét, lựa chọn chủ đầu tư đối với từng dự án.

5. Hội đồng tư vấn lựa chọn chủ đầu tư có trách nhiệm xây dựng thang điểm cụ thể trên cơ sở các yêu cầu cơ bản quy định tại khoản 2 Điều này để chấm điểm đối với từng hồ sơ đăng ký.

6. Sau khi có kết quả chấm điểm, Hội đồng tư vấn có trách nhiệm trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định việc lựa chọn chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở thương mại.

7. Tổ chức thực hiện việc lựa chọn chủ đầu tư dự án nhà ở thương mại thông qua đấu thầu trên phạm vi địa bàn do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định đảm bảo phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương.

Điều 15. Quyền lợi của chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở thương mại

1. Được yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cung cấp các thông tin phục vụ thực hiện dự án phát triển nhà ở thương mại.

2. Được thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

3. Được lựa chọn phương thức quản lý thực hiện dự án.

4. Được hưởng chính sách tạo điều kiện, ưu đãi theo quy định của pháp luật.

5. Được bán, cho thuê nhà ở và các công trình xây dựng trong phạm vi dự án cho các chủ đầu tư khác, trừ các công trình hạ tầng phải chuyển giao theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

6. Được chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật cho các chủ đầu tư dự án khác để đầu tư xây dựng nhà ở theo đúng nội dung và tiến độ dự án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

7. Thoả thuận với người có nhu cầu mua hoặc thuê nhà ở để huy động vốn ứng trước theo quy định tại khoản 1 Điều 39 của Luật Nhà ở.

8. Hợp tác với các nhà đầu tư khác để triển khai thực hiện dự án.

9. Được hưởng các quyền lợi khác theo quy định của pháp luật.

Điều 16. Nghĩa vụ của chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở thương mại

1. Lập và triển khai thực hiện dự án theo đúng quy định của Luật Nhà ở, Nghị định này và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.

2. Thực hiện dự án theo đúng nội dung và thời hạn hoàn thành đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt hoặc cho phép điều chỉnh.

3. Công khai các thông tin liên quan đến dự án theo quy định tại khoản 3 Điều 36 của Luật Nhà ở sau khi có quyết định phê duyệt của cơ quan có thẩm quyền.

4. Phải làm thủ tục để cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và bàn giao các giấy tờ có liên quan đến nhà ở cho bên mua trong thời gian tối đa là 30 ngày, kể từ ngày bàn giao nhà ở, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

5. Bảo hành nhà ở theo quy định tại Điều 74 của Luật Nhà ở.

6. Bảo trì quỹ nhà ở cho thuê thuộc quyền sở hữu của mình (nếu có) và các công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội chưa chuyển giao hoặc không chuyển giao trong phạm vi dự án theo quy định của pháp luật.

7. Tổ chức thực hiện các hoạt động dịch vụ quản lý sử dụng nhà ở, hệ thống hạ tầng kỹ thuật và các dịch vụ khác có liên quan trong phạm vi dự án theo quy định của pháp luật; quản lý vận hành các công trình hạ tầng đã đưa vào khai thác trong khi chưa chuyển giao cho các tổ chức dịch vụ công ích hoặc tổ chức quản lý chuyên ngành.

8. Tổ chức quản lý trật tự an ninh khu vực dự án đã đưa vào khai thác sử dụng và kinh doanh khi chưa chuyển giao quản lý hành chính cho chính quyền địa phương.

9. Quản lý việc xây dựng nhà ở, công trình xây dựng của các chủ đầu tư thứ phát trong phạm vi dự án bảo đảm đúng quy hoạch chi tiết xây dựng và phương án thiết kế đã được phê duyệt.

10. Lập và thực hiện việc lưu trữ hồ sơ nhà ở theo quy định tại khoản 2 Điều 66 của Luật Nhà ở đối với quỹ nhà ở mà chủ đầu tư dự án dành để cho thuê (nếu có).

11. Báo cáo kết quả thực hiện dự án theo định kỳ 6 tháng 1 lần và khi kết thúc dự án cho cơ quan thẩm định phê duyệt dự án và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có dự án.

12. Chủ trì thành lập Ban quản trị nhà chung cư theo quy định của Luật Nhà ở và quy định về quản lý việc sử dụng nhà chung cư do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.

13. Quản lý, vận hành các công trình thuộc sở hữu của mình và các công trình chưa chuyển giao hoặc được giao quản lý trong phạm vi dự án.

14. Thực hiện các nghĩa vụ tài chính và các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

Điều 17. Kết thúc giai đoạn đầu tư xây dựng

Khi kết thúc đầu tư xây dựng, chủ đầu tư dự án phải thực hiện các yêu cầu sau đây:

1. Nghiệm thu toàn bộ dự án và thực hiện việc đối chiếu với nội dung của dự án được duyệt, lập báo cáo gửi cho cơ quan có thẩm quyền phê duyệt dự án và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có dự án.

2. Hoàn thành các hồ sơ, tài liệu phục vụ công tác lưu trữ theo quy định của Luật Nhà ở và pháp luật về xây dựng.

3. Bàn giao hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan quản lý chuyên ngành theo nội dung của dự án đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

4. Báo cáo quyết toán theo quy định của pháp luật về tài chính.

5. Chủ trì, phối hợp với các cơ quan chức năng hoàn thành việc cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng (nếu có) trong phạm vi dự án.

6. Phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giải quyết các tồn tại về quản lý hành chính trong khu vực của dự án.

Mục 3. PHÁT TRIỂN VÀ QUẢN LÝ NHÀ Ở XÃ HỘI

Điều 18. Quỹ nhà ở xã hội

1. Quỹ nhà ở xã hội do Nhà nước, các tổ chức hoặc cá nhân thuộc các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng trên cơ sở nhu cầu thuê và thuê mua của các đối tượng sinh sống trên địa bàn phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của từng địa phương theo quy định tại Điều 24, 25 và Điều 26 Nghị định này.

2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm:

a) Phê duyệt và công bố quy hoạch xây dựng, quy hoạch phát triển nhà ở, quỹ đất và địa điểm cụ thể dành để phát triển nhà ở xã hội bảo đảm sự gắn kết với các dự án khu đô thị mới, dự án phát triển nhà ở thương mại hoặc các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao;

b) Lập kế hoạch phát triển nhà ở xã hội 5 năm và hàng năm, trong đó xác định cụ thể loại nhà ở; nhu cầu về diện tích nhà ở, cơ cấu căn hộ dành để cho thuê, cho thuê mua, cân đối cụ thể các nguồn vốn đầu tư phù hợp với các quy định tại Điều 52 của Luật Nhà ở; cơ chế khuyến khích để kêu gọi các tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển quỹ nhà ở xã hội;

c) Quyết định lựa chọn chủ đầu tư, phê duyệt các dự án và tổ chức chỉ đạo việc triển khai thực hiện các dự án phát triển nhà ở xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu của địa phương trong từng giai đoạn.

Điều 19. Quỹ phát triển nhà ở

1. Quỹ phát triển nhà ở được hình thành từ các nguồn sau đây:

a) Tiền thu từ việc bán, cho thuê, cho thuê mua quỹ nhà ở thuộc sở hữu nhà nước trên địa bàn;

b) Trích từ 30% đến 50% tiền sử dụng đất của các dự án phát triển nhà ở thương mại và các dự án khu đô thị mới trên địa bàn. Mức cụ thể do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định;

c) Ngân sách địa phương hỗ trợ hàng năm theo quyết định của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh;

d) Tiền hỗ trợ, đóng góp tự nguyện của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước;

đ) Tiền huy động từ các nguồn vốn hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.

2. Căn cứ tình hình thực tế của địa phương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định thành lập Quỹ phát triển nhà ở của địa phương trên cơ sở các nguồn huy động quy định tại khoản 1 Điều này và ban hành quy chế quản lý quỹ này bảo đảm các nguyên tắc sau đây:

a) Quỹ phát triển nhà ở là tổ chức tài chính nhà nước hoạt động theo nguyên tắc bảo toàn vốn, bù đắp chi phí phát sinh trong quá trình hoạt động và không vì mục đích lợi nhuận;

b) Quỹ phát triển nhà ở trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, có tư cách pháp nhân, hoạt động hạch toán độc lập, có con dấu riêng, có bảng cân đối kế toán riêng, được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước và các tổ chức tín dụng để hoạt động theo quy định của pháp luật;

c) Quỹ phát triển nhà ở được quản lý, điều hành và tổ chức hoạt động theo Điều lệ tổ chức và hoạt động của Quỹ do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành và các quy định có liên quan của pháp luật;

d) Quỹ phát triển nhà ở được miễn giảm các loại thuế và nộp ngân sách nhà nước theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.

đ) Quỹ phát triển nhà ở của địa phương được sử dụng để phát triển nhà ở xã hội thuộc sở hữu nhà nước trên phạm vi địa bàn;

Giao Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Xây dựng hướng dẫn việc tổ chức, hoạt động đối với Quỹ phát triển nhà ở của các địa phương.

Điều 20. Quỹ đất dành cho phát triển nhà ở xã hội

1. Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền có trách nhiệm xác định và bố trí quỹ đất để xây dựng nhà ở xã hội khi lập, phê duyệt quy hoạch xây dựng đô thị, điểm dân cư nông thôn, khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao trên địa bàn.

2. Căn cứ điều kiện cụ thể của từng địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được xem xét, quyết định việc chủ đầu tư các dự án phát triển nhà ở thương mại và khu đô thị mới trên địa bàn có quy mô sử dụng đất từ 10 ha trở lên có trách nhiệm dành một phần diện tích đất đã đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật để chính quyền địa phương phát triển nhà ở xã hội nhưng trong mọi trường hợp không vượt quá 20% diện tích đất ở của dự án. Khoản chi phí bồi thường giải phóng mặt bằng và chi phí đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật của diện tích đất này được trừ vào tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất mà chủ đầu tư phải nộp ngân sách nhà nước theo quy định. Trong trường hợp khoản chi phí lớn hơn số tiền sử dụng đất mà chủ đầu tư phải nộp ngân sách thì khoản chênh lệch đó sẽ được hoàn trả từ vốn ngân sách nhà nước ngay sau khi chủ đầu tư bàn giao diện tích đất đã có hạ tầng cho cơ quan được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ định.

Điều 21. Chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở xã hội

1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định lựa chọn đơn vị làm chủ đầu t­ư các dự án phát triển nhà ở xã hội trên địa bàn được đầu tư từ quỹ phát triển nhà ở.

2. Đơn vị được lựa chọn làm chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở xã hội quy định tại khoản 1 Điều này có trách nhiệm quản lý quá trình đầu tư xây dựng, đồng thời chịu trách nhiệm quản lý vận hành dự án sau khi kết thúc đầu tư xây dựng.

3. Đối với dự án phát triển nhà ở xã hội do tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng thì chủ đầu tư dự án được phép tổ chức quản lý, vận hành dự án đó sau khi kết thúc đầu tư xây dựng.

4. Chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở xã hội có trách nhiệm tổ chức lập và trình duyệt dự án theo quy định tại Điều 5, 6 và Điều 7 Nghị định này.

Điều 22. Thực hiện dự án phát triển nhà ở xã hội

1. Thiết kế, dự toán nhà ở và công trình xây dựng trong các dự án phát triển nhà ở xã hội phải tuân thủ các quy định về quản lý đầu tư và xây dựng và tiêu chuẩn thiết kế nhà ở xã hội quy định tại Điều 47 của Luật Nhà ở.

2. Việc lựa chọn tư vấn thiết kế, đơn vị xây dựng đối với các dự án phát triển nhà ở xã hội phải thực hiện theo quy định của pháp luật về đầu tư và xây dựng.

3. Các đơn vị tư vấn khi thiết kế các dự án phát triển nhà ở xã hội phải áp dụng các giải pháp công nghệ thi công và sử dụng vật liệu hợp lý nhằm đảm bảo mục tiêu về tiến độ, chất lượng và hạ giá thành xây dựng, khuyến khích áp dụng thiết kế mẫu, thiết kế điển hình.

Điều 23. Quản lý vận hành quỹ nhà ở xã hội

1. Trường hợp có từ 2 đơn vị trở lên đăng ký tham gia quản lý, vận hành và khai thác quỹ nhà ở xã hội thì việc lựa chọn đơn vị quản lý vận hành dự án thực hiện theo nguyên tắc đấu thầu.

2. Việc thực hiện quản lý vận hành và khai thác quỹ nhà ở xã hội thuộc sở hữu của các thành phần kinh tế khác do chủ đầu tư­ quyết định trên nguyên tắc đảm bảo cho thuê hoặc cho thuê mua đúng đối t­ượng quy định tại Điều 24 Nghị định này và mức giá cho thuê, thuê mua nhà ở xã hội không được cao hơn mức giá do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành trên địa bàn.

3. Đơn vị quản lý vận hành và khai thác quỹ nhà ở xã hội được hưởng các chế độ như đối với các đơn vị hoạt động dịch vụ công ích theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.

Điều 24. Đối tượng được thuê, thuê mua nhà ở xã hội

1. Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.

2. Sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp thuộc lực lư­ợng vũ trang nhân dân hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

3. Công nhân làm việc tại các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao.

4. Các đối tượng đã trả lại nhà ở công vụ quy định tại khoản 4 Điều 40 Nghị định này.

Điều 25. Điều kiện được thuê, thuê mua nhà ở xã hội

Người được thuê, thuê mua nhà ở xã hội phải đảm bảo các điều kiện sau đây:

1. Thuộc đối t­ượng quy định tại Điều 24 Nghị định này.

2. Chư­a có sở hữu nhà ở và chư­a đư­ợc thuê hoặc thuê mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước; có nhà ở thuộc sở hữu của mình nhưng diện tích bình quân trong hộ gia đình dư­ới 5m2 sàn/ngư­ời; có nhà ở thuộc sở hữu của mình nhưng là nhà ở tạm, hư hỏng hoặc dột nát.

3. Có mức thu nhập bình quân hàng tháng của hộ gia đình không vư­ợt quá 5 lần tổng số tiền thuê nhà ở xã hội phải trả hàng tháng đối với căn hộ có diện tích tối đa là 60 m2 sàn và không thấp hơn 4 lần số tiền thuê phải trả đối với căn hộ có diện tích tối thiểu là 30 m2 sàn, tính theo mức giá thuê do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định.

4. Người được thuê mua quỹ nhà ở xã hội ngoài các điều kiện quy định tại khoản 1, 2 và khoản 3 Điều này còn phải thanh toán lần đầu 20% giá trị của nhà ở được thuê mua.

5. Việc lựa chọn các đối tượng được thuê, thuê mua nhà ở xã hội được thực hiện theo thứ tự ưu tiên sau đây:

a) Nhu cầu bức thiết về nhà ở (chưa có nhà ở, mới lập gia đình, diện tích nhà ở bình quân quá thấp);

b) Các đối tượng được hưởng lương từ ngân sách nhà nước, cán bộ trẻ tốt nghiệp đại học trở lên, công nhân có tay nghề từ bậc 5 trở lên chưa được Nhà nước hỗ trợ về nhà ở dưới mọi hình thức;

c) Cán bộ, công chức thuộc diện được hưởng chính sách nhà ở công vụ nhưng đã trả lại nhà ở công vụ cho Nhà nước mà có nhu cầu thuê, thuê mua nhà ở xã hội trên địa bàn.

6. Căn cứ quy định tại khoản 1, 2, 3, 4 và khoản 5 Điều này và điều kiện của từng địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể và công bố công khai về đối tượng và điều kiện được thuê, thuê mua quỹ nhà ở xã hội trên phạm vi địa bàn trong từng thời kỳ và từng dự án cụ thể.

Điều 26. Xác định đối tư­ợng được thuê, thuê mua nhà ở xã hội

1. Ng­ười có nhu cầu thuê, thuê mua nhà ở xã hội phải làm đơn, có ý kiến của cơ quan, đơn vị nơi mình đang làm việc xác nhận về đối tượng và điều kiện nhà ở hiện có của người xin thuê, thuê mua nhà ở. Đối với hộ gia đình thì phải có xác nhận của tất cả các cơ quan, đơn vị của từng thành viên đã có việc làm trong hộ gia đình đó và xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đang sinh sống. Đơn đề nghị thuê, thuê mua nhà ở xã hội nộp tại cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh.

2. Cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh có trách nhiệm đối chiếu với các quy định tại Điều 24 và Điều 25 Nghị định này và quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để kiến nghị danh sách cụ thể trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định.

3. Căn cứ vào quỹ nhà ở xã hội của địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt danh sách những người được thuê, thuê mua nhà ở xã hội.

4. Cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh có trách nhiệm thông báo cho đơn vị được giao quản lý, vận hành quỹ nhà ở xã hội triển khai thực hiện việc bố trí và ký hợp đồng cho thuê, thuê mua nhà ở xã hội đối với các trường hợp đã được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể về trình tự, thủ tục xét duyệt và thứ tự ưu tiên đối với các đối tượng đề nghị thuê, thuê mua nhà ở xã hội phù hợp với tình hình và điều kiện cụ thể của từng địa phương.

Điều 27. Xác định giá cho thuê, thuê mua nhà ở xã hội

Giá cho thuê, thuê mua nhà ở xã hội được xác định theo các nguyên tắc sau đây:

1. Tính đủ chi phí đảm bảo thu hồi vốn đầu tư xây dựng, quản lý vận hành quỹ nhà ở xã hội.

2. Không tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất và các khoản ưu đãi về thuế theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.

3. Giá cho thuê, thuê mua nhà ở xã hội trên địa bàn do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định trên nguyên tắc đảm bảo phù hợp với khung giá thuê, thuê mua nhà ở xã hội quy định tại Phụ lục số 1 ban hành kèm theo Nghị định này, bao gồm:

a) Khung giá cho thuê nhà ở xã hội áp dụng đối với loại nhà ở thấp tầng tại khu vực nông thôn;

b) Khung giá thuê mua nhà ở xã hội áp dụng đối với loại nhà chung cư;

c) Khung giá thuê mua nhà ở xã hội;

d) Khung giá thuê nhà ở xã hội tại các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao.

4. Khung giá thuê, thuê mua nhà ở xã hội được xem xét, điều chỉnh 5 năm một lần.

Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính nghiên cứu trình Chính phủ xem xét, quyết định ban hành khung giá mới hoặc điều chỉnh khung giá phù hợp điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ.

Mục 4. PHÁT TRIỂN VÀ QUẢN LÝ QUỸ NHÀ Ở CÔNG VỤ

Điều 28. Chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở công vụ

1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định lựa chọn đơn vị làm chủ đầu t­ư các dự án phát triển nhà ở công vụ trên địa bàn.

2. Đơn vị được lựa chọn làm chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở công vụ quy định tại khoản 1 Điều này có trách nhiệm quản lý quá trình đầu tư xây dựng, đồng thời chịu trách nhiệm quản lý vận hành dự án sau khi kết thúc đầu tư xây dựng.

3. Đối với các dự án phát triển nhà ở công vụ theo yêu cầu đặc biệt, người có thẩm quyền quyết định đầu tư, quyết định lựa chọn chủ đầu tư dự án.

4. Chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở công vụ có trách nhiệm tổ chức lập và trình duyệt dự án theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 29 Nghị định này.

Điều 29. Lập, thẩm định và phê duyệt dự án phát triển nhà ở công vụ

1. Nội dung lập dự án phát triển nhà ở công vụ thực hiện theo quy định tại Điều 6 và Điều 7 Nghị định này.

2. Dự án phát triển nhà ở công vụ do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, phê duyệt. Đối với dự án phát triển nhà ở công vụ theo yêu cầu đặc biệt người có thẩm quyền quyết định đầu tư xem xét tổ chức thẩm định phê duyệt dự án.

3. Cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh chủ trì, phối hợp với Sở, Ban, ngành liên quan thẩm định các dự án phát triển nhà ở công vụ trên phạm vi địa bàn. Đối với dự án phát triển nhà ở công vụ theo yêu cầu đặc biệt, Bộ Xây dựng có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Bộ, ngành liên quan thẩm định.

Điều 30. Vốn đầu tư xây dựng nhà ở công vụ

1. Quỹ nhà ở công vụ bố trí cho cán bộ, công chức của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách của địa phương.

2. Quỹ nhà ở công vụ bố trí cho cán bộ, công chức của các cơ quan trung ương được sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách trung ương. Trên cơ sở nhu cầu nhà ở công vụ của các cơ quan trung ương trên địa bàn, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh lập kế hoạch vốn gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính tổng hợp, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

Đối với các dự án phát triển nhà ở công vụ theo yêu cầu đặc biệt thì người có thẩm quyền quyết định đầu tư lập kế hoạch vốn trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

Điều 31. Đất xây dựng nhà ở công vụ

1. Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền phải xác định quỹ đất để xây dựng nhà ở công vụ khi tổ chức lập, phê duyệt quy hoạch xây dựng đô thị, điểm dân cư nông thôn.

2. Miễn tiền sử dụng đất đối với diện tích đất được giao để thực hiện các dự án phát triển nhà ở công vụ.

Điều 32. Loại nhà và tiêu chuẩn diện tích nhà ở công vụ

1. Nhà ở công vụ có tiêu chuẩn diện tích, chất lượng và loại nhà phù hợp với các đối tượng sử dụng, đảm bảo cho cán bộ, công chức có điều kiện hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

2. Cán bộ, công chức đảm nhiệm các chức vụ lãnh đạo là Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng và tương đương trở lên thuộc đối tượng ở nhà công vụ sẽ được bố trí nhà ở biệt thự. Các đối tượng khác được bố trí nhà chung cư hoặc nhà ở thấp tầng đối với khu vực chưa phát triển nhà chung cư.

3. Căn hộ trong nhà chung cư xây dựng mới có diện tích sàn sử dụng không nhỏ hơn 45m2 và không lớn hơn 150 m2. Tiêu chuẩn diện tích nhà ở công vụ được điều chỉnh phù hợp với từng thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

4. Bộ Xây dựng quy định và hướng dẫn việc thiết kế nhà ở công vụ đảm bảo triển khai thống nhất trên phạm vi cả nước.

Điều 33. Thực hiện đầu tư xây dựng nhà ở công vụ

1. Thiết kế, dự toán, lựa chọn đơn vị tư vấn thiết kế, đơn vị xây dựng khi thực hiện các dự án phát triển nhà ở công vụ phải tuân thủ các quy định của pháp luật về xây dựng và pháp luật về quản lý và sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước.

2. Các đơn vị tư vấn thiết kế nhà ở công vụ phải áp dụng các quy định về tiêu chuẩn thiết kế, các giải pháp công nghệ thi công và sử dụng vật liệu hợp lý nhằm đảm bảo mục tiêu về tiến độ, chất lượng và hạ giá thành xây dựng.

Điều 34. Đối tượng được thuê nhà ở công vụ

1. Cán bộ lãnh đạo của Đảng, Nhà nước thuộc diện ở nhà công vụ trong thời gian đảm nhận chức vụ.

2. Cán bộ, công chức thuộc các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội được luân chuyển hoặc điều động có thời hạn theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền từ địa phương về trung ương, từ trung ương về địa phương hoặc từ địa phương này sang địa phương khác, nếu có nhu cầu thì được bố trí nhà ở công vụ trong thời gian thực hiện công vụ.

3. Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp thuộc lực lượng vũ trang nhân dân được điều động, phục vụ theo yêu cầu quốc phòng, an ninh.

Điều 35. Điều kiện được thuê nhà ở công vụ

Cán bộ, công chức thuộc các đối tượng quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 34 Nghị định này khi được bố trí thuê nhà ở công vụ phải là người chưa có nhà ở thuộc sở hữu của mình hoặc chưa được thuê nhà ở thuộc sở hữu nhà nước tại địa phương nơi đến công tác.

Điều 36. Giá thuê nhà ở công vụ

Giá cho thuê nhà ở công vụ được xác định theo nguyên tắc sau đây:

1. Tính đủ các chi phí cần thiết để bảo toàn vốn đầu tư­, đảm bảo thu hồi vốn đầu tư xây dựng, quản lý vận hành trong quá trình sử dụng, bảo trì nhà ở;

2. Không tính tiền sử dụng đất và các ưu đãi về thuế quy định tại khoản 2 Điều 27 Nghị định này;

3. Giá cho thuê nhà ở công vụ trên địa bàn do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định trên cơ sở khung giá quy định tại Phụ lục số 2 ban hành kèm theo Nghị định này;

4. Giá cho thuê nhà ở công vụ đư­ợc xem xét, điều chỉnh 5 (năm) năm một lần.

Giao Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính nghiên cứu trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, điều chỉnh khung giá cho thuê nhà ở công vụ phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ.

Điều 37. Sắp xếp, bố trí cho thuê nhà ở công vụ

1. Cán bộ, công chức thuộc diện được bố trí nhà ở công vụ phải có đơn đề nghị thuê nhà ở công vụ gửi cơ quan nơi mình đang công tác để lấy ý kiến xác nhận.

2. Cơ quan sử dụng cán bộ, công chức tập hợp đơn đề nghị thuê nhà ở công vụ của cán bộ, công chức của đơn vị mình kèm theo văn bản gửi Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đề nghị bố trí giải quyết nhà ở công vụ.

3. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sắp xếp, bố trí cho các đối tượng thuộc diện được thuê nhà ở công vụ của các cơ quan địa phương và cơ quan trung ương đóng trên địa bàn.

Điều 38. Thanh toán tiền thuê nhà ở công vụ

1. Cán bộ, công chức được bố trí thuê nhà ở công vụ phải trả tiền thuê nhà ở công vụ với mức trả tối đa không vượt quá 10% tiền lương và phụ cấp (nếu có). Trường hợp tiền thuê nhà ở công vụ vượt quá mức quy định nêu trên thì cơ quan sử dụng cán bộ, công chức có trách nhiệm thanh toán phần chênh lệch từ nguồn chi phí hoạt động thường xuyên của cơ quan, đơn vị.

2. Cán bộ, công chức được thuê nhà ở công vụ có trách nhiệm trực tiếp trả tiền thuê nhà ở công vụ cho cơ quan quản lý nhà ở công vụ. Trường hợp sau 3 tháng mà cán bộ, công chức không trả tiền thuê nhà thì cơ quan quản lý cán bộ, công chức có trách nhiệm khấu trừ tiền lương để trả cho cơ quan quản lý nhà ở công vụ.

Điều 39. Quản lý sử dụng nhà ở công vụ

1. Nhà ở công vụ chỉ sử dụng để cho thuê. Việc quản lý, bảo trì, cải tạo thực hiện theo quy định về quản lý, bảo trì, cải tạo quỹ nhà ở thuộc sở hữu nhà nước.

2. Cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh là cơ quan chuyên môn giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thống nhất quản lý sử dụng quỹ nhà ở công vụ trên địa bàn.

Bộ Xây dựng quy định và hướng dẫn việc quản lý sử dụng nhà ở công vụ.

Điều 40. Quyền và nghĩa vụ của người thuê nhà ở công vụ

1. Sử dụng nhà ở đúng mục đích và có trách nhiệm giữ gìn nhà ở và tài sản gắn liền; không được tự ý cải tạo, sửa chữa nhà ở công vụ.

2. Không được chuyển đổi hoặc cho thuê lại dưới bất kỳ hình thức nào và có nghĩa vụ trả lại nhà ở cho cơ quan quản lý khi không còn thuộc đối tượng được ở nhà công vụ trong thời hạn 3 tháng hoặc khi không còn nhu cầu thuê nhà ở công vụ.

3. Cán bộ, công chức được bố trí nhà ở công vụ phải trả tiền thuê nhà ở hàng tháng theo quy định tại Điều 38 Nghị định này. Việc chi trả các khoản chi phí phục vụ sinh hoạt khác thực hiện theo quy định của pháp luật.

4. Khi cán bộ, công chức phải trả lại nhà ở công vụ theo quy định tại Điều 61 của Luật Nhà ở mà có khó khăn về nhà ở thì cơ quan, tổ chức nơi người đó công tác phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi cán bộ, công chức có nhu cầu sinh sống bố trí cho họ được thuê hoặc thuê mua nhà ở xã hội hoặc hỗ trợ bằng hình thức khác để họ có nhà ở.

5. Được sử dụng nhà ở công vụ để ở cho bản thân, gia đình. Trường hợp cán bộ, công chức thuộc diện được bố trí nhà ở công vụ có nhu cầu mà chưa được thuê nhà ở công vụ thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phối hợp cùng với đơn vị có cán bộ xem xét, bố trí tạm cho họ ở nhà khách nếu có hoặc thuê nhà ở xã hội hoặc nhà ở thương mại trên địa bàn.

Điều 41. Trách nhiệm của đơn vị quản lý sử dụng nhà ở công vụ

1. Cho thuê đúng đối tượng và điều kiện theo quy định tại Điều 34 và Điều 35 Nghị định này.

2. Tập hợp và lưu giữ đầy đủ hồ sơ nhà ở công vụ.

3. Phối hợp với các cơ quan chức năng của địa phương trong việc đảm bảo an ninh trật tự đối với nhà ở công vụ. Các cơ quan chức năng về an ninh trật tự có trách nhiệm phối hợp theo yêu cầu của đơn vị quản lý nhà ở công vụ.

4. Thực hiện việc bảo trì nhà ở công vụ theo quy định của Luật Nhà ở và các quy định của pháp luật về xây dựng.

5. Thu tiền thuê nhà ở của cán bộ, công chức được bố trí thuê nhà ở công vụ.

6. Thu hồi nhà ở công vụ trong các trường hợp sau:

a) Khi cán bộ, công chức hết tiêu chuẩn được ở nhà công vụ;

b) Khi cán bộ, công chức chuyển công tác đến địa phương khác theo quy định tại khoản 2 Điều 34 Nghị định;

c) Khi cán bộ, công chức có nhu cầu trả lại nhà ở công vụ;

d) Khi cán bộ, công chức đang thuê nhà ở công vụ bị chết;

đ) Khi cán bộ công chức sử dụng nhà ở công vụ sai mục đích hoặc không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người ở nhà công vụ sau khi đã được thông báo mà không chấp hành.

7. Xem xét, kiến nghị với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sắp xếp, bố trí cho cán bộ, công chức sau khi trả lại nhà ở công vụ mà có khó khăn về chỗ ở được thuê hoặc thuê mua nhà ở xã hội trên phạm vi địa bàn.

Chương 3:

CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở

Điều 42. Các trường hợp được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

1. Tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật Nhà ở có nhà ở tạo lập hợp pháp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở.

2. Nhà ở tạo lập hợp pháp là nhà ở có giấy tờ chứng minh việc tạo lập theo quy định tại Điều 43 Nghị định này.

Điều 43. Giấy tờ về tạo lập nhà ở làm cơ sở để cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

1. Cá nhân trong nước có nhà ở được tạo lập từ trước ngày Luật Nhà ở có hiệu lực thi hành khi đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở phải có một trong những giấy tờ theo quy định sau:

a) Giấy phép xây dựng nhà ở đối với trường hợp phải xin giấy phép xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng;

b) Hợp đồng mua bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định tại Nghị định số 61/CP ngày 05 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ về mua bán và kinh doanh nhà ở hoặc giấy tờ về thanh lý, hoá giá nhà ở thuộc sở hữu nhà nước từ trước ngày 05 tháng 7 năm 1994;

c) Giấy tờ về giao, tặng nhà tình nghĩa, nhà tình thương, nhà đại đoàn kết;

d) Giấy tờ về sở hữu nhà ở do cơ quan có thẩm quyền cấp qua các thời kỳ mà nhà đất đó không thuộc diện Nhà nước xác lập sở hữu toàn dân theo quy định Nghị quyết số 23/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm 2003 của Quốc hội khoá XI "về nhà đất do Nhà nước đã quản lý, bố trí sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách về quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa trước ngày 01 tháng 7 năm 1991", Nghị quyết số 755/2005/NQ-UBTVQH11 ngày 02 tháng 4 năm 2005 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội "quy định việc giải quyết đối với một số trường hợp cụ thể về nhà đất trong quá trình thực hiện các chính sách quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa trước ngày 01 tháng 7 năm 1991";

đ) Giấy tờ về mua bán, nhận tặng cho, đổi, nhận thừa kế nhà ở đã có chứng nhận của công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân từ cấp xã trở lên; giấy tờ của Toà án hoặc cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền giải quyết cho được sở hữu nhà ở đã có hiệu lực pháp luật; trường hợp mua nhà ở của doanh nghiệp có chức năng kinh doanh nhà ở đầu tư xây dựng để bán thì phải có hợp đồng mua bán nhà ở đã được hai bên ký kết (không cần phải có chứng nhận của công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân các cấp);

e) Các trường hợp tạo lập nhà ở trên đất đã có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất được sử dụng vào mục đích làm đất ở theo quy định của pháp luật về đất đai;

g) Trường hợp người đề nghị cấp giấy chứng nhận có một trong những giấy tờ quy định tại các điểm a, b, c, d, đ và điểm e khoản này nhưng không đúng tên trong các giấy tờ đó thì phải có thêm giấy tờ về việc đã mua bán, nhận tặng cho, đổi, nhận thừa kế nhà ở được Ủy ban nhân dân cấp xã trở lên xác nhận hoặc trong đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về việc có nhà ở do mua, nhận tặng cho, đổi, nhận thừa kế nhà ở theo quy định của pháp luật;

h) Trường hợp người đề nghị cấp giấy chứng nhận không có một trong những giấy tờ quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e và điểm g khoản này thì phải có giấy tờ được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận về hiện trạng nhà ở, đất ở không có tranh chấp về quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở và nhà ở được xây dựng trước khi có quy hoạch xây dựng hoặc phải phù hợp quy hoạch đối với trường hợp xây dựng sau khi có quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, điểm dân cư nông thôn theo quy định của pháp luật về xây dựng.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể các loại giấy tờ về tạo lập nhà ở quy định tại khoản 1 Điều này cho phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.

2. Cá nhân trong nước có nhà ở được tạo lập từ ngày Luật Nhà ở có hiệu lực thi hành khi đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở phải có giấy tờ theo quy định sau:

a) Trường hợp nhà ở do xây dựng mới thì phải có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại điểm e khoản 1 Điều này. Trường hợp phải xin phép xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng thì phải có thêm giấy phép xây dựng;

b) Trường hợp nhà ở do mua, nhận tặng cho, đổi, nhận thừa kế hoặc thông qua hình thức khác theo quy định của pháp luật thì phải có văn bản về giao dịch đó theo quy định tại Điều 93 của Luật Nhà ở kèm theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở theo quy định của Luật Nhà ở hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở theo quy định Nghị định số 60/CP ngày 05 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ về quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở theo quy định tại Nghị định số 95/2005/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2005 của Chính phủ về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã có ghi nhận về nhà ở theo quy định của pháp luật về đất đai hoặc một trong những giấy tờ về tạo lập nhà ở quy định tại các điểm a, b, c, d, đ và điểm e khoản 1 Điều này của bên chuyển nhượng.

Trường hợp mua nhà ở của doanh nghiệp đầu tư xây dựng để bán thì phải có hợp đồng mua bán nhà ở do hai bên ký kết, một trong những giấy tờ về dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán (quyết định phê duyệt dự án hoặc quyết định đầu tư hoặc giấy chứng nhận đầu tư) và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Trường hợp mua nhà ở đang thuê thuộc sở hữu nhà nước có từ trước ngày Luật Nhà ở có hiệu lực thi hành thì phải có hợp đồng mua bán nhà ở theo quy định tại Nghị định số 61/CP ngày 05 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ về mua bán và kinh doanh nhà ở. Trường hợp thuê mua nhà ở xã hội thì phải có hợp đồng thuê mua nhà ở theo quy định Nghị định này.

3. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở phải có giấy tờ theo quy định sau:

a) Trường hợp đầu tư xây dựng nhà ở để cho thuê thì phải có Giấy chứng nhận đầu tư và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

b) Trường hợp mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế nhà ở hoặc được sở hữu nhà ở thông qua hình thức khác theo quy định của pháp luật thì phải có giấy tờ về giao dịch đó theo quy định tại Điều 93 của Luật Nhà ở kèm theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở theo quy định của Luật Nhà ở hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở theo quy định Nghị định số 60/CP ngày 05 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ về quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở theo quy định tại Nghị định số 95/2005/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2005 của Chính phủ về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã có ghi nhận về nhà ở theo quy định của pháp luật về đất đai của bên chuyển nhượng.

4. Tổ chức trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài khi đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở phải có Giấy tờ theo quy định sau:

a) Trường hợp đầu tư xây dựng nhà ở để cho thuê thì phải có một trong những giấy tờ về dự án nhà ở cho thuê (quyết định phê duyệt dự án hoặc quyết định đầu tư hoặc giấy chứng nhận đầu tư) và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

b) Trường hợp tổ chức trong nước mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế nhà ở hoặc được sở hữu nhà ở thông qua hình thức khác theo quy định của pháp luật thì phải có giấy tờ về giao dịch đó theo quy định tại Điều 93 của Luật Nhà ở kèm theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở theo quy định của Luật Nhà ở hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở theo quy định Nghị định số 60/CP ngày 05 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ về quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở theo quy định tại Nghị định số 95/2005/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2005 của Chính phủ về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã có ghi nhận về nhà ở theo quy định của pháp luật về đất đai của bên chuyển nhượng.

5. Các trường hợp chủ sở hữu nhà ở không đồng thời là chủ sử dụng đất ở khi đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở thì ngoài giấy tờ chứng minh về quyền sở hữu nhà ở theo quy định tại khoản 1, 2, 3 và khoản 4 Điều này, phải có thêm văn bản của chủ sử dụng đất đồng ý cho phép sử dụng đất xây dựng nhà ở đã được công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân từ cấp xã trở lên.

6. Tổ chức, cá nhân bị mất Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở khi đề nghị cấp lại thì phải có các giấy tờ sau:

a) Giấy tờ xác nhận về việc mất giấy chứng nhận của cơ quan công an cấp xã nơi mất giấy;

b) Các trường hợp mất giấy không phải do thiên tai, hoả hoạn thì phải có giấy tờ chứng minh đã đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng một lần đối với khu vực đô thị (mẩu tin trên báo hoặc giấy xác nhận của cơ quan đăng tin) hoặc giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân xã về việc đã niêm yết thông báo mất giấy tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã trong thời hạn 10 ngày làm việc đối với khu vực nông thôn.

7. Tổ chức, cá nhân có Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở bị hư hỏng, rách nát hoặc đã ghi hết trang xác nhận thay đổi, khi đề nghị cấp đổi phải có Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở cũ.

8. Tổ chức, cá nhân đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, trong quá trình sử dụng mà có sự thay đổi về diện tích, tầng cao, kết cấu chính của nhà ở; tách, nhập thửa đất đối với trường hợp được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở quy định tại điểm a khoản 1 Điều 11 của Luật Nhà ở so với những nội dung đã ghi trong giấy chứng nhận, khi đề nghị xác nhận thay đổi phải có Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở cũ và bản kê khai những nội dung thay đổi, trừ trường hợp trong đơn đề nghị xác nhận thay đổi đã có kê khai những nội dung thay đổi đó.

Điều 44. Nội dung và mẫu Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

1. Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 11 của Luật Nhà ở có 4 trang gồm những nội dung chính như sau:

a) Trang 1 gồm Quốc huy và tên của giấy chứng nhận "Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở";

b) Trang 2 gồm các nội dung về tên của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận; mã số giấy chứng nhận; tên chủ sở hữu nhà ở và sử dụng đất ở; thực trạng nhà ở, đất ở; ngày, tháng, năm, chức vụ người ký giấy chứng nhận và số hồ sơ gốc;

c) Trang 3 thể hiện nội dung về sơ đồ nhà ở, đất ở;

d) Trang 4 thể hiện nội dung ghi những thay đổi sau khi cấp giấy chứng nhận và những vấn đề cần lưu ý đối với chủ sở hữu nhà ở khi được cấp giấy chứng nhận.

Mẫu Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở quy định tại khoản này được quy định cụ thể trong Phụ lục số 3 ban hành kèm theo Nghị định này.

2. Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 11 của Luật Nhà ở có 4 trang gồm những nội dung chính như sau:

a) Trang 1 gồm Quốc huy và tên của giấy chứng nhận "Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở";

b) Trang 2 gồm các nội dung về tên của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận; mã số giấy chứng nhận; tên chủ sở hữu nhà ở; thực trạng nhà ở; nội dung về đất ở được sử dụng; ngày, tháng, năm, chức vụ người ký giấy chứng nhận và số hồ sơ gốc;

c) Trang 3 thể hiện nội dung về sơ đồ nhà ở;

d) Trang 4 thể hiện nội dung ghi những thay đổi sau khi cấp giấy chứng nhận và những vấn đề cần lưu ý đối với chủ sở hữu nhà ở khi được cấp giấy chứng nhận.

Mẫu Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở quy định tại khoản này được quy định cụ thể trong Phụ lục số 4 ban hành kèm theo Nghị định này.

3. Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở quy định tại khoản 1 Điều này và Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở quy định tại khoản 2 Điều này được gọi chung là Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở.

4. Bộ Xây dựng có trách nhiệm in ấn, phát hành Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở theo nội dung và mẫu giấy quy định tại Điều này để áp dụng thống nhất trong cả nước.

5. Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với nhà ở kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành được áp dụng thống nhất về mẫu Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở theo quy định của Điều này.

Điều 45. Quy định về cấp, xác nhận thay đổi trên Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

1. Thẩm quyền cấp mới, cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở (sau đây gọi chung là cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở) thực hiện theo quy định tại Điều 14 của Luật Nhà ở.

Căn cứ vào điều kiện cụ thể của địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được uỷ quyền cho Cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh thực hiện việc cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở cho các đối tượng thuộc thẩm quyền cấp giấy của mình. Trong trường hợp được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh uỷ quyền cấp giấy thì Giám đốc Cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh ký thừa uỷ quyền và đóng dấu của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

2. Thẩm quyền xác nhận thay đổi sau khi cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở quy định như sau:

a) Trường hợp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp thì Cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh xác nhận và đóng dấu của Cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh;

b) Trường hợp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp thì Phòng có chức năng quản lý nhà ở cấp huyện xác nhận và đóng dấu của Ủy ban nhân dân cấp huyện.

3. Việc ghi tên chủ sở hữu nhà ở trong Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở thực hiện theo quy định tại Điều 12 của Luật Nhà ở. Không ghi tên người đã chết trong giấy chứng nhận, trừ trường hợp chủ sở hữu nhà ở đã nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy chết trong thời hạn cấp giấy. Các trường hợp khác, khi lập hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận phải xác định người được thừa kế nhà ở đó theo quy định của pháp luật về dân sự để được ghi tên vào giấy chứng nhận.

4. Tổ chức, cá nhân bán, tặng cho một phần nhà ở thì tuỳ nhu cầu mà đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp giấy xác nhận thay đổi trên Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở đã được cấp hoặc cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở mới cho phần nhà đất còn lại.

5. Tổ chức, cá nhân mua, nhận thừa kế, được tặng cho nhà ở liền kề với nhà ở của mình thì tuỳ nhu cầu mà đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp giấy cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở riêng cho phần nhà ở nhận chuyển nhượng thêm hoặc cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở chung cho cả nhà ở đang có và nhà ở do nhận chuyển nhượng thêm.

6. Cơ quan cấp giấy chứng nhận, xác nhận thay đổi trên giấy chứng nhận có trách nhiệm cấp cho chủ sở hữu bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và sao 01 bản để lưu hồ sơ, trường hợp là Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở thì có trách nhiệm sao thêm 01 bản chuyển cho cơ quan quản lý đất đai cùng cấp để lưu.

Điều 46. Trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở đối với nhà ở được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở lần đầu (sau đây gọi tắt là cấp mới)

1. Tổ chức, cá nhân đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở có trách nhiệm lập hồ sơ đề nghị cấp giấy và nộp cho Cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh nếu là tổ chức, nộp cho Phòng có chức năng quản lý nhà ở cấp huyện nếu là cá nhân. Trường hợp là cá nhân trong nước ở khu vực nông thôn thì có thể nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân xã và trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Ủy ban nhân dân xã có trách nhiệm chuyển hồ sơ cho Phòng có chức năng quản lý nhà ở cấp huyện.

Trường hợp doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà ở để bán thì doanh nghiệp có trách nhiệm thay mặt bên mua nhà làm thủ tục để cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận cho người mua theo quy định của Điều này.

2. Hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở bao gồm:

a) Đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở (theo mẫu do Bộ Xây dựng hướng dẫn);

b) Bản sao giấy tờ về tạo lập nhà ở theo quy định tại Điều 43 Nghị định này. Đối với tổ chức trong nước đề nghị cấp giấy chứng nhận thì phải có thêm bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc bản sao Quyết định thành lập. Đối với nguời Việt Nam định cư ở nước ngoài đề nghị cấp giấy chứng nhận thì phải có thêm bản sao giấy tờ chứng minh thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam;

c) Bản vẽ sơ đồ nhà ở, đất ở đối với trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 11 của Luật Nhà ở, Bản vẽ sơ đồ nhà ở đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 11 của Luật Nhà ở, trừ trường hợp trong giấy tờ về tạo lập nhà ở quy định tại điểm b khoản này đã có bản vẽ sơ đồ và trên thực tế không có thay đổi.

Bản vẽ sơ đồ nhà ở, đất ở phải thể hiện được vị trí, hình dáng, kích thước, diện tích thửa đất; hình dáng, kích thước, diện tích mặt bằng các tầng nhà ở; vị trí nhà ở trên khuôn viên đất, tường chung, tường riêng. Riêng đối với căn hộ trong nhà chung cư thì thể hiện vị trí ngôi nhà, hình dáng, kích thước mặt bằng tầng có căn hộ và vị trí, hình dáng, kích thước, diện tích của căn hộ đề nghị cấp giấy.

Bản vẽ sơ đồ nhà ở, đất ở có thể do tổ chức, cá nhân đề nghị cấp giấy chứng nhận tự đo vẽ hoặc thuê tổ chức có tư cách pháp nhân về hoạt động xây dựng đo vẽ hoặc do cơ quan cấp giấy chứng nhận đo vẽ. Trường hợp tổ chức, cá nhân đề nghị cấp giấy tự đo vẽ thì bản vẽ sơ đồ phải có thẩm tra xác nhận của Cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh nếu là tổ chức, của Phòng có chức năng quản lý nhà ở cấp huyện nếu là cá nhân tại đô thị, của Ủy ban nhân dân xã nếu là cá nhân tại khu vực nông thôn. Đối với nhà ở xây dựng mới trong các dự án nhà ở, dự án khu đô thị mới thì sử dụng bản vẽ do chủ đầu tư cung cấp.

3. Cơ quan tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, đối chiếu các bản sao với giấy tờ gốc, nếu hồ sơ đã có đủ các giấy tờ theo quy định tại khoản 2 Điều này thì phải viết giấy biên nhận cho người đề nghị cấp giấy, trong đó ghi rõ thời gian giao trả giấy chứng nhận. Trường hợp bản vẽ sơ đồ nhà ở, đất ở do tổ chức, cá nhân tự đo vẽ mà chưa có thẩm tra xác nhận của cơ quan có thẩm quyền quy định tại điểm c khoản 2 Điều này thì trong giấy biên nhận phải hẹn thời gian đến thẩm tra; thời gian hẹn thẩm tra không được quá 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ đề nghị cấp giấy và không tính vào thời hạn cấp giấy chứng nhận.

Trường hợp hồ sơ không đủ các giấy tờ theo quy định thì người tiếp nhận hồ sơ phải nêu rõ lý do và có trách nhiệm hướng dẫn cụ thể ngay khi nhận hồ sơ để người đề nghị cấp giấy biết, bổ sung hồ sơ.

4. Tổ chức, cá nhân đề nghị cấp giấy có trách nhiệm nộp ngay lệ phí cấp giấy cho cơ quan tiếp nhận hồ sơ khi nộp hồ sơ. Lệ phí cấp giấy được hoàn trả lại cho các trường hợp không được cấp giấy, trừ trường hợp người đề nghị cấp giấy kê khai hồ sơ không đúng sự thật hoặc không thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

5. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh, Phòng có chức năng quản lý nhà ở cấp huyện có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, thể hiện các nội dung trên giấy chứng nhận, trình cơ quan có thẩm quyền ký giấy chứng nhận, thông báo cho người đề nghị cấp giấy chứng nhận nộp các khoản nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật, vào sổ đăng ký quyền sở hữu nhà ở và giao trả giấy chứng nhận cho người đề nghị cấp giấy, đồng thời có trách nhiệm sao 01 bản giấy chứng nhận chuyển cho cơ quan quản lý đất đai cùng cấp để lưu theo quy định tại khoản 6 Điều 45 Nghị định này.

Người đề nghị cấp giấy có trách nhiệm nộp các khoản nghĩa vụ tài chính đã được thông báo để được nhận Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở.

6. Chủ sở hữu nhà ở nhận Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở tại cơ quan đã tiếp nhận hồ sơ, trường hợp người khác nhận thay thì phải có giấy uỷ quyền của chủ sở hữu nhà ở có chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã. Khi nhận giấy chứng nhận, chủ sở hữu phải nộp biên lai thu các khoản nghĩa vụ tài chính đã được thông báo, các giấy tờ gốc về tạo lập nhà ở mà trong hồ sơ là bản sao cho cơ quan giao trả giấy để lưu hồ sơ (trừ quyết định phê duyệt dự án phát triển nhà ở; Giấy chứng nhận đầu tư; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với trường hợp được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở quy định tại điểm b khoản 1 Điều 11 của Luật Nhà ở); chủ sở hữu hoặc người được ủy quyền nhận giấy phải ký nhận vào sổ đăng ký quyền sở hữu nhà ở.

Trường hợp Ủy ban nhân dân xã giao trả Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở thì Ủy ban nhân dân xã có trách nhiệm thu các giấy tờ quy định tại khoản này và trong thời hạn 15 ngày làm việc, phải nộp cho cơ quan quản lý nhà ở cấp huyện để đưa vào hồ sơ lưu trữ.

Điều 47. Trình tự, thủ tục cấp lại, cấp đổi, xác nhận thay đổi Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

1. Tổ chức, cá nhân đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở mà trong quá trình sử dụng, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở bị mất, bị hư hỏng, rách nát, hết trang ghi thay đổi hoặc nhà ở, đất ở có thay đổi về diện tích, tầng cao, kết cấu chính có trách nhiệm lập hồ sơ đề nghị cấp lại, cấp đổi hoặc xác nhận thay đổi nộp cho Cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh nếu là tổ chức, nộp cho Phòng có chức năng quản lý nhà ở cấp huyện nếu là cá nhân.

2. Hồ sơ đề nghị cấp lại, cấp đổi, xác nhận thay đổi bao gồm:

a) Đơn đề nghị cấp lại, cấp đổi, xác nhận thay đổi Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở (theo mẫu do Bộ Xây dựng hướng dẫn);

b) Giấy tờ liên quan đến việc cấp lại, cấp đổi, xác nhận thay đổi quy định tại Điều 43 Nghị định này.

3. Cơ quan tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, nếu hồ sơ đã có đủ các giấy tờ theo quy định tại khoản 2 Điều này thì phải viết giấy biên nhận cho người đề nghị cấp lại, cấp đổi, xác nhận thay đổi giấy chứng nhận, trong đó ghi rõ thời gian giao trả giấy chứng nhận. Trường hợp xác nhận thay đổi thì trong giấy chứng nhận phải hẹn thời gian đến thẩm tra; thời gian hẹn thẩm tra không được quá 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ đề nghị cấp giấy và không tính vào thời hạn xác nhận thay đổi trên giấy chứng nhận.

Trường hợp hồ sơ không đủ các giấy tờ theo quy định thì người tiếp nhận hồ sơ phải nêu rõ lý do và có trách nhiệm hướng dẫn cụ thể ngay khi nhận hồ sơ để người đề nghị cấp giấy, xác nhận thay đổi biết, bổ sung hồ sơ.

4. Tổ chức, cá nhân đề nghị cấp lại, cấp đổi, xác nhận thay đổi giấy chứng nhận có trách nhiệm nộp lệ phí cấp giấy, xác nhận thay đổi và được hoàn trả lệ phí đã nộp theo quy định tại khoản 4 Điều 46 Nghị định này.

5. Trong thời hạn 30 ngày đối với trường hợp cấp lại và 15 ngày đối với trường hợp cấp đổi và xin xác nhận thay đổi, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh, Phòng có chức năng quản lý nhà ở cấp huyện có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, thể hiện các nội dung trên giấy chứng nhận, trình cơ quan có thẩm quyền ký giấy chứng nhận, xác nhận thay đổi trên giấy chứng nhận, vào sổ đăng ký quyền sở hữu nhà ở và giao trả giấy chứng nhận cho người đề nghị cấp giấy, xác nhận thay đổi, đồng thời có trách nhiệm sao 01 bản giấy chứng nhận chuyển cho cơ quan quản lý đất đai cùng cấp để lưu theo quy định tại khoản 6 Điều 45 Nghị định này.

6. Người đề nghị cấp lại, cấp đổi, xác nhận thay đổi giấy chứng nhận nhận Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở tại cơ quan đã nộp hồ sơ và phải ký nhận vào sổ đăng ký quyền sở hữu nhà ở.

Điều 48. Trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở đối với các trường hợp chuyển nhượng nhà ở đã có Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

1. Tổ chức, cá nhân mua, thuê mua, được tặng cho, đổi, được thừa kế nhà ở mà bên chuyển nhượng đã có Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở có trách nhiệm lập hồ sơ đề nghị cấp giấy nộp cho Cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh nếu là tổ chức, nộp cho Phòng có chức năng quản lý nhà ở cấp huyện nếu là cá nhân. Trường hợp là cá nhân trong nước ở khu vực nông thôn thì có thể nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân xã và trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Ủy ban nhân dân xã có trách nhiệm chuyển hồ sơ cho Phòng có chức năng quản lý nhà ở cấp huyện.

2. Hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở bao gồm:

a) Đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở (theo mẫu do Bộ Xây dựng hướng dẫn);

b) Hợp đồng (văn bản) mua bán, thuê mua, tặng cho, đổi, thừa kế nhà ở theo quy định tại Điều 93 của Luật Nhà ở kèm theo bản sao Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở của bên chuyển nhượng. Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài đề nghị cấp giấy chứng nhận thì phải có thêm bản sao giấy tờ chứng minh thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

c) Trường hợp chuyển nhượng một phần nhà ở trong giấy chứng nhận đã được cấp thì phải có bản vẽ sơ đồ nhà ở theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 46 Nghị định này.

3. Cơ quan tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, đối chiếu các bản sao với giấy tờ gốc, nếu hồ sơ đã có đủ các giấy tờ theo quy định tại khoản 2 Điều này thì phải viết giấy biên nhận cho người đề nghị cấp giấy, trong đó ghi rõ thời gian giao trả giấy chứng nhận. Trường hợp chỉ chuyển nhượng một phần nhà ở so với giấy chứng nhận đã được cấp mà bản vẽ sơ đồ nhà ở, đất ở chưa có thẩm tra xác nhận của cơ quan có thẩm quyền quy định tại điểm c khoản 2 Điều 46 Nghị định này thì trong giấy biên nhận phải hẹn thời gian đến thẩm tra; thời gian hẹn thẩm tra không được quá 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ đề nghị cấp giấy và không tính vào thời hạn cấp giấy chứng nhận.

Trường hợp hồ sơ không đủ các giấy tờ theo quy định thì người tiếp nhận hồ sơ phải nêu rõ lý do và có trách nhiệm hướng dẫn cụ thể ngay khi nhận hồ sơ để người đề nghị cấp giấy biết, bổ sung hồ sơ.

4. Tổ chức, cá nhân đề nghị cấp giấy có trách nhiệm nộp lệ phí cấp giấy và được hoàn trả lệ phí đã nộp theo quy định tại khoản 4 Điều 46 Nghị định này.

5. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh, Phòng có chức năng quản lý nhà ở cấp huyện có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, thể hiện các nội dung trên giấy chứng nhận, trình cơ quan có thẩm quyền ký giấy chứng nhận, thông báo cho người đề nghị cấp giấy chứng nhận nộp các nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật, vào sổ đăng ký quyền sở hữu nhà ở và giao trả giấy chứng nhận cho người đề nghị cấp giấy, đồng thời có trách nhiệm sao 1 bản giấy chứng nhận chuyển cho cơ quan quản lý đất đai cùng cấp để lưu theo quy định tại khoản 6 Điều 45 Nghị định này.

Người đề nghị cấp giấy có trách nhiệm nộp các khoản nghĩa vụ tài chính đã được thông báo để được nhận Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở.

6. Chủ sở hữu nhà ở nhận Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở tại cơ quan đã tiếp nhận hồ sơ, trường hợp người khác nhận thay thì phải có giấy uỷ quyền của chủ sở hữu nhà ở có chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã. Khi nhận giấy chứng nhận, chủ sở hữu phải nộp biên lai thu các khoản nghĩa vụ tài chính đã được thông báo và Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở của bên chuyển nhượng cho cơ quan giao trả giấy để lưu hồ sơ; chủ sở hữu hoặc người được ủy quyền nhận giấy phải ký nhận vào sổ đăng ký quyền sở hữu nhà ở.

Điều 49. Lệ phí cấp giấy, xác nhận thay đổi Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

Tổ chức, cá nhân đề nghị cấp giấy, xác nhận thay đổi Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở có trách nhiệm nộp lệ phí cấp giấy, xác nhận thay đổi trên Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở theo quy định sau:

1. Không quá 100.000 đồng/1 giấy đối với cá nhân, không quá 500.000 đồng/1 giấy đối với tổ chức đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở lần đầu đối với nhà ở và trường hợp nhận chuyển nhượng một phần của nhà ở đã có Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở.

2. Không quá 50.000 đồng/1 giấy đối với các trường hợp:

a) Nhà ở đã có Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, nay chủ sở hữu đề nghị cấp đổi, cấp lại, xác nhận thay đổi trên Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở đã được cấp;

b) Nhà ở đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở theo Nghị định số 60/CP ngày 05 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ về quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở theo quy định tại Nghị định số 95/2005/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2005 của Chính phủ về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai mà trong nội dung đã có ghi nhận về nhà ở, nay chủ sở hữu có nhu cầu cấp đổi, cấp lại theo mẫu Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở Nghị định này;

c) Các trường hợp nhận chuyển nhượng toàn bộ nhà ở mà đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở theo Luật Nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở theo Nghị định số 60/CP ngày 05 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ về quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở theo quy định tại Nghị định số 95/2005/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2005 của Chính phủ về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai mà trong nội dung đã có ghi nhận về nhà ở.

3. Căn cứ vào các mức lệ phí quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định các mức lệ phí cụ thể cho phù hợp điều kiện thực tế của địa phương.

Điều 50. Lệ phí trước bạ và các nghĩa vụ tài chính khác khi cấp giấy, xác nhận thay đổi Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

1. Tổ chức, cá nhân tạo lập nhà ở do nhận chuyển nhượng từ tổ chức, cá nhân khác có trách nhiệm nộp lệ phí trước bạ để được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, trừ trường hợp đã nộp hoặc được miễn theo quy định của pháp luật về lệ phí trước bạ.

2. Không thu lệ phí trước bạ đối với các trường hợp sau đây:

a) Tổ chức, cá nhân khi được cấp đổi, cấp lại, xác nhận thay đổi Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở;

b) Cá nhân tạo lập nhà ở thông qua hình thức phát triển nhà ở riêng lẻ của hộ gia đình, cá nhân.

3. Tổ chức, cá nhân đề nghị cấp giấy, xác nhận thay đổi Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở có trách nhiệm nộp các nghĩa vụ tài chính khác nếu pháp luật có quy định khi được công nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở, trừ trường hợp được miễn hoặc được ghi nợ.

Điều 51. Những trường hợp không được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

1. Nhà ở nằm trong khu vực cấm xây dựng hoặc lấn chiếm mốc giới bảo vệ các công trình hạ tầng kỹ thuật, di tích lịch sử, văn hoá đã được xếp hạng.

2. Nhà ở đã có quyết định hoặc thông báo giải toả, phá dỡ hoặc đã có quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

3. Nhà ở thuộc sở hữu nhà nước.

4. Nhà ở mà Chính phủ Việt Nam và Chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế có cam kết khác.

5. Trường hợp có tranh chấp, khiếu nại liên quan đến quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở mà chưa được giải quyết theo quy định của pháp luật.

6. Các trường hợp không thuộc diện được sở hữu nhà ở hoặc không đủ điều kiện cấp giấy Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở theo quy định của pháp luật về nhà ở.

Cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh, Phòng có chức năng quản lý nhà ở cấp huyện khi thụ lý hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở mà phát hiện trường hợp thuộc diện không được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở quy định tại Điều này thì phải có trách nhiệm thông báo bằng văn bản nêu rõ lý do không cấp giấy và trả lại hồ sơ cho đương sự trong thời hạn không quá 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ.

Chương 4:

NỘI DUNG QUẢN LÝ VIỆC SỬ DỤNG NHÀ Ở

Điều 52. Bảo hành nhà ở

1. Nhà ở phải được bảo hành sau khi hoàn thành việc xây dựng đưa vào sử dụng, trừ trường hợp nhà ở bị hư hỏng do thiên tai, địch họa hoặc do người sử dụng gây ra.

2. Thời gian bảo hành nhà ở thực hiện theo quy định tại Điều 74 của Luật Nhà ở.

3. Trường hợp tổ chức, cá nhân thi công xây dựng hoặc bán nhà ở không thực hiện nghĩa vụ việc bảo hành nhà ở thì chủ sở hữu có quyền khởi kiện ra toà án; trường hợp không thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ trong bảo hành nhà ở mà gây thiệt hại cho người khác thì phải bồi thường hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Điều 53. Bảo trì nhà ở

1. Chủ sở hữu có trách nhiệm thực hiện bảo trì nhà ở theo quy định của Luật Nhà ở và pháp luật về xây dựng, trừ trường hợp đã có thoả thuận khác giữa chủ sở hữu và người sử dụng. Đối với trường hợp chưa xác định được chủ sở hữu thì người đang sử dụng có trách nhiệm bảo trì nhà ở đó.

2. Đối với nhà ở tại đô thị và nhà chung cư mà người có trách nhiệm bảo trì không thực hiện việc bảo trì phần mặt ngoài và phần sở hữu chung theo quy định thì Ủy ban nhân dân phường có văn bản yêu cầu chủ sở hữu thực hiện việc bảo trì. Sau 30 ngày, kể từ ngày Ủy ban nhân dân phường có văn bản yêu cầu mà chủ sở hữu không thực hiện thì Ủy ban nhân dân phường tổ chức thực hiện việc bảo trì và chủ sở hữu có trách nhiệm thanh toán toàn bộ chi phí cho việc tổ chức thực hiện bảo trì đó.

3. Người có trách nhiệm không thực hiện việc bảo trì nhà ở mà gây thiệt hại cho người khác thì phải bồi thường hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Điều 54. Kinh phí bảo trì phần sở hữu chung nhà chung cư của nhiều chủ sở hữu

1. Đối với nhà chung cư được bán kể từ ngày Luật Nhà ở có hiệu lực thi hành thì chủ đầu tư có trách nhiệm nộp các khoản kinh phí sau để phục vụ cho công tác bảo trì nhà chung cư:

a) Đối với diện tích nhà bán thì phải nộp 2% tiền bán. Khoản tiền này được tính vào tiền bán nhà mà người mua phải trả;

b) Đối với phần diện tích nhà mà chủ đầu tư giữ lại, không bán (không tính phần diện tích sử dụng chung) thì phải nộp 2% giá trị của phần diện tích đó. Phần giá trị này được tính theo giá bán căn hộ có giá cao nhất của chung cư đó.

Các khoản kinh phí này được trích trước thuế để nộp (Nhà nước không thu thuế đối với khoản kinh phí này).

2. Đối với nhà chung cư được bán từ trước ngày Luật Nhà ở có hiệu lực thi hành mà chủ đầu tư chưa thu 2% thì kinh phí bảo trì được phân bổ như sau:

a) Chủ đầu tư có phần diện tích giữ lại (không tính phần diện tích sử dụng chung) đóng góp chi phí bảo trì được phân bổ tương ứng với diện tích giữ lại;

b) Các chủ sở hữu căn hộ đóng góp 70% kinh phí bảo trì được phân bổ tương ứng với diện tích riêng. Ngân sách địa phương hỗ trợ 30% kinh phí còn lại cho các chủ sở hữu để thực hiện việc bảo trì.

3. Kinh phí bảo trì được gửi vào ngân hàng thương mại và do Ban quản trị nhà chung cư quản lý để phục vụ cho công tác bảo trì theo quy định của Quy chế quản lý nhà chung cư.

4. Trong trường hợp kinh phí thu được để bảo trì không đủ thì huy động từ đóng góp của các chủ sở hữu tương ứng với phần diện tích sở hữu riêng của từng chủ sở hữu. Trường hợp nhà chung cư phải phá dỡ mà kinh phí bảo trì theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này chưa sử dụng hết thì được sử dụng để hỗ trợ tái định cư khi xây dựng lại nhà chung cư hoặc đưa vào quỹ bảo trì nhà chung cư sau khi xây dựng lại.

Điều 55. Phá dỡ nhà ở đang cho thuê

1. Việc phá dỡ nhà ở đang cho thuê thực hiện theo quy định tại Điều 88 của Luật Nhà ở.

2. Trường hợp phải phá dỡ nhà ở khẩn cấp do bị hư hỏng nặng có nguy cơ sập đổ thì không phải thông báo bằng văn bản về việc phá dỡ.

3. Trường hợp phá dỡ để xây dựng lại nhà ở mà thời hạn thuê vẫn còn thì bên cho thuê có trách nhiệm bố trí cho bên thuê chỗ ở khác trong thời gian phá dỡ và xây dựng lại nhà ở, trừ trường hợp bên thuê thoả thuận tự lo chỗ ở.

Điều 56. Phá dỡ nhà chung cư của nhiều chủ sở hữu

1. Việc phá dỡ nhà chung cư của nhiều chủ sở hữu để xây dựng lại theo dự án phải bảo đảm được hai phần ba tổng số chủ sở hữu nhà chung cư đồng ý. Trường hợp nhà chung cư đã có từ hai phần ba tổng số chủ sở hữu đồng ý xây dựng lại thì thực hiện việc cưỡng chế di chuyển đối với các chủ sở hữu, người sử dụng không đồng ý theo quy định của pháp luật. Chi phí cho việc cưỡng chế phá dỡ do các chủ sở hữu nhà bị cưỡng chế đóng góp.

2. Nhà chung cư thuộc diện phá dỡ để xây dựng lại theo quy định tại khoản 1 Điều này thì các chủ sở hữu được tái định cư và được hưởng một số lợi ích theo quy định sau:

a) Được chủ đầu tư hỗ trợ kinh phí di chuyển; bố trí chỗ ở hoặc kinh phí để họ tự lo chỗ ở trong thời gian xây dựng lại;

b) Các chủ sở hữu có nhu cầu mua thêm diện tích nhà ở mới trong dự án xây dựng lại nhà chung cư theo giá kinh doanh thì được ưu tiên mua trước.

Chương 5:

MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỤ THỂ VỀ GIAO DỊCH VỀ NHÀ Ở

Điều 57. Mua bán nhà ở thuộc sở hữu chung nhưng có chủ sở hữu chung vắng mặt

1. Việc mua bán nhà ở thuộc sở hữu chung phải tuân thủ các quy định tại Điều 96 của Luật Nhà ở.

2. Trường hợp có chủ sở hữu chung vắng mặt và không xác định được nơi cư trú của người đó thì các chủ sở hữu chung còn lại phải có đơn yêu cầu tòa án tuyên bố người đó mất tích theo quy định của pháp luật trước khi thực hiện bán nhà ở đó.

Căn cứ vào giá bán nhà ở ghi trong hợp đồng mua bán nhà ở, các chủ sở hữu chung còn lại có trách nhiệm gửi tiền bán nhà tương ứng với phần giá trị quyền sở hữu nhà ở của người mất tích vào ngân hàng thương mại nơi có nhà ở được bán; khi người được tuyên bố đã mất tích trở về và có yêu cầu thì ngân hàng đã nhận tiền gửi có trách nhiệm thanh toán lại cho họ cả tiền gốc và tiền lãi theo quy định về lãi suất không kỳ hạn tại thời điểm người được tuyên bố mất tích nhận lại tiền.

3. Trường hợp người được tuyên bố mất tích chết hoặc bị toà án tuyên bố là đã chết thì phần tiền đã gửi vào ngân hàng nêu tại khoản 2 Điều này được chia cho những người thừa kế hợp pháp của họ theo quy định của pháp luật về dân sự.

Điều 58. Thuê mua nhà ở xã hội

1. Việc thuê mua nhà ở xã hội phải thực hiện thông qua hợp đồng được ký giữa đơn vị quản lý nhà ở xã hội và người thuê mua.

2. Sau khi trả tr­ước 20% giá trị nhà ở thuê mua, bên thuê mua đ­ược phép trả số tiền còn lại theo thời gian do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định, nhưng không thấp hơn 15 năm và không vư­ợt quá 20 năm.

3. Khi hết thời hạn thuê mua nhà ở theo quy định tại khoản 2 Điều này, đơn vị được giao quản lý nhà ở có trách nhiệm hoàn tất thủ tục kết thúc hợp đồng thuê mua và chuyển hồ sơ thuê mua nhà ở sang Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi có nhà ở thuê mua để cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở cho người thuê mua.

4. Đơn vị được giao quản lý nhà ở xã hội được quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng thuê mua nhà ở xã hội và thu hồi nhà ở đang cho thuê mua khi phát sinh một trong các trường hợp sau đây:

a) Người thuê mua không trả tiền thuê nhà liên tục trong ba tháng mà không có lý do chính đáng;

b) Người thuê mua tự ý sửa chữa, đục phá kết cấu, cải tạo hoặc cơi nới nhà ở thuê mua;

c) Người thuê mua tự ý bán nhà ở thuê mua hoặc chuyển quyền thuê cho người khác mà không được sự đồng ý của đơn vị quản lý nhà ở.

5. Các tranh chấp về hợp đồng thuê mua nhà ở được giải quyết thông qua hoà giải. Trong trường hợp hoà giải không thành thì các bên có quyền yêu cầu toà án nhân dân giải quyết theo quy định của pháp luật.

Điều 59. Đổi nhà ở

1. Giao dịch đổi nhà ở quy định tại Mục 6 Chương V của Luật Nhà ở chỉ được áp dụng trong trường hợp các bên đổi nhà ở và chuyển quyền sở hữu nhà ở cho nhau, không áp dụng đối với trường hợp đổi quyền sử dụng nhà ở.

2. Các bên đổi nhà ở có trách nhiệm thực hiện đúng trình tự, thủ tục đổi nhà ở và nộp đầy đủ các nghĩa vụ tài chính cho Nhà nước theo quy định. Mọi trường hợp chuyển đổi hình thức giao dịch từ hợp đồng đổi nhà ở sang hợp đồng mua bán nhà ở đều bị coi là vi phạm pháp luật và các bên không được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với nhà ở nhận đổi.

Điều 60. Thế chấp nhà ở

1. Việc thế chấp nhà ở phải thực hiện thông qua hợp đồng. Hợp đồng thế chấp phải thể hiện các nội dung quy định tại Điều 93 của Luật Nhà ở và tuân thủ các quy định tại Mục 8 Chương V của Luật Nhà ở.

2. Ngay sau khi ký kết hợp đồng thế chấp, bên nhận thế chấp có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh nơi có nhà ở nếu bên thế chấp là tổ chức, thông báo cho cơ quan quản lý nhà ở cấp huyện nếu bên thế chấp là cá nhân biết về việc thế chấp. Trong thông báo phải nêu rõ tên chủ sở hữu nhà ở, địa chỉ nhà ở thế chấp và thời gian thế chấp.

3. Sau khi bên thế chấp thanh toán đủ nghĩa vụ cho bên nhận thế chấp hoặc trường hợp nhà ở thế chấp được phát mại để thanh toán nghĩa vụ thế chấp thì bên nhận thế chấp phải có văn bản thông báo cho cơ quan quản lý nhà ở biết về việc đã giải chấp hoặc nhà ở thế chấp được xử lý phát mại.

4. Khi nhận được thông báo nêu tại khoản 2 và khoản 3 Điều này, cơ quan quản lý nhà ở phải vào sổ đăng ký quyền sở hữu nhà ở để theo dõi việc thế chấp. Trong trường hợp phát hiện chủ sở hữu đã dùng nhà ở để thế chấp tại một tổ chức tín dụng khác thì cơ quan quản lý nhà ở phải có văn bản thông báo ngay cho bên nhận thế chấp biết.

Điều 61. Giao dịch về nhà ở có người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia

1. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia các giao dịch về mua bán, tặng cho, thừa kế nhà ở tại Việt Nam phải thực hiện các quy định sau đây:

a) Thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam theo quy định tại Điều 126 và có đủ điều kiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Nhà ở;

b) Thực hiện việc mua bán, tặng cho, nhận thừa kế nhà ở theo đúng các quy định tại Chương V của Luật Nhà ở và quy định tại Nghị định này;

c) Những người không thuộc diện quy định tại Điều 126 của Luật Nhà ở hoặc những người thuộc diện quy định tại khoản 2 Điều 126 của Luật Nhà ở nhưng đang có sở hữu nhà ở tại Việt Nam nếu được tặng cho hoặc được thừa kế nhà ở thì chỉ được hưởng giá trị của nhà ở đó theo quy định tại Điều 68 Nghị định này.

2. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia ký kết hợp đồng thuê nhà ở tại Việt Nam phải thực hiện các quy định sau đây:

a) Phải có đủ điều kiện được thuê nhà ở tại Việt Nam theo quy định tại Điều 131 của Luật Nhà ở;

b) Hợp đồng thuê nhà ở phải được lập thành văn bản theo quy định tại Điều 93 của Luật Nhà ở;

c) Bên thuê nhà ở phải thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của người thuê theo quy định của Luật Nhà ở, Bộ luật Dân sự và quy định Nghị định này.

Điều 62. Hợp đồng về nhà ở

1. Các giao dịch về mua bán, thuê, thuê mua, tặng cho, đổi, thế chấp, cho mượn, cho ở nhờ, uỷ quyền quản lý nhà ở phải được ký kết bằng văn bản (gọi chung là hợp đồng về nhà ở); nội dung các hợp đồng này phải phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 93 của Luật Nhà ở và quy định của Bộ luật Dân sự. Trường hợp pháp nhân tặng cho nhà ở thì phải có văn bản tặng cho.

2. Hợp đồng mua bán nhà ở do đầu tư xây dựng mới ngoài các nội dung theo quy định tại khoản 1 Điều này còn phải thể hiện rõ nội dung về thời hạn bảo hành nhà ở, trách nhiệm của bên bán trong việc bảo hành nhà ở, thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở cho bên mua. Mẫu hợp đồng mua bán nhà ở được lập theo hướng dẫn tại Phụ lục số 5 ban hành kèm theo Nghị định này.

3. Hợp đồng thuê, thuê mua nhà ở xã hội được lập thành văn bản quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của các bên có liên quan và không phải công chứng, chứng thực.

Hợp đồng thuê nhà ở xã hội đư­ợc ký theo định kỳ nhưng tối đa không vượt quá 5 năm (60 tháng). Hết thời hạn, bên thuê được cơ quan có thẩm quyền xem xét gia hạn hợp đồng nếu thực hiện đầy đủ các quy định về thuê nhà trong quá trình thuê nhà và vẫn thuộc đối tượng, điều kiện được thuê nhà ở xã hội. Mẫu hợp đồng thuê nhà ở xã hội được lập theo hướng dẫn tại Phụ lục số 6 ban hành kèm theo Nghị định này, mẫu hợp đồng thuê mua nhà ở xã hội được lập theo hướng dẫn tại Phụ lục số 7 ban hành kèm theo Nghị định này.

4. Hợp đồng thuê nhà ở công vụ được lập thành văn bản quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của các bên có liên quan và không phải công chứng, chứng thực.

Hợp đồng thuê nhà ở công vụ đư­ợc ký tối đa không vượt quá thời gian người thuê đảm nhận chức vụ công tác theo quyết định điều động hoặc luân chuyển cán bộ. Trường hợp hết thời hạn thuê nhưng bên thuê nhà vẫn đủ tiêu chuẩn về đối tượng, diện tích thuê nhà ở công vụ theo quy định của Luật Nhà ở, Nghị định này và trả đầy đủ tiền thuê nhà thì đơn vị quản lý nhà ở công vụ tiếp tục gia hạn hợp đồng thuê đến thời điểm người thuê chuyển nơi khác hoặc nghỉ công tác hoặc hết tiêu chuẩn được thuê nhà ở công vụ đó. Mẫu hợp đồng thuê nhà ở công vụ được lập theo quy định tại Phụ lục số 8 ban hành kèm theo Nghị định này.

5. Các hợp đồng thuê nhà ở khác phải được lập thành văn bản quy định cụ thể các quyền và nghĩa vụ của hai bên theo quy định của Luật Nhà ở và Bộ luật Dân sự. Trường hợp cá nhân cho thuê nhà ở dưới sáu tháng hoặc bên cho thuê là tổ chức có chức năng kinh doanh nhà ở thì hợp đồng thuê nhà ở không phải công chứng, chứng thực. Mẫu hợp đồng thuê nhà ở được lập theo hướng dẫn tại Phụ lục số 9 ban hành kèm theo Nghị định này.

6. Các hợp đồng đổi, tặng cho, thế chấp, cho mượn, cho ở nhờ, uỷ quyền quản lý nhà ở được thực hiện theo quy định của Luật Nhà ở và Bộ luật Dân sự.

Điều 63. Thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở đối với các giao dịch về mua bán, tặng cho, đổi, thuê mua, thừa kế nhà ở

1. Thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở đối với trường hợp mua bán nhà ở tính từ ngày hợp đồng mua bán nhà ở được công chứng hoặc chứng thực. Trường hợp mua bán nhà ở mà một bên là tổ chức có chức năng kinh doanh nhà ở thì thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở là thời điểm bên bán bàn giao nhà ở cho bên mua theo thoả thuận trong hợp đồng.

2. Thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở đối với trường hợp tặng cho nhà ở tính từ ngày hợp đồng tặng cho nhà ở được công chứng hoặc chứng thực. Trường hợp pháp nhân tặng cho nhà ở thì thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở cho bên được tặng cho được tính từ ngày bên tặng cho ký văn bản tặng cho.

3. Thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở đối với trường hợp đổi nhà ở được tính từ ngày hợp đồng đổi nhà ở được công chứng, chứng thực. Trường hợp hai bên đổi nhà ở là tổ chức có chức năng kinh doanh bất động sản nhà ở thì thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với nhà ở nhận đổi là thời điểm bàn giao nhà ở theo thỏa thuận trong hợp đồng đổi nhà ở.

4. Thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở đối với trường hợp thuê mua nhà ở tính từ thời điểm kết thúc thời hạn thuê mua nhà ở và bên thuê mua đã thanh toán đủ tiền thuê hàng tháng theo quy định tại khoản 2 Điều 58 Nghị định này.

5. Thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở đối với trường hợp thừa kế nhà ở tính từ thời điểm mở thừa kế. Việc xác định tổ chức, cá nhân thừa kế nhà ở được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự.

Chương 6:

NHÀ Ở TẠI VIỆT NAM CỦA NGƯỜI VIỆT NAM ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI, TỔ CHỨC, CÁ NHÂN NƯỚC NGOÀI

Điều 64. Sở hữu nhà ở tại Việt Nam của người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài

Sở hữu nhà ở tại Việt Nam của người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài được thực hiện theo quy định tại Mục 1 Chương VI của Luật Nhà ở và các quy định Nghị định này.

Điều 65. Sở hữu nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài

1. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam hoặc người gốc Việt Nam cư trú, làm ăn sinh sống lâu dài ở nước ngoài theo quy định của Luật Quốc tịch Việt Nam ngày 20 tháng 5 năm 1998 (có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 1999).

2. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam thông qua một trong các hình thức sau:

a) Đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc cho thuê;

b) Mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế nhà ở.

3. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư xây dựng nhà ở để cho thuê thì được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở đối với nhà ở đó. Thời hạn được sở hữu nhà ở là thời hạn quy định trong Giấy chứng nhận đầu tư và được ghi rõ trong Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở.

Trường hợp đầu tư xây dựng nhà ở để bán thì Nhà nước không cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở cho chủ đầu tư. Sau khi hoàn thành việc xây dựng theo dự án, chủ đầu tư được quyền bán nhà ở này cho tổ chức, cá nhân trong nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam theo quy định của Luật Nhà ở và Nghị định này. Chủ đầu tư có trách nhiệm thay mặt người mua nhà làm thủ tục theo quy định tại Chương III Nghị định này để cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở cho người mua nhà.

Chủ đầu tư xây dựng nhà ở để bán, cho thuê có trách nhiệm nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật.

4. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các đối tượng sau đây thì được mua, nhận tặng cho, đổi, nhận thừa kế nhà ở như người Việt Nam ở trong nước (không hạn chế về số lượng nhà ở được sở hữu):

a) Người Việt Nam định cư ở nước ngoài về đầu tư lâu dài tại Việt Nam là người trực tiếp hoạt động đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư, được cấp Giấy chứng nhận đầu tư;

b) Người Việt Nam định cư ở nước ngoài có công đóng góp với đất nước bao gồm: người được hưởng chế độ ưu đãi theo quy định của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng ngày 29 tháng 6 năm 2005; người có thành tích đóng góp trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước được Chủ tịch nước, Chính phủ tặng Huân chương, Huy chương; được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen; được Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan quản lý ngành ở Trung ương tặng Kỷ niệm chương vì sự nghiệp của ngành đó; người tham gia vào Ban Chấp hành của các tổ chức chính trị - xã hội của Việt Nam từ cấp tỉnh trở lên được các tổ chức chính trị - xã hội đó xác nhận; người được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Hội, người là nòng cốt trong các phong trào, tổ chức của kiều bào có quan hệ với trong nước thông qua Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài và người có những đóng góp và giúp đỡ tích cực cho các cơ quan đại diện hoặc các hoạt động đối ngoại của Việt Nam ở nước ngoài xác nhận;

c) Nhà hoạt động văn hoá, nhà khoa học có nhu cầu về hoạt động thường xuyên tại Việt Nam nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước bao gồm: nhà văn hoá, nhà khoa học được phong học hàm, học vị về khoa học, giáo dục, văn hoá nghệ thuật của Việt Nam hoặc của nước ngoài; chuyên gia trong lĩnh vực kinh tế - xã hội. Các đối tượng nêu tại điểm này phải được lãnh đạo Đảng, Nhà nước hoặc Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh mời về Việt Nam làm chuyên gia, cộng tác viên khoa học, giáo dục, văn hoá nghệ thuật, có xác nhận của lãnh đạo cơ quan mời;

d) Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được phép về sống ổn định tại Việt Nam là người có đơn đề nghị về sinh sống ổn định tại Việt Nam, được cấp có thẩm quyền của cơ quan Đại diện ngoại giao Việt Nam chấp thuận.

5. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc diện quy định tại khoản 4 Điều này mà đã về Việt Nam cư trú với thời hạn được phép từ sáu tháng trở lên trong cùng thời gian cư trú tại Việt Nam được sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ.

Bộ Ngoại giao phối hợp với Bộ Công an hướng dẫn cụ thể việc xác định thời hạn cư trú tại Việt Nam của người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Khi cấp visa, bảo đảm để người có nguyện vọng được mua nhà theo quy định tại khoản này.

6. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam hoặc được sở hữu hạn chế về số lượng nhà ở tại Việt Nam quy định tại điểm c khoản 1 Điều 61 Nghị định này, nếu được tặng cho, được thừa kế nhà ở thì chỉ được hưởng giá trị của nhà ở đó theo quy định tại Điều 68 Nghị định này.

7. Trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài thực hiện theo quy định tại Chương III Nghị định này.

Bộ Ngoại giao hướng dẫn cụ thể về giấy tờ, trình tự thủ tục xác nhận đối tượng là người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

Điều 66. Sở hữu nhà ở của tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam

1. Tổ chức, cá nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam thông qua hình thức đầu tư xây dựng nhà ở để cho thuê.

2. Tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư xây dựng nhà ở để cho thuê thì được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở đối với nhà ở đó. Thời hạn được sở hữu nhà ở là thời hạn quy định trong Giấy chứng nhận đầu tư và được ghi rõ trong Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở.

Trường hợp đầu tư xây dựng nhà ở để bán thì Nhà nước không cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở cho chủ đầu tư. Sau khi hoàn thành việc xây dựng theo dự án, chủ đầu tư được quyền bán nhà ở này cho tổ chức, cá nhân trong nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam theo quy định của Luật Nhà ở và Nghị định này. Chủ đầu tư có trách nhiệm thay mặt người mua nhà làm thủ tục theo quy định tại Chương III Nghị định này để cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở cho người mua nhà.

Chủ đầu tư xây dựng nhà ở để bán, cho thuê có trách nhiệm nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật.

3. Tổ chức, cá nhân nước ngoài nếu được tặng cho, được thừa kế nhà ở thì chỉ được hưởng giá trị của nhà ở đó theo quy định tại Điều 68 Nghị định này.

4. Trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở cho tổ chức, cá nhân nước ngoài thực hiện theo quy định tại Chương III Nghị định này.

Điều 67. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài thuê nhà ở tại Việt Nam

1. Đối tượng và điều kiện được thuê nhà ở bao gồm:

a) Tổ chức, cá nhân nước ngoài được phép vào Việt Nam có thời hạn từ ba tháng liên tục trở lên;

b) Người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang ở Việt Nam có nhu cầu thuê nhà ở.

2. Trình tự, thủ tục thuê nhà ở, quyền và nghĩa vụ của bên thuê nhà ở thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 61 Nghị định này.

Điều 68. Trường hợp khi được tặng cho, thừa kế nhà ở chỉ được hưởng giá trị của nhà ở

1. Tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi được tặng cho, thừa kế nhà ở tại Việt Nam không được sở hữu mà chỉ được hưởng giá trị của nhà ở đó, bao gồm:

a) Tổ chức, cá nhân nước ngoài;

b) Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được phép về Việt Nam cư trú có thời hạn dưới 6 tháng;

c) Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc diện chỉ được sở hữu một nhà ở và hiện đang có sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

2. Tổ chức, cá nhân được tặng cho, được thừa kế nhà ở quy định tại khoản 1 Điều này được quyền trực tiếp bán hoặc uỷ quyền cho tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật về dân sự khi đã có các giấy tờ sau:

a) Giấy tờ về tặng cho, thừa kế nhà ở theo quy định tại Điều 93 của Luật Nhà ở;

b) Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở theo quy định của Luật Nhà ở hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở theo quy định Nghị định số 60/CP ngày 05 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ về quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở theo quy định tại Nghị định số 95/2005/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2005 của Chính phủ về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp theo quy định của pháp luật về đất đai mà trong nội dung đã có ghi nhận về nhà ở của bên tặng cho, bên để thừa kế;

c) Trường hợp ủy quyền cho tổ chức, cá nhân bán thì phải có giấy uỷ quyền theo quy định của pháp luật.

3. Trường hợp người được tặng cho, thừa kế nhà ở chuyển tiền bán nhà ở ra nước ngoài thì phải chấp hành các quy định của pháp luật Việt Nam về chuyển tiền ra nước ngoài.

Chương 7

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ NHÀ Ở

Điều 69. Xây dựng định hướng phát triển nhà ở quốc gia

1. Căn cứ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước từng thời kỳ, Thủ tướng Chính phủ ban hành định hướng phát triển nhà ở quốc gia cho từng giai đoạn 10 năm làm cơ sở cho việc nghiên cứu, hoạch định chính sách về nhà ở và làm căn cứ cho các địa phương xây dựng chương trình phát triển nhà ở.

2. Định hướng phát triển nhà ở quốc gia bao gồm những nội dung chính sau:

a) Khái quát hiện trạng nhà ở toàn quốc;

b) Phân tích, đánh giá kết quả, tồn tại, nguyên nhân công tác phát triển nhà ở;

c) Xác định rõ quan điểm, mục tiêu, nhu cầu phát triển nhà ở trong giai đoạn tới, trong đó xác định rõ các chương trình trọng điểm, các quan điểm, mục tiêu, yêu cầu, các chỉ tiêu cơ bản về phát triển nhà ở thương mại, nhà ở xã hội, nhà ở công vụ, nhà ở cho các đối tượng chính sách xã hội;

d) Xác định rõ các giải pháp thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu phát triển nhà ở, bao gồm các cơ chế chính sách về quy hoạch, đất đai, hạ tầng kỹ thuật, tài chính, tín dụng và biện pháp tổ chức triển khai thực hiện.

3. Căn cứ chiến lược phát triển kinh tế xã hội, định hướng phát triển nhà ở, Thủ tướng Chính phủ ban hành các chương trình phát triển nhà ở trọng điểm để giải quyết nhà ở cho các đối tượng có khó khăn về nhà ở theo các vùng, miền.

4. Các chỉ tiêu cơ bản về phát triển nhà ở trong định hướng, chương trình phát triển nhà ở quốc gia phải được đưa vào nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn. Trong quá trình triển khai thực hiện phải sơ kết đánh giá, rà soát, sửa đổi, điều chỉnh, bổ sung kịp thời định hướng, chương trình đã đề ra cho phù hợp thực tế.

Kết thúc kỳ thực hiện phải có tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện.

Điều 70. Xây dựng chương trình phát triển nhà ở của các địa phương

1. Trên cơ sở định hướng, chương trình phát triển nhà ở quốc gia đã được Thủ tướng Chính phủ ban hành, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, các cơ chế, chính sách về phát triển và quản lý nhà ở hiện hành của Trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải xây dựng chương trình phát triển nhà ở cho từng giai đoạn 5 năm hoặc dài hơn trên địa bàn trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua trước khi ban hành.

2. Chương trình phát triển nhà ở của địa phương bao gồm những nội dung chính sau:

a) Khái quát hiện trạng nhà ở của địa phương;

b) Phân tích, đánh giá kết quả, tồn tại, nguyên nhân công tác phát triển nhà ở;

c) Xác định rõ quan điểm, mục tiêu, nhu cầu, các chỉ tiêu cơ bản về phát triển nhà ở thương mại, nhà ở xã hội, nhà ở công vụ trên địa bàn, trong đó phải xây dựng kế hoạch phát triển nhà ở cụ thể giải quyết chỗ ở cho các đối tượng thuộc diện giải phóng mặt bằng; công nhân làm việc trong các khu chế xuất, khu kinh tế, khu công nghiệp, khu công nghệ cao; các đối tượng đang sinh sống tại các vùng thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thiên tai, các nhà chung cư xuống cấp nguy hiểm, các khu nhà ở có hạ tầng kỹ thuật xuống cấp không đáp ứng yêu cầu; các hộ gia đình dân tộc thiểu số nghèo tại khu vực nông thôn, miền núi, các đối tượng là người có công với cách mạng đang có khó khăn về nhà ở;

d) Xác định rõ các giải pháp thực hiện chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở về quy hoạch sử dụng đất cho phát triển nhà ở; cơ chế, chính sách về đất đai, hạ tầng kỹ thuật, tài chính, tín dụng, chính sách ưu đãi để kêu gọi đầu tư; danh mục dự kiến các dự án phát triển nhà ở; tiến độ thực hiện; nhiệm vụ và trách nhiệm cụ thể của các Sở, Ban, ngành, các cấp chính quyền trong quá trình triển khai thực hiện.

3. Các chỉ tiêu cơ bản về phát triển nhà ở trong chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở phải được đưa vào nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương trong từng giai đoạn.

Trong quá trình triển khai thực hiện phải sơ kết, rà soát, sửa đổi, điều chỉnh, bổ sung kịp thời chương trình, kế hoạch đã đề ra cho phù hợp thực tế.

Kết thúc chương trình, kế hoạch phải có tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện.

4. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm bố trí ngân sách địa phương cho việc điều tra, khảo sát, xây dựng chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở của địa phương mình.

Điều 71. Quản lý và cung cấp thông tin về nhà ở

1. Cơ quan có trách nhiệm quản lý hồ sơ về nhà ở:

a) Cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh quản lý hồ sơ nhà ở thuộc diện do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở;

b) Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý hồ sơ nhà ở thuộc diện do Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở.

Giúp việc cho Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện việc quản lý hồ sơ nhà ở là Phòng có chức năng về quản lý nhà ở cấp huyện.

2. Hồ sơ nhà ở bao gồm các nội dung theo quy định tại khoản 3 Điều 66 của Luật Nhà ở.

3. Cơ quan quản lý hồ sơ nhà ở có trách nhiệm cung cấp các thông tin về nhà ở cho các cơ quan quy định tại khoản 7 Điều này và các tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa vụ liên quan đến nhà ở đó khi họ có yêu cầu.

4. Thông tin về nhà ở là các thông tin liên quan đến hiện trạng và tình trạng pháp lý của nhà ở, đất ở có trong hồ sơ nhà ở.

5. Tổ chức, cá nhân đề nghị cung cấp thông tin về nhà ở phải có văn bản đề nghị cung cấp thông tin. Văn bản đề nghị phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của người yêu cầu cung cấp thông tin, nội dung các thông tin đề nghị cung cấp và mục đích của việc đề nghị cung cấp thông tin.

6. Hình thức cung cấp thông tin có thể bằng văn bản trả lời, cung cấp thông tin qua mạng điện tử, sao chụp hoặc trích lục hồ sơ.

7. Tổ chức, cá nhân yêu cầu cung cấp thông tin về nhà ở phải trả phí cung cấp thông tin cho cơ quan quản lý hồ sơ nhà ở, trừ trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền đề nghị cung cấp thông tin phục vụ cho công tác quản lý nhà nước về nhà ở và cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát nhân dân, Toà án nhân dân đề nghị cung cấp thông tin phục vụ cho công tác điều tra, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo, các vụ án về nhà ở.

Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Xây dựng quy định mức thu, tỷ lệ trích nộp ngân sách và chế độ sử dụng phí cung cấp thông tin quy định tại Điều này.

Điều 72. Điều tra, thống kê, xây dựng dữ liệu về nhà ở

1. Định kỳ năm năm một lần, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm điều tra, thống kế và xây dựng dữ liệu về nhà ở trên địa bàn để phục vụ yêu cầu xây dựng chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở của địa phương theo quy định sau:

a) Việc điều tra, thống kê nhà ở được thực hiện thông qua việc phát phiếu điều tra tới từng tổ chức tham gia phát triển nhà ở và từng hộ gia đình trên địa bàn;

b) Việc điều tra, thống kê được tổ chức từ cấp xã. Ủy ban nhân dân cấp xã phát phiếu điều tra và thống kê, tổng hợp số liệu trên địa bàn báo cáo Ủy ban nhân dân cấp huyện. Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm tổng hợp số liệu của các xã trong huyện báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm tổng hợp số liệu của các huyện báo cáo Bộ Xây dựng;

c) Nội dung phiếu điều tra và biểu mẫu thống kê, tổng hợp số liệu do Bộ Xây dựng phối hợp với Tổng cục Thống kê hướng dẫn.

2. Bộ Xây dựng định kỳ năm năm một lần có trách nhiệm tổng hợp số liệu của các địa phương, xây dựng dữ liệu về nhà ở trong toàn quốc, công bố vào năm đầu kế hoạch để phục vụ cho việc hoạch định chính sách, xây dựng định hướng, chương trình phát triển nhà ở quốc gia.

3. Kinh phí cho việc điều tra, khảo sát, thống kê và xây dựng cơ sở dữ liệu về nhà ở được bố trí từ ngân sách nhà nước.

Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính xây dựng nội dung, kế hoạch vốn ngân sách cho việc điều tra, khảo sát, thống kê và xây dựng cơ sở dữ liệu về nhà ở trình Thủ tướng Chính phủ quyết định.

Điều 73. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức làm công tác phát triển và quản lý nhà ở

1. Cán bộ, công chức làm việc trong lĩnh vực quản lý và phát triển nhà ở của các cấp, các ngành ít nhất 5 năm 1 lần phải được tham dự lớp đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về phát triển, quản lý nhà ở để cập nhật được các cơ chế, chính sách, quy định của pháp luật, các thông tin trong nước và nước ngoài liên quan đến phát triển và quản lý nhà ở.

2. Bộ Xây dựng quy định về kế hoạch, chương trình, nội dung và phối hợp với các Bộ ngành, địa phương tổ chức các lớp bồi dưỡng, nâng cao kiến thức cho đội ngũ cán bộ, công chức công tác trong lĩnh vực quản lý và phát triển nhà ở.

3. Kinh phí cho việc biên soạn tài liệu giảng dạy, tổ chức lớp do học viên đóng góp. Cơ quan cử cán bộ, công chức đi học có trách nhiệm trích từ nguồn kinh phí của cơ quan cho cán bộ, công chức tham gia đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn về quản lý và phát triển nhà ở.

Điều 74. Quản lý hoạt động môi giới bất động sản nhà ở

1. Tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế có đủ điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này đều được tham gia hoạt động môi giới bất động sản nhà ở.

2. Điều kiện của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động môi giới bất động sản nhà ở:

a) Cá nhân hành nghề môi giới bất động sản nhà ở phải qua khoá đào tạo về môi giới bất động sản và được cơ quan, tổ chức có chức năng đào tạo môi giới bất động sản cấp chứng chỉ theo quy định của pháp luật về kinh doanh bất động sản;

b) Tổ chức, cá nhân hoạt động môi giới bất động sản nhà ở phải có đăng ký kinh doanh hoạt động môi giới bất động sản theo quy định của pháp luật về kinh doanh bất động sản.

3. Bộ Xây dựng ban hành quy chế tổ chức hoạt động môi giới bất động sản nhà ở.

Điều 75. Trách nhiệm quản lý nhà nước về nhà ở của Bộ Xây dựng

1. Bộ Xây dựng chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về nhà ở trên phạm vi cả nước.

2. Nghiên cứu trình Thủ tướng Chính phủ ban hành định hướng, chương trình phát triển nhà ở quốc gia cho từng giai đoạn 10 năm trên cơ sở theo dõi, đánh giá tình hình thực hiện chương trình phát triển nhà ở của các địa phương.

3. Nghiên cứu, trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung, ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung, ban hành theo thẩm quyền các văn bản liên quan đến quản lý và phát triển nhà ở.

4. Chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương tổ chức, triển khai thực hiện công tác quản lý và phát triển nhà ở trên địa bàn.

5. Kiểm tra, thanh tra, giải quyết thẩm quyền hoặc trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giải quyết các khó khăn, vướng mắc của các ngành, các cấp, các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình tổ chức triển khai công tác quản lý và phát triển nhà ở.

6. Định kỳ báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tình hình triển khai Luật Nhà ở và Nghị định này trên phạm vi cả nước.

Điều 76. Trách nhiệm quản lý nhà nước về nhà ở của các Bộ, ngành liên quan

1. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Xây dựng thực hiện quản lý nhà nước về nhà ở.

2. Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung, ban hành các văn bản liên quan đến quản lý, phát triển nhà ở theo chức năng, nhiệm vụ được Chính phủ giao.

3. Phối hợp với Bộ Xây dựng trong việc nghiên cứu soạn thảo chính sách và tham gia chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức thực hiện và kiểm tra, thanh tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về công tác quản lý và phát triển nhà ở của các ngành, các cấp, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Điều 77. Trách nhiệm quản lý nhà nước về nhà ở của địa phương

1. Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm:

a) Thực hiện quản lý nhà nước về nhà ở trên địa bàn;

b) Chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện, kiểm tra, thanh tra công tác quản lý và phát triển nhà ở trên địa bàn theo chức năng nhiệm vụ được giao;

c) Tuyên truyền, vận động các tổ chức, cá nhân chấp hành các quy định của pháp luật về công tác quản lý và phát triển nhà ở;

d) Định kỳ báo cáo cấp trên về tình hình triển khai Luật Nhà ở trên địa bàn.

2. Ngoài các quy định tại khoản 1 Điều này, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm ban hành các cơ chế chính sách cụ thể về quản lý và phát triển nhà ở, chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở và các nội dung khác đã được giao trong Luật Nhà ở, Nghị định này cho phù hợp điều kiện thực tế của địa phương và chỉ đạo việc tổ chức triển khai thực hiện.

3. Giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về nhà ở là cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh. Các tỉnh có đô thị từ loại 2 trở lên và các thành phố trực thuộc Trung ương phải thành lập Phòng quản lý và phát triển nhà ở trong cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh. Cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh của các tỉnh khác có thể thành lập Phòng quản lý và phát triển nhà ở, hoặc ghép chung chức năng với các Phòng khác nhưng phải đảm bảo có ít nhất 2 cán bộ chuyên làm công tác quản lý và phát triển nhà ở.

Ủy ban nhân dân thành phố thuộc tỉnh phải có Phòng quản lý và phát triển nhà ở. Ủy ban nhân dân của các huyện, quận, thị xã có thể thành lập Phòng quản lý và phát triển nhà ở, hoặc ghép chung chức năng với các Phòng khác nhưng phải đảm bảo có ít nhất 2 cán bộ chuyên làm công tác quản lý và phát triển nhà ở.

Căn cứ điều kiện cụ thể, Ủy ban nhân dân cấp xã bố trí cán bộ theo dõi lĩnh vực nhà ở cho phù hợp yêu cầu quản lý nhà ở trên địa bàn.

Điều 78. Ban Chỉ đạo về chính sách nhà ở

1. Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về chính sách nhà ở, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập Ban Chỉ đạo chính sách nhà ở cấp tỉnh để giúp chỉ đạo triển khai thực hiện Luật Nhà ở và các chính sách liên quan đến quản lý và phát triển nhà ở.

Ban Chỉ đạo Trung ương và Ban Chỉ đạo cấp tỉnh có Tổ chuyên viên liên ngành giúp việc.

Các thành viên của Ban Chỉ đạo và Tổ chuyên viên làm việc theo chế độ kiêm nhiệm và được hưởng phụ cấp theo quy định. Ngân sách cùng cấp cấp kinh phí cho hoạt động của Ban Chỉ đạo và Tổ chuyên viên giúp việc.

2. Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định chức năng, nhiệm vụ, quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo và Tổ chuyên viên giúp việc.

Điều 79. Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong lĩnh vực nhà ở

Đề nghị Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận tham gia vào các hoạt động sau trong lĩnh vực nhà ở:

1. Phối hợp với các cơ quan nhà nước tuyên truyền chủ trương, chính sách, quy định của pháp luật trong lĩnh vực nhà ở và tham gia hoà giải các tranh chấp liên quan đến nhà ở;

2. Tham gia nghiên cứu, đề xuất và góp ý kiến với cơ quan nhà nước trong xây dựng cơ chế, chính sách và pháp luật về nhà ở;

3. Chủ trì vận động các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước thực hiện chương trình giúp đỡ người nghèo cải thiện nhà ở, xoá nhà ở tranh, tre, nứa, lá dột nát, xây dựng và tặng nhà tình nghĩa, nhà tình thương, nhà đại đoàn kết;

4. Giám sát các cơ quan nhà nước, các tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện các chính sách về nhà ở.

Chương 8:

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 80. Hiệu lực thi hành

1. Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.

2. Nghị định này thay thế các Nghị định sau đây:

a) Nghị định số 60/CP ngày 05 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ về quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị;

b) Nghị định số 71/2001/NĐ-CP ngày 05 tháng 10 năm 2001 của Chính phủ về ưu đãi đầu tư xây dựng nhà ở để bán và cho thuê;

c) Nghị định số 81/2001/NĐ-CP ngày 05 tháng 11 năm 2001 của Chính phủ về việc người Việt Nam định cư ở nước ngoài mua nhà ở tại Việt Nam.

3. Bãi bỏ các quy định sau đây:

a) Các nội dung liên quan đến kinh doanh nhà ở, mua bán nhà ở không nhằm mục đích kinh doanh Nghị định số 61/CP ngày 05 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ về mua bán và kinh doanh nhà ở;

b) Các nội dung liên quan đến việc cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở trong Nghị định số 95/2005/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2005 của Chính phủ về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng;

c) Các nội dung liên quan đến việc phát triển nhà ở, quản lý việc sử dụng nhà ở, sở hữu nhà ở, giao dịch về nhà ở trong các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã ban hành trái với nội dung Nghị định này.

Điều 81. Trách nhiệm thi hành

Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này ./.

 

Nơi nhận:
- Ban Bí thư Trung ương Đảng;
- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ,
 cơ quan thuộc Chính phủ;
- HĐND, UBND các tỉnh,
 thành phố trực thuộc Trung ương;
- Văn phòng TW và các Ban của Đảng;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Hội đồng Dân tộc và các UB của Quốc hội;
- Văn phòng Quốc hội;
- Tòa án nhân dân tối cao;
- Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;
- Cơ quan Trung ương của các đoàn thể;
- Học viện Hành chính Quốc gia;
- VPCP: BTCN, các PCN,
 Website Chính phủ, Ban Điều hành 112,
 Người phát ngôn của Thủ tướng Chính phủ,
 các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công báo;
- Lưu: Văn thư, CN (5b).

TM. CHÍNH PHỦ
THỦ TƯỚNG




Nguyễn Tấn Dũng

 

PHỤ LỤC

BAN HÀNH KÈM THEO NGHỊ ĐỊNH

1. Phụ lục số 1 về Khung giá cho thuê, thuê mua nhà ở xã hội.

2. Phụ lục số 2 về Khung giá cho thuê nhà ở công vụ.

3. Phụ lục số 3 về Mẫu Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở.

4. Phụ lục số 4 về Mẫu Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở.

5. Phụ lục số 5 về Mẫu hợp đồng mua bán nhà ở.

6. Phụ lục số 6 về Mẫu hợp đồng thuê nhà ở xã hội.

7. Phụ lục số 7 về Mẫu hợp đồng thuê mua nhà ở xã hội.

8. Phụ lục số 8 về Mẫu hợp đồng thuê nhà ở công vụ.

9. Phụ lục số 9 về Mẫu hợp đồng thuê nhà ở.

 

 

FILE ĐƯỢC ĐÍNH KÈM THEO VĂN BẢN

 

 

THE GOVERNMENT
-------

SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM
Independence - Freedom - Happiness
----------

No: 90/2006/ND-CP

Hanoi, September 06, 2006

 

DECREE

DETAILING AND GUIDING THE IMPLEMENTATION OF THE HOUSING LAW

THE GOVERNMENT

Pursuant to the December 25, 2001 Law on Organization of the Government;
Pursuant to the November 29, 2005 Housing Law;
At the proposal of the Minister of Construction

DECREES:

Chapter I

GENERAL PROVISIONS

Article 1.- Governing scope

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



Article 2.- Subjects of application

This Decree applies to the following subjects:

1. Domestic organizations and individuals; overseas Vietnamese; foreign organizations and individuals that invest in housing development in Vietnam.

2. Organizations and individuals owning houses, using houses and participating in house-related transactions in Vietnam.

3. Housing state management agencies of all levels.

4. Organizations and individuals not specified in Clauses 1, 2 and 3 of this Article but involved in housing activities.

Article 3.- Interpretation of terms

In this Decree, the terms below shall be constructed as follows:

1. Legally established houses means those constructed, purchased, rent-purchased by, donated to, inherited, exchanged or owned in other forms by organizations or individuals under the provisions of law.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



3. Social houses means those invested and constructed by the State, organizations or individuals of all economic sectors for lease to, or rent-purchase by, subjects defined in Articles 53 and 54 of the Housing Law, under the State-prescribed mechanisms.

4. Official-duty houses means those invested and constructed by the State for a number of subjects defined in Article 60 of the Housing Law to rent while they are in office under the State-prescribed mechanisms.

5. Rent-purchase of social houses means that lessees of social houses shall, after a set period of time, be recognized as owners thereof.

Chapter II

HOUSING DEVELOPMENT

Section 1. HOUSING DEVELOPMENT PROJECTS

Article 4.- Types of housing development projects

1. Projects on development of commercial houses.

2. Projects on development of social houses.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



Article 5.- Formulation of housing development projects

1. When investing in housing development under projects, investors must organize the formulation of housing development projects with the contents specified in Articles 6 and 7 of this Decree and according to the requirements specified in Articles 24, 25, 26 and 30 of the Housing Law.

2. Investors shall organize the elaboration and submission of construction detailed plannings of 1/500 scale together with dossiers of housing development projects.

Article 6.- Contents of housing development projects

A housing development project must have the following principal contents:

1. The necessity and legal grounds of the project (the local program on housing development; plan on housing development and other relevant documents promulgated by competent state bodies).

2. Investment form (for sale, lease or rent-purchase) and the housing development project investors.

3. Bases for selection of the project location (the planning on construction of urban centers, rural population quarters; land use plannings and plans; the suitability to subjects having housing demands).

4. The present situation of the project area (natural, social conditions, landscape architecture, current land use purpose, acreage, boundaries of the land plot).

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



6. Specific structures of assorted houses, other works in the project (schools, hospitals, public-welfare works and service facilities).

7. The solution of application of building technology, norms and standards applicable to the project.

8. Schemes on compensation, ground clearance and resettlement.

9. The solutions of technical infrastructures (systems of communications, power supply, water supply and drainage, information and communication, garbage treatment, fire and explosion prevention and fighting, underground works, red-line demarcation, construction demarcation and other requirements).

10. Mechanisms applicable to the project (policies on land use, finance, tax and other mechanisms),

11. The project execution duration and tempo.

12. Capital demands, capital sources and forms of mobilization of investment capital.

13. The scheme on product consumption (subjects and forms of product consumption; specific quantities of assorted houses, works for sale, lease, rent-purchase; sale prices, leasing prices, rent-purchase prices).

14. Analysis of financial criteria and capital recoverability.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



16. Assessment of environmental impacts and measures to minimize adverse impacts on the environment.

17. Schemes on management, exploitation and operation of the project after investment; responsibility for work warranty and maintenance and obligations of the concerned organizations or individuals to contribute fundings for the management, exploitation and operation of the project.

18. Conclusions and proposals.

19. Dossiers on drawings of the project.

Article 7.- Dossiers of drawings of the project

1. The drawings of the current status of the project land plot (expressing the location and current landscape architecture).

2. The drawings of the construction detailed planning of 1/500 scale.

3. The drawings of the organization of space of landscape architecture of various types of houses and construction works in the project area.

4. The drawings of the systems of technical infrastructures within the project area, such as traffic system, power supply system, information and communications, water supply and drainage systems; systems of underground works, infrastructure works in the project area and other works (if any).

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



Article 8.- Approval of housing development projects

1. Projects on development of houses in provinces or centrally-run cities shall be approved by presidents of provincial/municipal People's Committees (collectively referred to as provincial-level People's Committees), excluding projects on development of official-duty houses under special requirements.

Based on the specific conditions of their respective localities, provincial-level People's Committee presidents may authorize presidents of People's Committees of urban districts, rural districts, provincial capitals or towns (collectively referred to as district-level People's Committees) to approve projects on development of commercial houses with the investment capital of under VND 30 billion.

2. Contents of decisions approving housing development projects shall include:

a/ The names of the project and investors;

b/ Project location;

c/ Land use scale, land use boundaries, population size;

d/ Number of key construction items (types of houses: villas, garden houses, adjacent houses, condominium apartments; technical infrastructure works: roads, power supply, water supply and drainage, garbage treatment, information and communications, fire and explosion prevention and fighting); social infrastructure works: kindergartens, schools, healthcare, service, sport, entertainment, recreation, marketplaces);

e/ Total investment capital of the project;

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



g/ Preferential mechanisms (if any);

h/ Project execution duration and schedule;

i/ Scheme on product consumption;

j/ Major rights and obligations of investors;

k/ Scheme on management and operation of the project after investment.

3. For projects on development of social houses, official-duty houses, apart from the contents specified in Clause 2 of this Article, the project approval contents must specify the investment capital sources, housing design scales, eligible tenants, rent-purchase houses and house leasing or rent-purchase prices.

4. Housing development projects, before being approved, must be appraised by house management agencies competent to approve.

The appraisal of housing development projects shall comply with the provisions of the Housing Law, this Decree and other relevant legal provisions on investment and construction, which are not covered by the law on housing.

5. The period for project appraisal and approval shall not exceed 45 days as from the date the house management agencies receive the projects mentioned in Article 6 of this Decree.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



1. The materialization of contents related to construction preparation and execution shall comply with the provisions of the Housing Law, this Decree and other relevant legal provisions on investment and construction.

2. Investors may use model designs, typical designs of houses and other construction works in housing development projects but must ensure their compatibility with construction standards and norms promulgated by competent bodies.

3. Investors must not apply for construction permits for each work in the projects already approved and stipulated in terms of investment and construction by competent state bodies.

4. Project investors shall have to organize the inspection and supervision of the process of investment and construction by organizations or individuals participating in their housing development projects.

Article 10.- Pre-acceptance test of housing development projects

1. Upon pre-acceptance test of housing development projects, apart from the pre-acceptance test, take-over for commission of projects under the provisions of law on construction, the systems of power supply, water supply and drainage, fire and explosion prevention and fighting and environmental sanitation must also be pre-acceptance tested.

2. The housing development project dossiers and pre-acceptance test and take-over documents must be archived at units managing the operation of projects and provincial-level house management bodies of the localities where exist the projects for monitoring and inspection.

3. For condominiums, the certification of quality under the provisions of law on construction is required.

Section 2. DEVELOPMENT OF COMMERCIAL HOUSES

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



1. Commercial-house development project investors shall have to elaborate construction detailed plannings of 1/500 scale and the projects for submission to competent bodies for approval. The contents of construction detailed plannings of 1/500 scale of projects must comply with plannings on construction of urban centers, rural population spots and urban designs and meet the housing requirements suitable to each urban, rural or mountainous area specified in Articles 24, 25 and 26 of the Housing Law.

2. Designs of houses in commercial-house development projects, apart from satisfying the requirements on construction standards and norms, must also comply with the specific standards defined for commodiums, separate houses and villa houses under the provisions of Article 40 of the Housing Law.

3. Commercial-house development projects should meet the demand for diversification of house types as well as payment modes (lumpsum payment, deferred payment, installment payment through credit institutions) to suit the market demands and income conditions of people.

4. Commercial-house development project investors must ensure the project execution schedule approved by competent bodies. In case of prolongation, such must be approved in writing by agencies competent to approve the projects.

Article 12.- Commercial-house development project investors

1. Commercial-house development project investors shall include:

a/ Domestic enterprises set up and operating under the provisions of the Enterprise Law;

b/ Foreign investors and overseas Vietnamese conducting investment activities under the Investment Law;

c/ Cooperatives set up and operating under the provisions of the Law on Cooperatives.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



a/ Having the real estate business registration or investment certificate under the provisions of law;

b/ Having investment capital under their ownership for project execution not lower than 15% of the total investment of projects using less than 20 ha of land each or not lower than 20% of the total investment of projects using 20 ha of land or more each.

Article 13.- Selection of commercial-house development project investors

1. The selection of commercial-house development project investors shall comply with the principle of publicization of land plots reserved for development of commercial houses in localities for organizations and individuals of all economic sectors to know and register to be project investors.

2. At the expiration of the prescribed time limit counting from the time of publicization to call for investment if only 1 (one) investor fully satisfying the conditions defined in Clause 2, Article 12 of this Decree has registered, such investor shall be selected to be the project investor. After the publication to call for investment, if 2 (two) or more investors have registered, bidding must be organized to select project investors under the provisions of Article 14 of this Decree.

3. In cases where investors have acquired land use rights through land transfer or lease under the provisions of land law, they shall be the investors of the projects on development of commercial houses on the land plots under their use rights.

Article 14.- Bidding to select project investors

1. Based on housing development programs and lists of commercial-house development projects in each period, provincial-level People's Committees shall have to direct their functional bodies to publicize the lists of commercial-house development projects in each period throughout their respective localities; the 1/2,000-scale detailed plannings on construction of urban centers, rural population spots; the locations and boundaries of the land plots for commercial-house development projects; the land use scale and conditions (the land is assigned or leased, the leasing duration, the land fund for settlement, the projected land prices) of each project; the requirements on completion time for each project to call on domestic and foreign investors to register to be investors of commercial-house development projects.

2. Provincial-level People's Committees of the localities where exist the commercial-house development projects shall have to publicize the basic requirements for selection of investors, including:

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



b/ Requirements on planning-architecture; forms and types of houses; systems of technical infrastructure, social infrastructure and other construction facilities within the scope of each project;

c/ Econo-technical, hygienic and environmental norms to be applied;

d/ Minimum land price bracket and requirements on finance and tax to be paid under regulations;

e/ Requirements on land fund and technical infrastructures, social infrastructures to be transferred by investors (if any);

f/ Requirements on management of operation and exploitation of projects after the investment, which investors must satisfy;

g/ The time for receipt of dossiers of registration to be project investors;

h/ Other necessary information related to projects.

3. After studying the specific conditions and requirements on each project under the provisions of Clause 2 of this Article, investors shall have to prepare dossiers of registration to be project investors, each comprising:

a/ Papers showing the legal grounds, professional capabilities, experience and financial capabilities of investors;

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



c/ The capabilities and other advantages of investors (if any) when being assigned to act as project investors.

4. After receiving the dossiers of registration to be project investors within the prescribed time limit, provincial-level People's Committees shall set up advisory councils for selection of investors to consider and select investors for each project.

5. The advisory councils for selection of investors shall have to formulate specific point scales based on the basic requirements defined in Clause 2 of this Article to give points to every registration dossier.

6. After obtaining the marking results, the advisory councils shall have to submit them to provincial-level People's Committees for consideration and selection of commercial-house development project investors.

7. The organization of selection of commercial-house development project investors through biddings in localities shall be provided for by provincial-level People's Committee presidents in accordance with the practical local conditions.

Article 15.- Interests of commercial-house development project investors

1. To request competent agencies to supply information in service of execution of commercial-house development projects.

2. To exercise land users' rights according to the provisions of land law.

3. To select modes of project execution management.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



5. To sell, lease houses and construction works within the projects to other investors, excluding infrastructure works which must be transferred under decisions of competent state bodies.

6. To transfer the rights to use land on which technical infrastructures have been constructed to other project investors for investment in construction of houses strictly according to project contents and schedules already approved by competent authorities.

7. To reach agreement with persons who wish to buy or rent houses in order to mobilize advance capital according to the provisions of Clause 1, Article 39 of the Housing Law.

8. To cooperate with other investors in organizing project execution.

9. To enjoy other interests prescribed by law.

Article 16.- Obligations of commercial-house development project investors

1. To formulate, and organize the execution of, projects strictly according to the provisions of the Housing Law, this Decree and relevant legal documents promulgated by competent state bodies.

2. To execute projects in strict accordance with the contents and schedules already approved or permitted for adjustment by competent bodies.

3. To publicize information related to projects as provided for in Clause 3, Article 36 of the Housing Law after the issuance of approval decisions of competent bodies.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



5. To provide house warranty as provided for in Article 74 of the Housing Law.

6. To provide maintenance for leased houses under their ownership (if any) and technical infrastructures and social infrastructures not yet transferred or not transferred within the project scope according to the provisions of law.

7. To organize activities of providing services on use management of houses, technical infrastructures and other relevant services within the project scope according to the provisions of law; to manage the operation of infrastructure works already put into operation pending their transfer to public-utility service organizations or specialized management organizations.

8. To organize the management of order and security in areas of projects already put to use and business pending the administrative-management transfer to local administrations.

9. To manage the construction of houses, works by secondary investors within the project scope, ensuring its compliance with the approved construction detailed plannings and designing schemes.

10. To compile and archive house dossiers as provided for in Clause 2, Article 66 of the Housing Law with regard to houses reserved for lease by investors (if any).

11. To report on project execution results once every six months and upon project completion to the project-appraising and -approving agencies and provincial-level People's Committees of the localities where the projects exist.

12. To assume the prime responsibility for setting up the condominium management boards under the provisions of the Housing Law and the regulations on use management of condominiums, promulgated by competent state bodies.

13. To manage and operate works under their ownership and works not yet transferred or assigned for management within the project scope.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



Article 17.- End of the construction investment stage

Upon the completion of construction investment, project investors shall realize the following requests:

1. To accept the entire projects and make comparison with the approved project contents, make and send reports to agencies competent to approve projects and provincial-level People's Committees of localities where exist the projects.

2. To finalize dossiers and documents in service of archive according to the provisions of the Housing Law and the law on construction.

3. To hand over technical infrastructures and social infrastructures to local administrations or specialized management agencies according to the contents of projects already approved by competent bodies.

4. To make final settlement reports according to the provisions of law on finance.

5. To assume the prime responsibility for, and coordinate with functional agencies in, completing the grant of certificates of ownership of houses, construction works (if any) within the project scope.

6. To coordinate with local administration in settlement of existing problems in administrative management in project areas.

Section 3. DEVELOPMENT AND MANAGEMENT OF SOCIAL HOUSES

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



1. Social houses shall be built with investment by the State, organizations or individuals of all economic sectors on the basis of renting and rent-purchase demands of people living in geographical areas suitable to socio-economic conditions of each locality as provided for in Articles 24, 25 and 26 of this Decree.

2. Provincial-level People's Committees have the responsibilities:

a/ To approve and publicize the construction plannings, housing development plannings, land funds and specific locations reserved for development of social houses, ensuring their coherence with projects on new urban centers, projects on development of commercial houses or economic zones, industrial parks, export processing zones and hi-tech parks;

b/ To elaborate five-year and annual plans on development of social houses, specifically determining types of houses; demand for housing spaces, structure of apartments for lease, for rent-purchase, specific balance of investment capital sources in accordance with the provisions of Article 52 of the Housing Law; incentive mechanisms to call on organizations and individuals of all economic sectors to invest in the development of social-house funds;

c/ To decide on the selection of investors, approve projects and direct the organization of execution of social-house development projects with a view to satisfying local demands in each period.

Article 19.- Housing development funds

1. Housing development funds shall be formed from the following sources:

a/ Proceeds from the sale, lease, rent-purchase of state-owned houses in localities;

b/ 30% to 50% of land use levies in commercial house development projects and new-urban center projects in localities. The specific percentages shall be considered and decided by provincial-level People's Councils;

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



d/ Support money, voluntary contributions of domestic and foreign organizations and individuals;

e/ Money mobilized from other lawful capital sources under the provisions of law.

2. Based on the practical situation of their respective localities, provincial-level People's Committee presidents shall consider and decide on the establishment of housing development funds of their localities on the basis of mobilized sources specified in Clause 1 of this Article and promulgate the regulation on management of this fund, ensuring the following principles:

a/ The housing development funds shall operate as state-owned finance bodies on the principle of preserving their capital, covering expenditures arising in the course of operation, and not for profits;

b/ Housing development funds are attached to provincial-level People's Committees, having their legal person status, operating with independent cost-accounting, having their own seals and separate balance sheets, which may open accounts at state treasuries and credit institutions for operation under the provisions of law;

c/ Housing development funds shall be managed and administered and operate according to their organization and operation charters promulgated by provincial-level People's Committees and under relevant provisions of law;

d/ Housing development funds shall be exempt from taxes and state budget payments under the Finance Ministry's guidance.

e/ Local housing development funds shall be used for development of state-owned social houses in the localities;

The Finance Ministry shall assume the prime responsibility for, and coordinate with the Construction Ministry in, guiding the organization and operation of local housing development funds.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



1. Competent People's Committees shall have to determine and arrange land funds for construction of social houses when elaborating and approving plannings on construction of urban centers, rural population spots, economic zones, export processing zones and hi-tech parks in localities.

2. Based on the specific conditions of each locality, provincial-level People's Committees may consider and decide that investors of projects on development of commercial houses and new urban centers in localities, each covering a land area of 10 ha or more shall have to reserve a part of the land on which technical infrastructures have been constructed for local administrations to develop social houses which, however, must, in all circumstances, not exceed 20% of the land area of the project. The expenses for ground clearance compensation and expenses for investment in construction of technical infrastructures on this land area shall be deducted from the land use levies or land rents to be paid into the state budget by investors according to regulations. Where the expenses are larger than the land use levies to be paid into the state budget by investors, the differences shall be offset with the state budget immediately after the investors hand over the land areas on which infrastructures have been constructed to agencies designated by provincial-level People's Committees.

Article 21.- Social-house development project investors

1. Provincial-level People's Committees shall decide on the selection of units to be investors of local social-house development projects invested with housing development funds.

2. Units selected to be social-house development project investors defined in Clause 1 of this Article shall have to manage the process of construction investment and at the same time to manage the operation of projects after completion of the construction investment.

3. For social-house development projects invested and constructed by organizations or individuals of any economic sector, the project investors shall be allowed to organize the management and operation of such projects after the construction investment.

4. Social-house development project investors shall have to formulate and submit projects for approval according to the provisions of Articles 5, 6 and 7 of this Decree.

Article 22.- Execution of social-house development projects

1. Designs and cost-estimates of houses and construction works in social-house development projects shall comply with the regulations on investment and construction management and the social house designing standards specified in Article 47 of the Housing Law.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



3. Consultancy units, when designing social-house development projects, must apply construction technology solutions and use proper materials in order to ensure the objectives regarding the schedule, quality and lower construction costs, and encourage the application of model and typical designs.

Article 23.- Management of operation of social house funds

1. Where there are two or more units registering to participate in the management, operation and exploitation of social-house funds, the selection of units managing the operation of projects shall comply with the bidding principles.

2. The management of operation and exploitation of social-house funds under the ownership of other economic sectors shall be decided by investors on the principle that the lease or rent-purchase is carried out for proper subjects defined in Article 24 of this Decree and the leasing or rent-purchase prices must not be higher than the local prices promulgated by provincial-level People's Committees.

3. Social-house fund operation and exploitation-managing units shall enjoy regimes like units providing public-utility services under the guidance of the Finance Ministry.

Article 24.- Persons entitled to rent, rent-purchase social houses

1. Cadres, officials and public servants as defined by the law on cadres and public servants.

2. Officers and professional personnel of the people's armed forces, who receive salaries from the state budget.

3. Workers in economic zones, industrial parks, export processing zones or hi-tech parks.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



Article 25.- Conditions for rent, rent-purchase of social houses.

Persons entitled to rent, rent-purchase social houses must satisfy the following conditions:

1. Being subjects defined in Article 24 of this Decree.

2. Having not yet owned houses and not yet rented or rent-purchased state-owned houses; having houses under their ownership but with the average area of under 5 m2 of floor area per person in their families; having houses under their ownership, which are, however, makeshifts, damaged or leaking and dilapidated.

3. Having the families' monthly average income not bigger than five times the total payable monthly rent of social houses for apartments of 60 m2 of floor area at most each and not lower than four times the payable monthly rent for apartments of at least 30 m2 of floor area each, calculated at the rent rates set by provincial-level People's Committees.

4. Persons who are entitled to rent-purchase social houses shall, apart from the conditions specified in Clauses 1, 2 and 3 of this Article, have also to make the first payment equivalent to 20% of the value of the rent-purchased houses.

5. The selection of persons eligible to rent or rent-purchase social houses shall be carried out in the following priority order:

a/ The urgent housing demand (having no residential houses, having just married and the average floor area being too low);

b/ Getting paid from the state budget, young cadres of university or higher degree, workers having professional skills of grade 5 or higher, who have not been given housing supports in any form by the State;

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



6. Based on the provisions of Clauses 1, 2, 3, 4 and 5 of this Article and conditions of their respective localities, provincial-level People's Committees shall specify and publicize the subjects and conditions for rent, rent-purchase of social houses in their localities in each period and under each specific project.

Article 26.- Identification of persons entitled to rent, rent-purchase social houses

1. Persons having demands to rent, rent-purchase social houses must file their applications therefor with the certification by their agencies or units where they are working of the conditions of their existing houses. For households, there must be certifications by all agencies and/or units of their working family members and the certification by the People's Committees of communes where they are living. Such applications must be filed at provincial-level house management bodies.

2. Provincial-level house management bodies shall have to compare with the provisions of Articles 24 and 25 of this Decree and the regulations of provincial-level People's Committees in order to propose specific lists of entitled persons to provincial-level People's Committees for consideration and decision.

3. Based on their local social house funds, provincial-level People's Committees shall approve the lists of persons entitled to rent or rent-purchase social houses.

4. Provincial-level house management bodies shall have to notify such to units which are assigned to manage and operate the social house funds for arrangement and signing of contracts for rent, rent-purchase of social houses by entitled person approved by provincial-level People's Committees.

Provincial-level People's Committees shall specify the order and procedures for consideration and approval as well as the priority order for applicants for rent or rent-purchase of social houses in accordance with the local situation and specific conditions.

Article 27.- Determination of leasing and rent-purchase prices of social houses

The leasing or rent-purchase prices of social houses shall be determined on the following principles:

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



2. Excluding land use levies, land rents and tax preference amounts under the guidance of the Finance Ministry.

3. The leasing, rent-purchase prices of social houses in localities shall be prescribed by provincial-level People's Committees on the principle of ensuring their compatibility with the brackets of leasing, rent-purchase prices of social houses specified in Appendix 1 to this Decree, including:

a/ The bracket of leasing prices of social houses, applicable to types of low-rises in rural areas;

b/ The bracket of rent-purchase prices of social houses, applicable to condominiums;

c/ The bracket of rent-purchase prices of social houses;

d/ The bracket of leasing prices of social houses in economic zones, industrial parks, export processing zones, hi-tech parks.

4. The social house leasing or rent-purchase price brackets shall be reviewed and adjusted once every five years.

The Construction Ministry shall assume the prime responsibility for, and coordinate with the Finance Ministry in, studying and submitting to the Government for consideration and promulgation new price brackets or adjusted price brackets suitable to the country's socio-economic conditions in each period.

Section 4. DEVELOPMENT AND MANAGEMENT OF OFFICIAL-DUTY HOUSE FUNDS

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



1. Provincial-level People's Committees shall decide on the selection of units to be investors in projects on development of official-duty houses in their respective localities.

2. Units selected to be official-duty house development project investors defined in Clause 1 of this Article shall have to manage the process of construction investment and at the same time to manage the operation of the projects after completion of the construction investment.

3. For projects on development of official-duty houses at special requests, persons competent to decide on the investment therein shall decide on the selection of project investors.

4. Official-duty house development project investors shall have to organize the formulation and submission of projects for approval according to the provisions of Clauses 1 and 2, Article 29 of this Decree.

Article 29.- Formulation, appraisal and approval of official-duty house development projects

1. The contents of official-duty house development projects shall comply with the provisions of Articles 6 and 7 of this Decree.

2. Official-house development projects shall be considered and approved by provincial-level People's Committees. For projects on development of official-duty houses at special requests, the persons competent to decide on the investment therein shall consider and organize the appraisal of the projects.

3. Provincial-level house management bodies shall assume the prime responsibility for, and coordinate with the concerned provincial Services, Committees and branches in, appraising projects on development of official-duty houses in localities. For projects on development of official-duty houses at special requests, the Construction Ministry shall have to assume the prime responsibility for, and coordinate with the concerned ministries and branches in, the appraisal.

Article 30.- Capital for investment in construction of official-duty houses

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



2. Funds of official-duty houses arranged for cadres and public servants of central agencies may use investment capital from the central budget. Based on the official-duty house demands of central agencies in localities, provincial-level People's Committees shall draw up capital plans to be sent to the Planning and Investment Ministry and the Finance Ministry for sum-up and submission to the Prime Minister for consideration and decision.

For projects on development of official-duty houses at special requests, the persons competent to decide on the investment therein shall draw up the capital plans and submit them to the Prime Minister for consideration and decision.

Article 31.- Land for construction of official-duty houses

1. Competent People's Committees must determine land funds for construction of official-duty houses when organizing the elaboration and approval of plannings on construction of urban centers and/or rural population quarters.

2. Land use levies shall be exempt for land areas assigned for execution of official-house development projects.

Article 32.- Types and floor area standards of official-duty houses

1. Official-duty houses shall have the floor area standards, quality and types suitable to users, providing cadres and officials with conditions to well fulfill their assigned tasks.

2. Cadres or officials holding the post of Political Bureau member, Deputy Prime Minister or higher, who are entitled to live in official-duty houses shall be provided with villas to live in. Other persons shall be provided with apartments in condominiums or low-rises in areas where condominiums are not yet developed.

3. Newly built condominium apartments shall have the floor area of between 45m2 and 150 m2 each. The floor area standards of official-duty houses shall be properly adjusted in each period of socio-economic development of the country.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



Article 33.- Investment in construction of official-duty houses

1. The designs, cost estimates and selection of design consultancy units and construction units upon execution of official-house development projects must comply with the provisions of law on construction and law on management and use of investment capital from the state budget.

2. Units providing consultancy on design of official-duty houses must apply regulations on designing standards, construction technology solutions and use proper materials in order to attain the objectives in terms of schedule, quality and lower construction costs.

Article 34.- Subjects entitled to rent official-duty houses

1. Party and State leaders shall be entitled to stay in official-duty houses while in office.

2. Cadres and officials of Party and State agencies or socio-political organizations, who are transferred on definite terms under decisions of competent bodies from local to central offices or from central to local offices or from one locality to another, if having demands, shall be provided with official-duty houses while performing their official duties.

3. Officers and professional personnel of the people's armed forces who are transferred or on service according to defense or security requirements.

Article 35.- Conditions for rent of official-duty houses

Cadres and officials defined in Clauses 2 and 3, Article 34 of this Decree, when allowed to rent official houses, must be persons who have no houses under their ownership or have not yet rented state-owned houses in localities where they come to work.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



Official-duty house rentals shall be determined on the following principles:

1. Taking into account all necessary expenses for preservation of investment capital, ensuring the recovery of capital for construction investment, operation management in the course of using and maintaining residential houses.

2. Excluding land use levies and tax preferences defined in Clause 2, Article 27 of this Decree;

3. Local official-duty house rentals shall be set by provincial-level People's Committees, based on the rent rate brackets specified in Appendix 2 to this Decree;

4. Official-house rent rates shall be reviewed and adjusted once every five years.

The Construction Ministry shall assume the prime responsibility for, and coordinate with the Finance Ministry in, studying and submitting to the Prime Minister for consideration and adjustment the brackets of official-duty house rent rates suitable to the country's socio-economic conditions in each period.

Article 37.- Arrangement for renting official-duty houses

1. Cadres and officials entitled to be provided with official-duty houses must file their applications for renting official-duty houses to their agencies where they are working in order to get the certification.

2. Agencies employing cadres and officials shall gather applications of cadres and officials of their respective units for renting official-duty houses and send together with documents to provincial-level People's Committees, requesting the arrangement of official-duty houses.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



Article 38.- Payment of official-duty house rentals

1. Cadres and officials renting official-duty houses must pay rentals which shall not exceed 10% of their salaries and allowances (if any). Where the official-duty house rentals exceed the above-mentioned rate, the agencies employing such cadres and officials shall have to pay the differences from their sources of regular expenditures.

2. Cadres and officials renting official-duty houses shall have to pay rentals directly to official-duty house management bodies. Where after three months the cadres and officials do not pay rentals, the agencies managing such cadres and officials shall have to deduct their salaries for rental payment to official-duty house management bodies.

Article 39.- Management of the use of official-duty houses

1. Official-duty houses shall be used only for lease. The management, maintenance and renovation thereof shall comply with the regulations on management, maintenance and renovation of state-owned houses.

2. Provincial-level house management bodies shall assist provincial-level People's Committees in performing the unified management of the use of official-duty houses in their respective localities.

The Construction Ministry shall stipulate and guide the management of the use of official-duty houses.

Article 40.- Rights and obligations of official-house lessees

1. To use the houses for proper purposes and to preserve the houses and assets attached thereto; not to renovate or repair official-duty houses at their own will.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



3. Cadres and officials living in official-duty houses shall have to pay monthly rentals according to the provisions of Article 38 of this Decree. The payment of other expenses in service of daily life shall comply with the provisions of law.

4. When cadres and officials who have to return official-duty houses under the provisions of Article 61 of the Housing Law meet with housing difficulties, the agencies or organizations where such persons work shall coordinate with provincial-level People's Committees of the localities where the cadres or officials live in providing them with social houses for rent or rent-purchase or supports in other forms so that they have houses to live in.

5. To use official-duty houses for daily-life activities of their own and their families. Where cadres and officials eligible to live in official-duty houses wish to rent official-duty houses but have not yet been leased the houses, provincial-level People's Committees shall coordinate with their units in considering and temporarily arranging them to stay in guest houses, if any, or to rent social houses or commercial houses in the localities.

Article 41.- Responsibilities of units managing the use of official-duty houses

1. To lease houses to eligible persons and under the conditions specified in Articles 34 and 35 of this Decree.

2. To fully gather and keep the official-duty house dossiers.

3. To coordinate with local functional bodies in maintaining security and order for official-duty houses. The security- and order-maintaining bodies shall have to coordinate with the official-duty house management bodies at the latter's request.

4. To conduct the maintenance of official-duty houses according to the provisions of the Housing Law and legal provisions on construction.

5. To collect house rentals from cadres and officials who rent official-duty houses.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



a/ When cadres and officials are no longer entitled to live in official-duty houses;

b/ When cadres and officials are transferred to other localities on working missions under the provisions of Clause 2, Article 34 of the Decree;

c/ When cadres and officials wish to return official-duty houses;

d/ When cadres or officials who are renting official-duty houses die;

f/ When cadres and officials use official-duty houses for improper purposes or have failed to fulfill the obligations of persons who live in official-duty houses after they are notified thereof.

7. To consider and propose provincial-level People's Committees to arrange social houses in the localities for rent or rent-purchase by cadres or officials who meet with lodging difficulties after returning the official-duty houses.

Chapter III

GRANT OF HOUSE OWNERSHIP CERTIFICATES

Article 42.- Cases entitled to the grant of house ownership certificates

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



2. Lawfully established houses means those accompanied with papers evidencing the establishment under the provisions of Article 43 of this Decree.

Article 43.- Papers on establishment of houses serving as basis for grant of house ownership certificates

1. Domestic individuals having houses established before the effective date of the Housing Law must possess one of the following prescribed papers when applying for house ownership certificates:

a/ The house construction permit, for cases where the construction permit is required under the provisions of law on construction;

b/ The contract on purchase and sale of state-owned houses under the provisions of the Government's Decree No. 61/CP of July 5, 1994, on sale and purchase of, and dealing in, houses or papers on liquidation and pricing of state-owned houses prior to July 5, 1994;

c/ Papers on assignment or donation of gratitude houses, charity houses, solidarity houses;

d/ Papers on house ownership, issued by competent bodies at different periods and such houses and land do not come under all-people ownership established by the State under the provisions of Resolution No. 23/2003/QH11 of November 26, 2003, of the XIth National Assembly, on land and houses managed, arranged for use by the State in the process of materializing the policies on land and house management and the policies on socialist transformation prior to July 1, 1991, Resolution No. 755/2005/NQ-UBTVQH of April 2, 2005, of the National Assembly Standing Committee, providing for the settlement of a number of specific cases on land and houses in the process of implementing the policies on land and house management and the policies on socialist transformation prior to July 1, 1991;

e/ Papers on sale and purchase, donation, exchange, inheritance of houses, which are certified by public notary or authenticated by People's Committees of commune or higher level; papers issued by courts or competent state administrative bodies permitting the ownership of houses, which have taken legal effect; in case of purchasing houses constructed for sale by enterprises with function to deal in houses, there must be house trading contracts concluded by the two parties (without certification by public notary or authentication by People's Committees of different levels);

f/ Cases where houses are built on land to which one of the papers on land use rights has been issued and the land is used as residential land under the provisions of land law;

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



h/ Where certificate applicants do not have any of the papers defined at Points a, b, c, d, e, f and g of this Clause, they must acquire the commune-level People's Committees' written certification that the residential houses and land are currently free from disputes over house ownership and/or land use rights and the houses were built before the promulgation of construction plannings or must comply with plannings in cases where they are built after the promulgation of detailed plannings on construction of urban centers or rural population quarters under the provisions of law on construction.

Provincial-level People's Committees shall specify assorted papers on establishment of residential houses defined in Clause 1 of this Article to suit the practical conditions of their respective localities.

2. Domestic individuals whose houses have been established from the date the Housing Law takes effect, when applying for house ownership certificates, must possess papers as provided for as follows:

a/ Where the houses are newly built, there must be one of the land use right papers defined at Point f, Clause 1 of this Article. In cases where construction requires permission as provided for by the law on construction, there must also be construction permit;

b/ Where the houses are acquired through purchase, donation, exchange, inheritance or other forms prescribed by law, there must be documents on such transactions as provided for in Article 93 of the Housing Law, enclosed with house ownership certificates under the provisions of the Housing Law or house ownership and residential land use right certificates under the Government's Decree No. 60/CP of July 5, 1994, on house ownership and residential land use rights in urban centers or house ownership certificates under the provisions of the Government's Decree No. 95/2005/ND-CP of July 15, 2005, on grant of house ownership or construction work ownership certificates or land use right certificates with acknowledgement of houses under the provisions of law on land or one of the papers on establishment of houses specified at Points a, b, c, d, e and f of Clause 1 of this Article of the transferers.

In case of purchase of houses constructed for sale by enterprises, there must be house sale and purchase contracts concluded by the two parties, one of the papers on investment projects for construction of houses for sale (decisions approving projects or investment decisions or investment certificates) and land use right certificates.

In case of purchase of currently rented houses under state ownership, which have existed before the effective date of the Housing Law, there must be house sale and purchase contracts as provided for in the Government's Decree No. 61/CP of July 5, 1994, on sale and purchase of, and dealing in, residential houses under the provisions of this Decree.

3. Overseas Vietnamese, when applying for house ownership certificates, must possess papers according to the following regulations:

a/ In case of investment in construction of houses for lease, there must be investment certificate and land use right certificate;

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



4. Domestic organizations, foreign organizations and individuals, when applying for house ownership certificates, must possess papers according to the following regulations:

a/ In case of investment in construction of houses for lease, there must be one of the papers on leasing house projects (decisions approving the projects or investment decisions or investment certificates) and land use right certificates;

b/ Where domestic organizations purchase, are donated, inherit or own houses through other forms under the provisions of law, there must be papers on such transactions as provided for in Article 93 of the Housing Law, enclosed with house ownership certificates under the provisions of the Housing Law or house ownership and residential land use right certificates under the provisions of the Government's Decree No. 60/CP of July 5, 1994, on the rights to own houses and the rights to use residential land in urban centers or house ownership certificates under the provisions of the Government's Decree No. 95/2005/ND-CP of July 15, 2005, on grant of house ownership or construction work ownership certificates or land use right certificates with acknowledgement of houses under the provisions of land law of the transferers.

5. In cases where house owners who are not concurrently land users apply for house ownership certificates, apart from the papers evidencing the house ownership under the provisions in Clauses 1, 2, 3 and 4 of this Article, there must be land users' documents permitting the use of land for construction of residential houses, which are notarized by public notary or authenticated by People's Committees of commune or higher level.

6. Organizations and individuals that have lost their house ownership certificates, when applying new ones, must possess the following papers:

a/ Papers certifying the loss of certificates, issued by commune-level police offices of the localities where the certificates were lost;

b/ In case of losing papers not due to natural calamities or fires, there must be papers evidencing an announcement thereof on the mass media, for urban centers (a report on papers or written certification of the agency publishing such report) or written certification by commune People's Committees of the posting of the announcement on loss of papers at the headquarters of the commune People's Committees for 10 working days, for rural areas.

7. Organizations and individuals whose house ownership certificates are damaged or ragged or have all pages on change certification fully inscribed, when applying for change thereof, must have the old house ownership certificates.

8. Organizations and individuals that were granted house ownership certificates and make changes in areas, height, main structure of houses, separate or consolidate land plots for cases of granting house ownership certificates provided for at Point a, Clause 1, Article 11 of the Housing Law against the contents in the certificates, when applying for certification of such changes, must possess the old residential house ownership certificates and the written declarations of the changes, except where the applications for certification of changes have already stated the contents of such changes.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



1. The house ownership and residential land use right certificates provided for at Point a, Clause 1, Article 11 of the Housing Law shall each contain four pages covering the following principal contents:

a/ Page 1 has the national emblem and the certificate name "Residential house ownership and residential land use right certificate";

b/ Page 2 has the contents on the name of the People's Committee competent to issue the certificate; the code number of the certificate; the name(s) of the residential house owner(s) and residential land user(s); the current status of the residential house and the residential land; day, month, year, position of the certificate signer and the serial number of the original dossiers;

c/ Page 3 expresses the content on the diagrams of the residential house and residential land;

d/ Page 4 demonstrates the contents on changes after the issuance of the certificate and matters the house owner should pay attention to when being granted the certificate.

The form of residential house ownership and residential land use right certificates prescribed in this Clause is specified in Appendix 3 to this Decree.

2. The house ownership certificates prescribed at Point b, Clause 1, Article 11 of the Housing Law shall each contain four pages covering the following principal contents:

a/ Page 1 has the national emblem and the certificate name "Residential house ownership certificate";

b/ Page 2 covers the contents on the name of the People's Committee competent to issue the certificate; the code number of the certificate; the name(s) of the house owner(s); the actual house conditions; the content on the used residential land; day, month, year and position of the certificate signer and the serial number of the original dossiers;

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



d/ Page 4 demonstrates the contents on changes after the issuance of the certificate and matters the house owner(s) should pay attention to when being granted the certificate.

The form of house ownership certificate provided for in this Clause shall be specified in Appendix 4 to this Decree.

3. The house ownership and residential land use right certificate defined in Clause 1 of this Article and the house ownership certificate defined in Clause 2 of this Article shall be collectively referred to as the house ownership certificate.

4. The Construction Ministry shall have to print and publish the house ownership certificates according to the contents and forms prescribed in this Article for unified application nationwide.

5. The house ownership certificates issued from the effective date of this Decree shall comply with the form of house ownership certificate as provided for by this Article.

Article 45.- Provisions on grant of, change certifications on, house ownership certificates

1. The competence to grant, change and re-grant house ownership certificates (hereinafter referred collectively to as to grant house ownership certificates) shall comply with the provisions of Article 14 of the Housing Law.

Based on their practical local conditions, provincial-level People's Committees may authorize provincial-level house management bodies to grant house ownership certificates to subjects falling under their competence to grant certificates. In case of being authorized by provincial-level People's Committees to grant certificates, the directors of provincial-level house management bodies shall sign under the authorization and affix the seals of the provincial-level People's Committees.

2. Competence to certify changes after the grant of house ownership certificates is provided for as follows:

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



b/ Where the house ownership certificates fall under the competence of the district-level People's Committees, the district-level house management sections shall give the certification and affix the seals of the district-level People's Committees.

3. The writing of house owners' names in house ownership certificates shall comply with the provisions of Article 12 of the Housing Law. Dead persons' names should not be written in the certificates, except where house owners who have submitted the dossiers of application for certificates die within the duration of certificate granting. For other cases, when dossiers of application for certificates are compiled, persons entitled to inherit such houses must be identified under the provisions of civil law in order to write their names in the certificates.

4. Organizations and individuals that sell or donate parts of their houses may, depending on their own demands, request competent bodies to grant written certifications of changes in the granted house ownership certificates or grant new house ownership certificates for the remaining house and land sections.

5. Organizations and individuals that purchase, inherit or are donated houses adjacent to their own houses may, depending on their demands, request competent bodies to grant separate house ownership certificates to the houses newly transferred to them or grant common house ownership certificates to both their existing houses and the newly transferred houses.

6. Agencies that grant certificates or certify changes on certificates shall have to grant the originals of the house ownership certificates to owners and archive the copies thereof in dossiers; in cases of the house ownership and residential land use right certificates, they shall have to send the copies to the land management bodies of the same level for archive.

Article 46.- House ownership certificate-granting order and procedures with regard to houses granted the house ownership certificates for the first time (hereinafter called grant for short)

1. Organizations and individuals applying for house ownership certificates shall have to compile dossiers of application for certificates and submit them to provincial-level house management bodies, for organizations, or to district-level sections having the function to manage houses, for individuals. For domestic individuals in rural areas, they may file their dossiers at commune People's Committees and within five working days counting from the date of receiving the complete valid dossiers, the commune People's Committees shall have to transfer the dossiers to the district-level sections having the function to manage houses.

Where enterprises have invested in the construction of houses for sale, they shall have to represent the purchasers to carry out the procedures so that competent state bodies issue certificates to the purchasers according to the provisions of this Article.

2. Dossiers of application for house ownership certificates shall each comprise:

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



b/ Copies of the papers on establishment of house as provided for in Article 43 of this Decree. For domestic organizations applying for certificates, they are required to additionally have copies of their business registration certificates or copies of the decisions on their establishment. For overseas Vietnamese applying for certificates, they are required to additionally have copies of the papers evidencing that they are entitled to own houses in Vietnam;

c/ The drawings of the house and land diagram, for the cases specified at Point a, Clause 1, Article 11 of the Housing Law, the drawings of the house diagram, for the cases specified at Point b, Clause 1, Article 11 of the Housing Law, except where such drawing has been included in the papers on establishment of the houses defined at Point b of this Clause and there is practically no change therein.

The drawings of house and residential land diagrams must express the positions, shapes, sizes and acreages of the land plots; shapes, dimensions and flooring spaces of storeys of the houses; the locations of the houses on the land plots, common walls, separate walls. Particularly for condominium apartments, the drawings must express the location of the buildings, the shapes and floor dimensions of the storeys where exist such apartments and the positions, shapes, dimensions and areas of the apartments proposed for grant of certificates.

The drawings of house and residential land diagrams can be made by the applying organizations or individuals themselves, by hired organizations with legal person status in construction activities or by certificate-granting bodies. In cases where certificate-applying organizations or individuals make the drawings by themselves, they must obtain the verifications and certifications from provincial-level house management bodies, for organizations, or from the district-level sections having the function to manage houses, for individuals in urban centers, or from commune People's Committees, for individuals in rural areas. For newly built houses under housing projects, new-urban center projects, the drawings supplied by investors shall be used.

3. Agencies receiving dossiers shall have to check the dossiers, compare copies with their originals; if the dossiers include all papers defined in Clause 2 of this Article, they must issue receipts to certificate applicants, clearly stating the time for hand over of the certificates. Where the house and/or residential land diagrams are drawn by organizations or individuals themselves without verifications and certifications by competent bodies defined at Point c, Clause 2 of this Article, the receipts must state the appointment time for verification; the verification appointment time must not exceed 10 working days counting from the date of receiving the dossiers of application for certificates and shall not be counted into the certificate-granting time limit.

Where dossiers do not include all the prescribed papers, the dossier-receiving persons must clearly state the reasons and provide specific guidance right after receiving the dossiers so that the applicants know and supplement the dossiers.

4. Organizations and individuals applying for certificates shall have to pay certificate-granting fees to dossier-receiving bodies when submitting the dossiers. The certificate-granting fees shall be refunded in cases where certificates are not granted, except for cases where the certificate applicants have made untruthful declarations or are not entitled to own houses in Vietnam.

5. Within 30 days after the receipt of complete valid dossiers, provincial-level house management bodies or district-level sections having the function to manage houses shall have to check the dossiers, express the contents on the certificates, submit certificates to competent bodies for signing, notify the certificate applicants to pay financial obligation amounts under the provisions of law, make entries into house registers and hand the certificates to applicants, and at the same time have to transfer copies of the certificates to the land management bodies of the same level for archive as provided for in Clause 6, Article 45 of this Decree.

The certificate applicants shall have to pay the financial-obligation amounts notified to them before receiving the house ownership certificates.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



Where commune People's Committees hand over the house ownership certificates, they shall have to gather the papers defined in this Clause and must, within 15 working days, submit them to district-level house management bodies for inclusion in the archives.

Article 47.- Order and procedures for re-grant or change of, certification of changes on, house ownership certificates

1. Organizations and individuals that have been granted house ownership certificates which, however, have been lost, damaged, ragged or reduced to no more pages for inscription of changes in land areas, house height or main structures, shall have to compile dossiers of application for re-grant or change of, or certification of changes on, certificates and submit them to provincial-level house management bodies, for organizations, or to district-level sections having the function to manage houses, for individuals.

2. Dossiers of application for re-grant, change, certification of changes shall each include:

a/ The application for re-grant or change of, or certification of changes on, house ownership certificates (made according to the form guided by the Construction Ministry);

b/ Papers related to the re-grant, change or certification of changes as provided for in Article 43 of this Decree.

3. The dossier-receiving agencies shall have to check the dossiers; if they are complete with all papers specified in Clause 2 of this Article, they must issue receipts to the applicants, clearly stating the time for handing of certificates. In case of certification of changes, such receipts must state the appointment time for verification; the verification appointment time must not exceed 10 working days, counting from the date of receiving the dossiers of application for certificates and shall not be counted into the time limit for certification of changes on certificates.

Where dossiers do not include all the prescribed papers, the dossier-receiving persons must clearly state the reasons and have the responsibility to give detailed guidance immediately after receiving the dossiers so that the applicants know and supplement the dossiers.

4. Organizations and individuals applying for re-grant or change of, or certification of changes on, certificates shall have to pay fees for granting of certificates or certification of changes and shall be refunded the paid fees under the provisions of Clause 4, Article 46 of this Decree.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



6. The applicants for re-grant or change of, certification of changes on, certificates shall receive the house ownership certificates at agencies where they have submitted the dossiers and must sign the house ownership registers.

Article 48.- Order and procedures for grant of house ownership certificates with regard to cases of transfer of houses already granted the house ownership certificates

1. Organizations and individuals that purchase, rent-purchase, are donated, inherit houses with house ownership certificates already granted to the transferers shall have to compile dossiers of application for certificates and submit them to provincial-level house management bodies, for organizations, or to district-level sections having the function to manage houses, for individuals. For domestic individuals in rural areas, they may file the dossiers at commune People's Committees which, within five working days counting from the date of receiving the complete and valid dossiers, shall have to transfer the dossiers to the district-level sections having the function to manage houses.

2. Dossiers of application for house ownership certificates shall each comprise:

a/ The application for house ownership certificate (made according to the form guided by the Construction Ministry);

b/ The (written) contract on purchase, rent-purchase, donation or inheritance of house as provided for in Article 93 of the Housing Law, enclosed with a copy of the house ownership certificate of the transferer. For overseas Vietnamese applying for certificates, they are required to additionally have the copies of papers evidencing that they are entitled to own houses in Vietnam.

c/ In case of transfer of parts of houses in granted certificates, there must be drawings of house diagrams as provided for at Point c, Clause 2, Article 46 of this Decree.

3. The dossier-receiving agencies shall have to check the dossiers, compare copies with their originals; if the dossiers include all papers defined in Clause 2 of this Article, they must issue receipts to the certificate applicants, clearly stating the time for handing the certificates. In case of partial transfer of the houses already granted the certificates and the drawings of house and residential land diagrams have not yet been verified and certified by competent bodies defined at Point c, Clause 2, Article 46 of this Decree, the receipts must state the appointment time for verification; the verification time must be within 10 working days counting from the date of receiving the dossiers of application for certificates and shall not be counted into the certificate-granting time limit.

In cases where the dossiers do not comprise all the prescribed papers, the dossier-receiving persons must clearly state the reasons and have to provide specific guidance immediately after the receipt of dossiers so that the certificate applicants know and supplement the dossiers.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



5. Within 30 days counting from the date of full receipt of valid dossiers, provincial-level house management bodies or district-level sections having the function to manage houses shall have to check the dossiers, express the contents on certificates, submit them to competent agencies for signing, notify the certificate applicants to fulfill the financial obligations according to the provisions of law, make entries into house ownership registers and hand the certificates to applicants, and at the same time send copies of the certificates to the land management agencies of the same level for archive according to the provisions of Clause 6, Article 45 of this Decree.

The certificate applicants shall have to pay the notified-financial obligation amounts in order to receive the house ownership certificates.

6. House owners shall receive house ownership corticats at the agencies which have received the dossiers; in cases where certificates are received by other persons, there must be authorization letters of the house owners, which are authenticated by commune-level People's Committees. Upon receipt of certificates, house owners must submit receipts of the notified financial obligation amounts and the transferers' house ownership certificates to the certificate-handing agencies for archive in dossiers; owners or their authorized persons, when receiving the certificates, must sign in house ownership registers.

Article 49.- Fees for grant of certificates, certification of changes on house ownership certificates

Organizations and individuals applying for certificates, certification of changes on house ownership certificates shall have to pay fees for grant of, or certification of changes on, house ownership certificates according to the following regulations:

1. Not more than VND 100,000/certificate, for individuals, not more than VND 500,000/certificate, for organizations that apply for house ownership certificates for the first time for residential houses and cases of being transferred parts of houses already granted house ownership certificates.

2. Not more than VND 50,000/certificate, for the following cases:

a/ Houses have been granted the house ownership certificates, and now the owners apply for change, re-grant of, or certification of changes on, the granted house ownership certificates;

b/ Houses have been granted the house ownership and residential-land use right certificates under the Government's Decree No. 60/CP of July 5, 1994, on the rights to own houses and rights to use residential land in urban centers, the house ownership certificates under the provisions of the Government's Decree No. 95/2005/ND-CP of July 15, 2005, on grant of certificates of house ownership, construction work ownership or land use right certificates under the provisions of land law with the acknowledgement of houses, and now owners wish to change, re-grant the house ownership certificates according to the form prescribed in this Decree;

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



3. Based on the fee levels prescribed in Clauses 1 and 2 of this Article, provincial-level People’s Councils shall set the specific fee rates to suit the practical local conditions.

Article 50.- Registration fees and other financial obligations upon grant of certificates, certification of changes on house ownership certificates

1. Organizations and individuals establishing houses due to transfer from other organizations or individuals shall have to pay registration fees before being granted house ownership certificates, except for cases where they have already paid or are exempt from fee payment under the provisions of law on registration fees.

2. Registration fees shall not be collected in the following cases:

a/ Organizations and individuals are granted for change of, re-granted or given certification of changes on, house ownership certificates;

b/ Individuals establishing houses through the form of developing separate houses of households or individuals.

3. Organizations and individuals applying for grant of, or certification of changes on, house ownership certificates shall have to fulfill other financial obligations if so provided for by law upon recognition of house ownership and/or land use rights, except for cases of exemption or debt acknowledgement.

Article 51.- Cases not entitled to grant of house ownership certificates

1. Houses lie within areas banned from construction or encroach upon protection boundaries of technical infrastructures or classified historical or cultural relics.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



3. Houses under state ownership.

4. Houses otherwise committed by the Vietnamese government and foreign governments or international organizations.

5. There exist disputes over, or complaints about, house ownership and/or residential land use rights, which have not yet been settled under provisions of law.

6. Cases ineligible to own houses or unqualified for grant of house ownership certificates under the provisions of law on housing.

If provincial-level house management bodies or district-level sections having the function to manage houses, when dealing with dossiers of application for house ownership certificates, detect cases ineligible for grant of house ownership certificates specified in this Article, they shall have to notify the involved parties in writing thereof, clearly stating the reasons for non-grant of certificates, and return the dossiers to the applicants within 15 days counting from the date of receiving the dossiers.

Chapter IV

CONTENTS OF MANAGEMENT OF THE USE OF HOUSES

Article 52.- House warranty

1. Houses must be warranted after completing the construction of, and putting the houses to use, except for cases where houses are damaged due to natural calamities, enemy sabotage or by users.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



3. Where organizations or individuals constructing or selling houses without performing the obligation for house warranty, house owners may initiate lawsuits at the court; where the house warranty obligations are not fully performed, thus causing damage to other persons, they must pay compensations or shall be examined for penal liability according to the provisions of law.

Article 53.- House maintenance

1. House owners shall have to perform the house maintenance according to the provisions of the Housing Law and the law on construction, unless otherwise agreed upon between house owners and users. Where house owners cannot be identified yet, the current users shall have to perform the maintenance of such houses.

2. For urban houses and condominiums, if the persons responsible for maintenance fail to perform the maintenance of the facades and the sections under common ownership according to the regulations, the ward People's Committees shall request in writing the owners to perform the maintenance. If after 30 days counting from the date the ward People's Committees send their written requests the owners do not perform the maintenance, the ward People's Committees shall perform the maintenance and the owners shall have to pay all expenses for the organization of such maintenance.

3. If the responsible persons' failure to perform the house maintenance has caused damage to other persons, they must pay compensations therefor or shall be examined for penal liability according to provisions of law.

Article 54.- Funds for maintenance of condominiums' sections under common ownership by more than one owners

1. For condominiums sold from the effective date of the Housing Law, investors shall have to pay the following funding amounts for the maintenance of the condominiums:

a/ For the sold house floor areas, 2% of the sale proceeds must be paid. This money amount shall be calculated into sale money to be paid by purchasers;

b/ For the house floor areas not sold but retained by investors (excluding areas under common use), 2% of the value of such floor area shall be paid. This amount shall be calculated at the highest sale prices of apartments of such condominiums.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



2. For condominiums sold before the effective date of the Housing Law, for which 2% has not yet been collected by investors, the maintenance funding shall be distributed as follows:

a/ Investors retaining the house floor areas (excluding the areas for common use) shall contribute maintenance fundings corresponding to the retained areas;

b/ Apartment owners shall contribute 70% of the maintenance funding corresponding to their separate acreages. Local budgets shall provide as support the remaining 30% for owners to perform the maintenance.

3. The maintenance funding shall be deposited at commercial banks and managed by condominium management boards in service of the maintenance work according to the condominium management regulations.

4. Where the collected maintenance fundings are not enough, contributions shall be mobilized from owners corresponding to their separately owned flooring spaces. Where condominiums must be dismantled while the maintenance fundings prescribed at Point a, Clause 1 of this Article have not yet been used up, the remainder shall be used to support the resettlement upon reconstruction of the condominiums or included into the condominium maintenance funds after the reconstruction.

Article 55.- Demolition of houses currently on lease

1. The demolition of houses currently on lease shall comply with the provisions of Article 88 of the Housing Law.

2. Where houses must be urgently demolished due to heavy damage, which may collapse, the written notification of the demolition is not required.

3. Where demolition is carried out for reconstruction of houses while the leasing term has not expired yet, the lessors shall have to arrange other lodgings for the lessees during the period of house demolition and reconstruction, except for cases where the lessees agree to find lodgings by themselves.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



1. The demolition of condominiums of many owners for reconstruction under projects must be agreed upon by two-thirds of the total number of condominium owners. Where the reconstruction of condominiums has been agreed upon by two-thirds of the total number of condominium owners, the coercive evacuation of other owners and users shall comply with the provisions of law. The expenses for coercive demolition shall be contributed by the coerced owners.

2. Where condominiums must be demolished for reconstruction under the provisions of Clause 1 of this Article, the owners shall be resettled and enjoy some benefits under the following regulations:

a/ To be provided with evacuation funding supports by investors; to be provided with lodgings or funding supports for self-finding of lodgings during the period of reconstruction;

b/ Owners who wish to purchase more floor areas of new houses under projects on reconstruction of condominiums at commercial prices shall be given priority to buy them first.

Chapter V

SOME SPECIFIC PROVISIONS ON HOUSE-RELATED TRANSACTIONS

Article 57.- Trading in houses under common ownership with co-owner(s) who is/are absent

1. The trading in houses under common ownership shall comply with the provisions of Article 96 of the Housing Law.

2. Where a co-owner is absent and his/her residence place is unidentifiable, the remaining co-owners must file their applications requesting the court to declare such person missing under the provisions of law before selling such houses.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



3. Where the person declared missing has died or been declared dead by a court, the bank deposit money amount mentioned in Clause 2 of this Article shall be divided to his/her lawful heirs under the provisions of civil law.

Article 58.- Rent-purchase of social houses

1. The rent-purchase of social houses must be carried out under contracts between social house-managing units and rent-purchasers.

2. After the advance payment of 20% of the value of the rent-purchased houses, the rent-purchasers may pay the remainder within the period prescribed by provincial-level People's Committees, which, however, must not be shorter than 15 years and longer than 20 years.

3. Upon the expiry of the house rent-purchase term as provided for in Clause 2 of this Article, units assigned to manage houses shall have to complete the procedures for termination of the rent-purchase contracts and transfer the house purchase dossiers to district-level People's Committees of the localities where the rent-purchased houses are located for grant of house ownership certificates to rent-purchasers.

4. Units assigned to manage social houses may unilaterally stop performing contracts on social house rent-purchase and recover the houses currently on rent-purchase in one of the following cases:

a/ The rent-purchasers do not pay rents for three consecutive months without plausible reasons;

b/ The rent-purchasers repair, restructure, renovate or expand the houses on rent-purchase at their own will;

c/ The rent-purchasers sell or transfer the right to rent to other persons at their own will without consent of house-managing units.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



Article 59.- House exchange

1. The transactions of house exchange prescribed in Section 6, Chapter V of the Housing Law shall only apply to cases where the parties exchange houses and transfer the house ownership to each other, not to the cases of house use right exchange.

2. The house exchange parties shall have to strictly comply with the house exchange order and procedures and fulfill all financial obligations towards the State according to regulations. All cases of converting the transaction form of house exchange contract into house trading contract shall be regarded as breaching law and the parties shall not be granted certificates of ownership over the exchanged houses.

Article 60.- House mortgage

1. The house mortgage must be carried out via contracts. House mortgage contracts must contain the contents defined in Article 93 of the Housing Law and comply with the provisions of Section 8, Chapter V of the Housing Law.

2. Immediately after the conclusion of mortgage contracts, the mortgagees shall have to notify the mortgage in writing to provincial-level house management bodies of the localities where exist the houses, if the mortgagors are organizations, or to district-level house management bodies, if the mortgagors are individuals. Such written notification must clearly state the names of house owners, the addresses of the mortgaged houses and the mortgage duration.

3. After the mortgagors fulfill the obligations towards the mortgagees or where the mortgaged houses are auctioned to settle the mortgage obligations, the mortgagees must send written notices to house management bodies on the demortgage or auction of the mortgaged houses.

4. Upon receipt of notices mentioned in Clauses 2 and 3 of this Article, the house management bodies must record them into house ownership registers for monitoring of the mortgage. Where house owners are detected as having mortgaged their houses at other credit institutions, the house management bodies must immediately notify in writing the mortgagees thereof.

Article 61.- House-related transactions involving overseas Vietnamese, foreign organizations or individuals

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



a/ They are entitled to own houses in Vietnam under the provisions of Article 126 and satisfy all the conditions prescribed in Article 92 of the Housing Law;

b/ They carry out the trading in, donation, inheritance of houses in strict accordance with the provisions of Chapter V of the Housing Law and the provisions of this Decree;

c/ Those who are other than the subjects defined at Point 126 of the Housing Law or those who fall into the subjects defined at Point 2, Article 126 of the Housing Law but are currently owning houses in Vietnam, if being donated or inheriting houses, may only enjoy the value of such houses according to the provisions of Article 68 of this Decree.

2. Overseas Vietnamese, foreign organizations and individuals that conclude contracts on renting houses in Vietnam shall have to comply with the following regulations:

a/ They must satisfy all conditions for renting houses in Vietnam as provided for in Article 131 of the Housing Law;

b/ The house-renting contracts must be made in writing under the provisions of Article 93 of the Housing Law;

c/ The house lessees must fully perform their rights and obligations specified in the Housing Law, the Civil Code and this Decree.

Article 62.- House contracts

1. Transactions on sale and purchase, rent-purchase, donation, exchange, mortgage, lending, permitted temporary stay, authorized management of houses must be concluded in writing (referred collectively to as house contracts); the contents of these contracts must conform to the provisions of Clause 2, Article 93 of the Housing Law and the provisions of the Civil Code. Where houses are donated by legal persons, there must be documents on donation.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



3. Contracts on rent, rent-purchase of social houses shall be made in writing, specifying the rights and obligations of the involved parties and must not be notarized nor authenticated.

Social-house renting contracts shall be signed according to set terms which, however, shall not exceed 5 years (60 months). At the end of such term, the lessees shall be considered by competent bodies for extension of contracts if they have fully implemented the house-renting regulation during the leasing terms and remain eligible and satisfy the conditions to rent social houses. Social house-renting contracts shall be made according to the form in Appendix 6 and under the guidance in Appendix 7 to this Decree.

4. Official-duty house renting contracts shall be made in writing, specifying the rights and obligations of the involved parties and must not be notarized nor authenticated.

Official-duty house-renting contracts shall be signed for terms not exceeding the terms of office of the lessees as stated in the decisions on transfer or rotation of cadres. Where the leasing contracts expire but the lessees still satisfy the conditions on subjects and floor area for renting official-duty houses under the provisions of the Housing Law, this Decree and have fully paid rents, the official-house management units shall extend the leasing contracts until the lessees move to other places, retire from work or are no longer eligible for renting such official-duty houses. The official-duty house renting contracts shall be made according to the form in Appendix 8 to this Decree (not printed herein).

5. Other house-renting contracts must be made in writing, specifying the rights and obligations of the two parties under the provisions of the Housing Law and the Civil Code. In cases where individuals lease houses for less than six months or house-leasing organizations have the function of dealing in houses, the house-renting contracts must not be notarized nor authenticated. The house-renting contracts shall be made according to the form in Appendix 9 to this Decree (not printed herein).

6. Contracts on exchange, donation, mortgage, lending, permitted temporary stay, authorized management of houses shall comply with the provisions of the Housing Law and the Civil Code.

Article 63.- Time for transfer of house ownership, for transactions of sale and purchase, donation, exchange, rent-purchase, inheritance of houses

1. The time for transfer of house ownership, for cases of house sale and purchase, shall be counted from the date the house sale and purchase contracts are notarized or authenticated. Where a party to the house sale and purchase is an organization having the function to deal in houses, the time for transfer of house ownership shall be the time the seller hand over the house to the purchaser under the agreement in the contract.

2. The time for transfer of house ownership, for cases of house donation, shall be counted from the date the house donation contracts are notarized or authenticated. Where legal persons donate houses, the time for house ownership transfer to the donees shall be counted from the date the donors sign the donation documents.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



4. The time for transfer of house ownership, for cases of house rent-purchase, shall be counted from the time of ending the rent-purchase terms and the rent-purchasers have fully paid the monthly rents according to the provisions of Clause 2, Article 58 of this Decree.

5. The time for transfer of house ownership, for cases of house inheritance, shall be counted from the time of opening the inheritance. The identification of organizations, individuals inheriting houses shall comply with the provisions of civil law.

Chapter VI

HOUSES IN VIETNAM OF OVERSEAS VIETNAMESE, FOREIGN ORGANIZATIONS OR INDIVIDUALS

Article 64.- Ownership of houses in Vietnam by overseas Vietnamese, foreign organizations or individuals

Ownership of houses in Vietnam by overseas Vietnamese, foreign organizations or individuals shall comply with the provisions of Section 1, Chapter VI of the Housing Law and the provisions of this Decree.

Article 65.- Ownership of houses by overseas Vietnamese

1. Overseas Vietnamese who are Vietnamese citizens or of the Vietnamese stock, residing and earning their living for long terms in foreign countries under the provisions of the May 20, 1998 Law on Vietnamese Nationality (which took effect on January 1, 1999).

2. Overseas Vietnamese may own houses in Vietnam in one of the following forms:

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



b/ Purchase of, being donated with, inheritance of, houses.

3. Overseas Vietnamese investing in the construction of houses for lease shall be granted house ownership certificates over such houses by competent state bodies. The house ownership duration shall be the duration specified in investment certificates and clearly stated in the house ownership certificates.

Where investment is made in the construction of houses for sale, the State shall not grant house ownership certificates to investors. After the completion of construction under projects, investors may sell such houses to domestic organizations and individuals as well as overseas Vietnamese entitled to own houses in Vietnam according to the provisions of the Housing Law and this Decree. Investors shall, on behalf of house purchasers, have to carry out the procedures according to the provisions of Chapter III of this Decree so that competent state bodies grant house ownership certificates to house purchasers.

Investors building houses for sale or lease shall have to pay land use levies, land rents and other financial obligations under provisions of law.

4. Overseas Vietnamese mentioned below may purchase, be donated with, exchange or inherit houses like domestic Vietnamese (without restriction on the number of houses they can own):

a/ Overseas Vietnamese who return to Vietnam for long-term investment and directly carry out investment activities under the provisions of the Investment Law and are granted the investment certificates;

b/ Overseas Vietnamese who have rendered great services to the country, including those who enjoy the preferential treatment regimes under the June 29, 2005 Ordinance on preferential treatment of persons with meritorious services to revolution; those who have made contributions to the cause of national liberation and construction and were awarded orders and/or medals by the State President or the Government; diplomas of merit by the Prime Minister; and/or commemorative badges by the Presidium of the Central Committee of Vietnam Fatherland Front or ministers, heads of central branches for the cause of their respective branches; persons who participate in the Executive Committees of Vietnamese socio-political organizations of the provincial or higher level with certification by such socio-political organizations; persons who are elected into the Central Committees of such organizations, who play the core role in movements or organizations of overseas Vietnamese and establish relations with the country through the Committee on Overseas Vietnamese and persons who have actively contributed to and assisted representative agencies or external activities of Vietnam in foreign countries, with the certification by such agencies;

c/ Cultural activists, scientists who wish to return to Vietnam for regular activities in service of national construction, including culturalists, scientists conferred scientific, educational, cultural or art titles or degrees of Vietnam or foreign countries; specialists in the socio-economic fields. The persons mentioned at this Point must be invited to Vietnam by Party or State leaders, ministers, heads of ministerial-level agencies to work as specialists or collaborators in the fields of science, education, culture and art, with the certification by leaders of the inviting agencies;

d/ Overseas Vietnamese permitted to return to live permanently in Vietnam, who file their applications to live permanently in Vietnam and are approved by competent authorities of Vietnamese diplomatic missions.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



The Foreign Affairs Ministry shall coordinate with the Public Security Ministry in guiding in detail the determination of the residence duration in Vietnam of overseas Vietnamese. Upon the grant of visa, it shall ensure that those who wish may purchase houses as provided for in this Clause.

6. Overseas Vietnamese who are not entitled to own houses in Vietnam or are entitled to own a limited number of houses in Vietnam under the provision of Point c, Clause 1, Article 61 of this Decree, if being donated or inheriting houses, may only enjoy the value of such houses under the provisions of Article 68 of this Decree.

7. The order and procedures for grant of house ownership certificates to overseas Vietnamese shall comply with the provisions of Chapter III of this Decree.

The Foreign Affairs Ministry shall guide in detail the papers and procedures for certifying overseas Vietnamese to be entitled to own houses in Vietnam.

Article 66.- Ownership of houses in Vietnam by foreign organizations or individuals

1. Foreign organizations and individuals may own houses in Vietnam through investment in the construction of houses for lease.

2. Foreign organizations and individuals investing in the construction of houses for lease shall be granted certificates of ownership over such houses. The house ownership duration shall be the duration prescribed in the investment certificates and stated in the house ownership certificates.

In case of investment in the construction of houses for sale, the State shall not grant house ownership certificates to investors. After the completion of construction under projects, investors may sell such houses to domestic organizations or individuals and overseas Vietnamese entitled to own houses in Vietnam under the provisions of the Housing Law and this Decree. Investors shall, on behalf of the house purchasers, have to carry out the procedures prescribed in Chapter III of this Decree so that competent state bodies grant house ownership certificates to house purchasers.

Investors constructing houses for sale or lease shall have to pay land use levies, land rents and other financial obligations under the provisions of law.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



4. The order and procedures for the grant of house ownership certificates to foreign organizations and individuals shall comply with the provisions of Chapter III of this Decree.

Article 67.- Overseas Vietnamese, foreign organizations and individuals renting houses in Vietnam

1. House-renting subjects and conditions include:

a/ Foreign organizations and individuals permitted to enter Vietnam for a duration of three consecutive months or more;

b/ Overseas Vietnamese who are staying in Vietnam and wish to rent houses.

2. The house- renting order and procedures, the rights and obligations of house lessees shall comply with the provisions of Clause 2, Article 61 of this Decree.

Article 68.- Cases of being donated or inheriting houses and only enjoying the value of such houses

1. The following foreign organizations and individuals, overseas Vietnamese, when being donated or inheriting houses in Vietnam, shall not be entitled to own but only enjoy the value of such houses:

a/ Foreign organizations and individuals;

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



c/ Overseas Vietnamese who are entitled to own only one house and are currently owning houses in Vietnam.

2. Organizations and individuals that are donated or inherit houses as provided for in Clause 1 of this Article may directly sell or authorize organizations or individuals under the provisions of civil law to do so when having the following papers:

a/ Papers on house donation or inheritance under the provisions of Article 93 of the Housing Law;

b/ House ownership certificates under the provisions of the Housing Law or house ownership or residential land use right certificates under the provisions of the Government's Decree No. 60/CP of July 5, 1994, on the right to own houses and the right to use residential land in urban centers or house ownership certificates under the Government's Decree No. 95/2005/ND-CP of July 15, 2005, on the grant of house ownership or construction work ownership certificates or land use right certificates already issued under provisions of land law with the acknowledgement of houses of donors or estate leavers;

c/ In case of authorizing organizations or individuals to sell, there must be letters of authorization as provided for by law.

3. Where house donees or heirs transfer money from house sale abroad, they must abide by the provisions of Vietnamese law on transfer of money abroad.

Chapter VII

STATE MANAGEMENT OF HOUSES

Article 69.- Elaboration of national orientations for housing development

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



2. The national housing development orientation shall cover the following principal contents:

a/ The present housing situation of the country;

b/ The analysis and evaluation of the housing development results and problems as well as the causes thereof;

c/ Housing development viewpoints, objectives and requirements in the coming period, pinpointing key programs, basic viewpoints, objectives, requirements and norms on development of commercial houses, social houses, official-duty houses, houses for social-policy beneficiaries;

d/ Solutions to the attainment of housing development objectives, including mechanisms and policies on planning, land, technical infrastructures, finance, credit and implementation measures.

3. Based on the socio-economic development strategies and housing development orientations, the Prime Minister shall promulgate key housing development programs in order to provide dwelling houses for subjects meeting with housing difficulties in regions and zones.

4. The basic housing development targets in national housing development orientations and programs must be included in the national socio-economic development tasks of each period. In the course of implementation, the set orientations and programs must be preliminarily reviewed, revised, amended, adjusted and supplemented in time to suit the practical situation.

At the end of each implementation period, the implementation results must be finally reviewed and evaluated.

Article 70.- Formulation of local housing development programs

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



2. The local housing development programs shall cover the following principal contents:

a/ The general housing situation of localities;

b/ The analysis and evaluation of housing development results and problems as well as the causes thereof;

c/ Basic viewpoints, objectives, demands and norms on development of commercial houses, social houses, official-duty houses in localities, formulating specific housing development plans in order to provide lodgings for displaced people subject to ground clearance; workers in export processing zones, economic zones, industrial parks, hi-tech parks; subjects currently living in regions frequently affected by natural calamities, dangerously degraded condominiums, lodging quarters with degraded technical infrastructures which fail to meet the requirements; poor ethnic minority households in rural and mountainous areas; people with meritorious services to the revolution who are meeting with housing difficulties;

d/ Measures for implementation of housing development programs, plans regarding the planning on the use of land for housing development; mechanisms and policies on land, technical infrastructure, finance, credit, preference to call for investment; tentative lists of housing development projects; implementation schedule; specific tasks and responsibilities of provincial/municipal Services, Committees, branches, administrations of all levels in the course of implementation.

3. The basic housing development targets in housing development programs and plans must be included in the local socio-economic development tasks in each period.

In the course of implementation, the set programs and plans must be preliminarily reviewed, revised, amended, adjusted or supplemented in time to suit the practical situation.

Upon the completion of programs and plans, the implementation results must be finally reviewed and evaluated.

4. Provincial-level People's Committees shall have to allocate local budget for investigations, surveys, elaboration of housing development programs and plans of their respective localities.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



1. Agencies responsible for management of house dossiers:

a/ Provincial-level house management bodies shall manage the dossiers of houses with house ownership certificates granted by provincial-level People's Committees;

b/ District-level People's Committees shall manage the dossiers of houses with house ownership certificates granted by district-level People's Committees.

Assisting the district-level People's Committees in performing the management of house dossiers shall be district-level sections having the function to manage houses.

2. House dossiers shall cover the contents prescribed in Clause 3, Article 66 of the Housing Law.

3. House dossier management agencies shall have to supply information on houses to agencies defined in Clause 7 of this Article and organizations or individuals with rights and obligations related to such houses upon request.

4. Information on houses are information relevant to the present conditions and legality of houses and residential land stated in the house dossiers.

5. Organizations and individuals requesting the supply of information on houses must file their written requests, clearly stating their full names and addresses, contents of information to be supplied and purposes of their requests for supply of information.

6. Information can be supplied in forms of written replies, copies or extracts of dossiers, or via computer networks.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



The Finance Ministry shall coordinate with the Construction Ministry in setting the rates, state budget remittance percentages and regimes of use of information supply charges defined in this Article.

Article 72.- Surveys, statistics, formulation of data on houses

1. Once every five years, the People's Committees of all levels shall have to conduct surveys and statistics and formulate data on houses in their respective localities to serve the requirements of elaboration of their local housing development programs and plans according to the following regulations:

a/ House surveys and statistics shall be carried through distribution of questionnaires to every organization participating in housing development and every household in localities;

b/ Surveys and statistics shall be organized from the commune level. The commune-level People's Committees shall distribute survey and statistical cards, sum up data in their respective localities and report thereon to district-level People's Committees which shall have to sum up the data of all communes in their districts and report thereon to provincial-level People's Committees. Provincial-level People's Committees shall have to sum up the data reported by all their districts and report thereon to the Construction Ministry;

c/ The contents of survey questionnaires and data statistic and sum-up forms shall be guided by the Construction Ministry in coordination with the General Statistics Office.

2. Once every five years, the Construction Ministry shall have to sum up the data of the localities, formulate data on houses throughout the country and promulgate them at the beginning of plan years to serve the elaboration of national housing development policies, orientations and programs.

3. Funds for the investigations, surveys, statistics and formulation of data on houses shall be channeled from the state budgets.

The Construction Ministry shall assume the prime responsibility for, and coordinate with the Planning and Investment Ministry and the Finance Ministry in, formulation of the contents of, and budget capital plans for, investigations, surveys, statistics and formulation of databases on houses and submit them to the Prime Minister for decision.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



1. Cadres and public servants working in the domain of housing development and management of all levels and branches must, at least once every five years, attend training or fostering courses on knowledge about housing development and management so as to be updated with mechanisms, policies, legal provisions, domestic and foreign information on housing development and management.

2. The Construction Ministry shall stipulate the plans, programs and contents of, and coordinate with ministries, branches and localities in organizing, such training and fostering courses for the contingent of cadres and public servants involved in housing development and management.

3. Funds for compilation of teaching stuffs and organization of such courses shall be contributed by trainees. Agencies sending their cadres and public servants to attend the courses shall have to deduct their own funds for their cadres and public servants attending refresher courses on housing development and management.

Article 74.- Management of housing real estate brokerage activities

1. Organizations and individuals of all economic sectors satisfying the conditions prescribed in Clause 2 of this Article may participate in housing real estate brokerage activities.

2. Conditions for organizations, individuals participating in housing real estate brokerage activities:

a/ Individuals practicing housing real estate brokerage must go through training courses on real estate brokerage and be granted certificates by agencies or organizations having the function of providing real estate brokerage training according to the provisions of law on real estate business;

b/ Organizations and individuals conducting housing real estate brokerage activities must have the real estate brokerage business registration certificates according to the provisions of law on real estate business.

3. The Construction Ministry shall promulgate regulations on organization of housing real estate brokerage activities.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



1. To be answerable to the Government for the unified state management of houses throughout the country.

2. To study and submit to the Prime Minister for promulgation the national housing development orientations and programs for every ten-year period, based on the monitoring and evaluation of the implementation of housing development programs of localities.

3. To study and submit to the Government, the Prime Minister for amendment, supplementation or promulgation or to amend, supplement or promulgate according to competence legal documents on housing development and management.

4. To direct and guide the localities in organizing and implementing the housing development and management in localities.

5. To examine, inspect and settle according to competence or submit to the Government, the Prime Minister for settlement of difficulties and problems of branches, levels, agencies, organizations and individuals in the course of performing the work of housing development and management.

6. To periodically report to the Government, the Prime Minister on the implementation of the Housing Law and this Decree nationwide.

Article 76.- Responsibilities of concerned ministries and branches for the state management of houses

1. Ministries and ministerial-level agencies shall, within the ambit of their respective tasks and powers, have to coordinate with the Construction Ministry in performing the state management of houses.

2. To study, amend, supplement and promulgate legal documents on housing development and management according to their respective functions and tasks assigned by the Government.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



Article 77.- Responsibilities of localities for state management of houses

1. People's Committees of all levels shall have the responsibilities:

a/ To perform the state management of houses in their respective localities;

b/ To direct, guide and organize the performance, examination and inspection of housing development and management in their respective localities according to their assigned functions and tasks;

c/ To propagate to and mobilize organizations and individuals to observe the legal provisions on housing development and management;

d/ To periodically report to their superiors on the implementation of the Housing Law in their respective localities.

2. Apart from the provisions of Clause 1 of this Article, provincial-level People's Committees shall have to promulgate specific mechanisms and policies on housing development and management, housing development programs and plans as well as other contents assigned to them in the Housing Law and this Decree to suit the practical conditions of their respective localities and direct the organization of implementation thereof.

3. Assisting provincial-level People's Committees in performing the function of state management of houses shall be provincial-level house management bodies. Provinces with urban centers of grade 2 or higher and centrally-run cities shall have to set up housing development and management sections in the provincial-level house management bodies. Provincial-level house management bodies of other provinces may set up housing development and management sections or incorporate such functions with other sections but must ensure that there are at least two cadres specializing in housing development and management work.

People's Committees of provincial towns must have housing development and management sections. People's Committees of rural districts, urban districts, provincial towns may set up housing development and management sections or incorporate such functions with other sections, but must ensure that there are at least two cadres specializing in housing development and management work.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



Article 78.- The Steering Committee for Housing Policies

1. The Prime Minister shall decide on the establishment of the Central Steering Committees for Housing Policies, presidents of provincial-level People's Committees shall decide on the establishment of provincial-level Steering Committees for Housing Policies to help direct the implementation of the Housing Law and the policies relating to housing development and management.

The Central Steering Committee and the provincial-level Steering Committees shall have the assisting inter-branch groups of specialists.

Members of the Steering Committees and the specialists' groups shall work on a part-time basis and enjoy allowances according to regulations. Budgets of the same level shall provide funds for operations of the Steering Committees and the assisting specialists' groups.

2. The Prime Minister and presidents of provincial-level People's Committees shall define the functions, tasks and operation regulations of the Steering Committees and assisting specialists' groups.

Article 79.- The role of Vietnam Fatherland Front and its member organizations in the housing domain

The Vietnam Fatherland Front and its member organizations are requested to participate in the following activities in the housing domain:

1. Coordinating with state bodies in propagating for the undertakings, policies and legal provisions in the housing domain and participating in reconciliation of house-related disputes;

2. Participating in the study of, making proposals and comments to state bodies on, formulation of mechanisms, policies and law on houses;

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



4. Supervising state bodies, organizations and individuals in the realization of housing policies.

Chapter VIII

IMPLEMENTATION PROVISIONS

Article 80.- Implementation effect

1. This Decree shall take effect 15 days after its publication in "CONG BAO."

2. This Decree shall replace the following decrees:

a/ The Government's Decree No. 60/CP of July 5, 1994, on the rights to own houses and the rights to use residential land in urban centers;

b/ The Government's Decree No. 71/2001/ND-CP of October 5, 2001, on preferences on investment in the construction of houses for sale or lease;

c/ The Government's Decree No. 81/2001/ND-CP of November 5, 2001, on purchase of houses in Vietnam by overseas Vietnamese.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



a/ The contents related to dealing in houses, trading in houses not for commercial purposes in the Government's Decree No. 61/CP of July 5, 1994, on house trading and dealing;

b/ The contents related to the grant of house ownership certificates in the Government's Decree No. 95/2005/ND-CP of July 15, 2005, on the grant of house ownership, construction work ownership certificates;

c/ The contents related to housing development, management of house use and ownership, house-related transactions in the legal documents promulgated by the Government, the Prime Minister, ministries, ministerial-level agencies, provincial-level People's Committees, which are contrary to the contents of this Decree.

Article 81.- Implementation responsibilities

Ministers, heads of ministerial-level agencies, heads of government-attached agencies, and presidents of provincial/municipal People's Committees shall have to implement this Decree.

 

 






 

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



SOCIAL-HOUSE RENTING, RENT-PURCHASE PRICE BRACKET

Table 1. Social-house rent bracket, applicable to low-rises in rural areas

Unit of calculation: VND 1,000/m2

            Region

Rent

Delta

Mid-land

Mountain

Minimum rent

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



Minimum rent

Maximum rent

Minimum rent

Maximum rent

Rent bracket

13

20

10

18

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



16

 

Table 2. Social-house rent bracket, applicable to condominiums

Unit of calculation: VND 1,000/m2

            Grade of urban                                               center

Rent

Urban Centers of special grade and
grade I

Urban center of grade II
and grade III

Urban centers of grade IV
and grade V

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



Maximum rent

Minimum rent

Maximum rent

Minimum rent

Maximum rent

Rent bracket

15

28

13

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



12

22

 

Table 3. Social-house rent bracket, applicable in economic zones, industrial parks, export processing zones and hi-tech parks

Unit of calculation: VND 1,000/m2

 

Concentrated industrial parks

Rent rate

Minimum rent

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



9

25

 

Table 4. Social-house rent-purchase price bracket

Unit of calculation: VND 1,000/m2

Price

First payment

Monthly paid

Urban centers of special grade and grade I

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



Urban centers of grade IV,
grade V

Minimum rent

Maximum rent

Minimum rent

Maximum rent

Minimum rent

Maximum rent

 

20% of the investment price for 1m2 of flooring space apartment x Use flooring space of the apartment

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



30

16

27

14

24

 

APPENDIX 2.

OFFICIAL-DUTY HOUSE RENT BRACKET

Table 1. Official-duty villa house rent bracket

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



       Grade of urban                   center

Rent

Urban centers of special grade and grade I

Urban centers of grade II,
grade III

Urban centers of grade IV,
grade V

 

Minimum rent

Maximum rent

Minimum rent

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



Minimum rent

Maximum rent

Rent bracket

22

42

20

38

18

34

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



Table 2. Official-duty condominium rent bracket

Unit of calculation: VND 1,000/m2

        Grade of urban                                 center

Rent

Urban centers of special grade and grade I

Urban centers of grade II and
grade III

Urban centers of grade IV and
grade V

 

Minimum rent

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



Minimum rent

Maximum rent

Minimum rent

Maximum rent

Rent bracket

19

35

17

31

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



28

 

Table 3. Official-duty low-rise rent bracket

Unit of calculation: VND 1,000/m2

        Grade of urban                      center

Rent

Urban centers of special grade and grade I

Urban centers of grade II and
grade III

Urban centers of grade IV and
grade V

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



Maximum rent

Minimum rent

Maximum rent

Minimum rent

Maximum rent

Rent bracket

14

25

15

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



11

20

 

Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Nghị định 90/2006/NĐ-CP ngày 06/09/2006 Hướng dẫn Luật Nhà ở

Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


56.016

DMCA.com Protection Status
IP: 3.236.18.161