Hướng dẫn về điều kiện để người phạm tội tham nhũng được giảm án tử hình

01/02/2021 16:44 PM

Nghị quyết 03/2020/NQ-HĐTP do Hội đồng Thẩm phán TANDTC ban hành có hiệu lực từ ngày 15/01/2021, trong đó, hướng dẫn cụ thể về điều kiện để người phạm tội tham nhũng và tội phạm khác về chức vụ được giảm án tử hình.

Tham nhũng, hối lộ

Mức án cao nhất cho người phạm tội tham nhũng là tử hình (Ảnh minh họa)

Cụ thể, hướng dẫn các điều kiện để được giảm án tử hình chuyển thành tù chung thân đối với người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ theo quy định tại điểm c Khoản 3 Điều 40 Bộ luật Hình sự 2015 như sau:

(1) “Chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ”

- Là trường hợp người phạm tội đã tự mình nộp lại ít nhất 3/4 tài sản tham ô, nhận hối lộ sau khi phạm tội.

- Cũng được coi là chủ động nộp lại ít nhất 3/4 tài sản tham ô, nhận hối lộ đối với trường hợp người phạm tội sau khi phạm tội đã tác động để cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị, em, những người thân khác nộp lại hoặc không phản đối việc cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị, em, những người thân khác nộp lại ít nhất 3/4 tài sản mà mình tham ô, nhận hối lộ.

- Đối với trường hợp trong cùng vụ án, người bị truy cứu trách nhiệm hình sự về nhiều tội, trong đó có tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ và tội khác, nhưng đã chủ động nộp lại số tài sản bằng ít nhất 3/4 tài sản tham ô, nhận hối lộ thì cũng được coi là chủ động nộp lại ít nhất 3/4 tài sản tham ô, nhận hối lộ, trừ trường hợp có căn cứ rõ ràng xác định tài sản có nguồn gốc từ tội phạm khác.

Ví dụ: Nguyễn Văn A có hành vi tham ô số tiền 4.000.000.000 đồng và lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt số tiền 2.000.000.000 đồng. Sau khi A bị khởi tố, vợ của A đã chuyển nhượng nhà đất là tài sản riêng của mình để thay A nộp lại số tiền 3.000.000.000 đồng thì được coi là chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô.

(2) “Hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm”

- Là sau khi phạm tội tham nhũng hoặc các tội phạm khác về chức vụ, người phạm tội đã chủ động cung cấp những tin tức, tài liệu, chứng cứ có ý nghĩa cho việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm liên quan đến tội phạm mà họ bị buộc tội (như: chỉ đúng nơi cất giấu vật chứng quan trọng giúp cơ quan chức năng thu hồi được vật chứng đó; khai báo và chỉ đúng nơi đồng phạm khác đang bỏ trốn; khai báo về tội phạm và người phạm tội mới liên quan đến tội phạm mà họ bị buộc tội...).

- Ngoài những trường hợp nêu trên, có thể xác định những trường hợp khác là “hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm” nhưng Tòa án phải nhận định rõ trong bản án.

(3) “Lập công lớn”

- Người phạm tội đã giúp cơ quan tiến hành tố tụng trong các việc sau:

+ Phát hiện, truy bắt, điều tra, xử lý tội phạm không liên quan đến tội phạm mà họ bị buộc tội;

+ Cứu được người khác trong tình thế hiểm nghèo hoặc cứu được tài sản có giá trị từ 100 triệu đồng trở lên của Nhà nước, của tập thể, của cá nhân trong thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn hoặc sự kiện bất khả kháng khác;

- Người phạm tội có phát minh, sáng chế hoặc sáng kiến có giá trị lớn được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận.

- Ngoài những trường hợp nêu trên, có thể xác định những trường hợp khác là “lập công lớn” nhưng Tòa án phải nhận định rõ trong bản án.

Thùy Liên  

Gởi câu hỏi Chia sẻ bài viết lên facebook 730

Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, P.6, Q.3, TP.HCM
Điện thoại: (028) 3930 3279 (06 lines)
E-mail: info@ThuVienPhapLuat.vn