HIỆP ĐỊNH EVFTA

Bản dịch này thuộc bản quyền THƯ VIỆN PHÁP LUẬT

Bạn được khai thác sử dụng cho công việc của riêng mình, nhưng không được sao chép, đăng lại trên bất cứ phương tiện nào.

NGHỊ ĐỊNH THƯ

VỀ KHÁI NIỆM “HÀNG HÓA CÓ XUẤT XỨ”

PHƯƠNG PHÁP HỢP TÁC HÀNH CHÍNH

TIÊU ĐỀ I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1

Giải thích từ ngữ

Trong phạm vi Nghị định thư này:

 (a) “sản xuất” là hình thức gia công, sản xuất, hoặc lắp ráp hàng hóa;

 (b) "nguyên liệu" là thành phần, nguyên liệu, linh kiện, bộ phận v.v... được sử dụng trong quá trình sản xuất các sản phẩm;

 (c) "sản phẩm" là sản phẩm được sản xuất ra, kể cả sản phẩm được sử dụng cho một hoạt động sản xuất khác;

 (d) "hàng hóa" là một loại nguyên liệu hoặc sản phẩm;

 (e) "trị giá hải quan" là giá trị được xác định phù hợp với Hiệp định về thực hiện Điều VII của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại năm 1994 (Hiệp định WTO về định giá hải quan);

 (f) "giá trị của nguyên liệu" là giá trị hải quan tại thời điểm nhập khẩu các nguyên liệu được sử dụng, hoặc, nếu không biết hoặc không xác minh được, là giá có thể xác minh được đầu tiên được trả cho nguyên liệu trong Liên minh châu Âu hay ở Việt Nam;

 (g) "giá tại xưởng" là giá của sản phẩm xuất xưởng được trả cho nhà sản xuất thực hiện các công việc gia công hoặc xử lý cuối cùng, với điều kiện giá đó đã bao gồm giá trị của tất cả các nguyên liệu được sử dụng và tất cả các chi phí khác có liên quan để quá trình sản xuất ra sản phẩm đó, trừ các khoản thuế trong nước được hoặc có thể được hoàn trả khi sản phẩm được xuất khẩu.

Trường hợp giá thực tế chi trả không phản ánh tất cả các chi phí liên quan đến việc sản xuất ra sản phẩm thực tế phát sinh trong Liên minh châu Âu hay ở Việt Nam, giá tại xưởng là tổng của tất cả các chi phí này, trừ các khoản thuế trong nước được hoặc có thể được hoàn trả khi sản phẩm được xuất khẩu;

Trường hợp công đoạn gia công hoặc xử lý cuối cùng được giao cho một nhà sản xuất khác theo hợp đồng nhà thầu phụ, thuật ngữ "nhà sản xuất" được đề cập trong khoản đầu tiên có thể dùng để chỉ doanh nghiệp thuê nhà thầu phụ.

 (h) "chương" và "nhóm" và "phân nhóm" là các chương, nhóm (mã bốn chữ số) và phân nhóm (mã sáu chữ số) được sử dụng trong danh mục thuộc Hệ thống mã số và mô tả hàng hóa hài hòa, trong Nghị định thư này được gọi là "Hệ thống hài hòa" hay "HS";

 (i) "được phân loại" dùng để chỉ phân loại của một sản phẩm hoặc nguyên liệu theo một chương, nhóm, hoặc phân nhóm cụ thể trong Hệ thống hài hòa;

 (j) "lô hàng" là các sản phẩm được gửi đồng thời từ một nhà xuất khẩu tới một bên nhận hoặc thuộc một chứng từ vận tải (hoặc một hóa đơn nếu không có chứng từ vận tải) về quá trình vận chuyển các sản phẩm đó từ nhà xuất khẩu đến bên nhận;

 (k) "lãnh thổ" bao gồm lãnh hải;

 (l) "Bên" là Liên minh Châu Âu hoặc Việt Nam;

 (m) “nguyên liệu có thể thay thế” là nguyên liệu cùng loại và chất lượng thương mại, với các đặc điểm kỹ thuật và vật lý như nhau, và không thể phân biệt với nhau khi chúng được dùng trong sản phẩm hoàn thiện;

 (n) "hàng hóa hoặc nguyên liệu có xuất xứ" là hàng hóa hoặc nguyên liệu đạt chuẩn có xuất xứ theo quy định của Nghị định thư này;

 (o) "hàng hóa hoặc nguyên liệu không có xuất xứ" là hàng hóa hoặc nguyên liệu không đạt chuẩn có xuất xứ theo quy định của Nghị định thư này;

 (p) "nhà xuất khẩu" là một người thuộc lãnh thổ Bên xuất khẩu đang xuất khẩu hàng hoá cho Bên kia và có thể chứng minh xuất xứ của hàng hoá xuất khẩu, có thể đồng thời là nhà sản xuất hoặc không, và có thể tự mình thực hiện các thủ tục xuất khẩu hoặc không.

TIÊU ĐỀ II

KHÁI NIỆM “HÀNG HÓA CÓ XUẤT XỨ”

Điều 2

Yêu cầu chung

Trong phạm vi của Hiệp định này, các sản phẩm sau được xem là có xuất xứ tại một Bên:

 (a) các sản phẩm có xuất xứ thuần túy từ một Bên theo quy định tại Điều 4;

 (b) Các sản phẩm thu được tại một Bên có sử dụng nguyên liệu không có xuất xứ thuần túy tại Bên đó, với điều kiện những nguyên liệu đó đã qua gia công hoặc xử lý đáng kể tại Bên liên quan theo quy định tại Điều 5

Điều 3

Xuất xứ lũy kế

1. Bất kể quy định tại Điều 2, các sản phẩm được coi là có xuất xứ tại nước xuất khẩu nếu sản phẩm thu được tại đó được làm từ các nguyên liệu có xuất xứ từ một Bên khác, với điều kiện quá trình gia công hoặc xử lý thực hiện tại Bên xuất khẩu vượt quá phạm vi các hoạt động nêu tại Điều 6.

2. Nguyên liệu được nêu trong Phụ lục III có xuất xứ từ một nước ASEAN được áp dụng một thỏa thuận ưu đãi đối với Liên minh Châu Âu theo quy định của Điều XXIV của GATT 1994 được xem là nguyên liệu có xuất xứ từ Việt Nam khi tiếp tục được xử lý hoặc cấu thành một trong những sản phẩm được liệt kê trong Phụ lục IV.

3. Trong phạm vi khoản 2, xuất xứ của nguyên liệu được xác định theo quy tắc xuất xứ áp dụng trong khuôn khổ thỏa thuận ưu đãi của Liên minh Châu Âu với các nước đó.

4. Trong phạm vi khoản 2, việc xác định nguyên liệu được xuất khẩu từ một trong các nước ASEAN đến Việt Nam để tiếp tục gia công hoặc xử lý có đạt tiêu chuẩn xuất xứ hay không phải dựa trên giấy tờ chứng minh xuất xứ tương tự với nguyên liệu được xuất khẩu trực tiếp đến Liên minh Châu Âu.

5. Xuất xứ lũy kế quy định tại khoản từ 2 đến 4 chỉ áp dụng với điều kiện:

 (a) các nước ASEAN liên quan đến việc hình thành xuất xứ hàng hóa đã cam kết:

 (i) tuân thủ hoặc đảm bảo việc tuân thủ Nghị định thư này; và

 (ii) thực hiện hợp tác hành chính cần thiết để bảo đảm thực hiện đúng Nghị định thư đối với Liên minh Châu Âu và đối với nhau;

 (b) việc cam kết nêu tại (a) đã được thông báo cho Liên minh Châu Âu;

 (c) thuế quan áp dụng bởi Liên minh Châu Âu đối với các sản phẩm trong Phụ lục IV sản xuất tại Việt Nam thông qua tích lũy xuất xứ cao hơn hoặc tương tự thuế được Liên minh Châu Âu áp dụng đối với cùng một sản phẩm có xuất xứ từ nước ASEAN tham gia vào quá trình tích lũy này.

6. Giấy tờ chứng minh xuất xứ khi áp dụng khoản 2 phải có câu: “Application of Article 3(2) of the Protocol of the EU-Vietnam FTA” (“Áp dụng Điều 3(2) của Nghị định thư thuộc Hiệp định thương mại tự do EU - Việt Nam”).

7. Vải có xuất xứ từ Hàn Quốc được xem là có xuất xứ tại Việt Nam nếu tiếp tục được xử lý hoặc cấu thành một trong những sản phẩm được liệt kê trong Phụ lục V xuất xứ tại đó, với điều kiện là các sản phẩm này đã qua gia công hoặc xử lý ở Việt Nam vượt quá phạm vi các hoạt động gọi tại Điều 6.

8. Trong phạm vi khoản 7, xuất xứ của vải được xác định theo quy tắc xuất xứ áp dụng trong khuôn khổ thỏa thuận ưu đãi của Liên minh Châu Âu và Hàn Quốc, trừ quy tắc thuộc Phụ lục II(a) của Nghị định thư về khái niệm sản phẩm có xuất xứ và phương pháp hợp tác hành chính.

9. Trong phạm vi khoản 7, việc xác định vải được xuất khẩu từ Hàn Quốc đến Việt Nam để tiếp tục gia công hoặc xử lý có đạt tiêu chuẩn xuất xứ hay không phải dựa trên giấy tờ chứng minh xuất xứ tương tự như vải được xuất khẩu trực tiếp từ Hàn Quốc đến Liên minh Châu Âu.

10. Xuất xứ lũy kế quy định tại khoản từ 7 đến 9 chỉ áp dụng với điều kiện:

 (a) Hàn Quốc đang áp dụng một thỏa thuận ưu đãi đối với Liên minh Châu Âu theo quy định của Điều XXIV của GATT 1994;

 (b) Hàn Quốc và Việt Nam đã cam kết và cùng thông báo cho Liên minh Châu Âu các cam kết của mình về việc:

- (i) tuân thủ hoặc đảm bảo việc tuân thủ quy định về xuất xứ lũy kế, và

- (ii) thực hiện hợp tác hành chính cần thiết để bảo đảm thực hiện đúng Nghị định thư đối với Liên minh Châu Âu và đối với nhau;

11. Giấy tờ chứng minh xuất xứ do Việt Nam cấp theo khoản 7 phải có câu: “Application of Article 3(7) of the Protocol of the EU/Vietnam FTA” (“Áp dụng Điều 3(7) của Nghị định thư thuộc Hiệp định thương mại tự do EU/Việt Nam”).

12. Theo yêu cầu của một Bên, Ủy ban Hải quan có thể quyết định rằng các loại vải có xuất xứ từ một nước mà cả Liên minh Châu Âu và Việt Nam đều áp dụng một thỏa thuận ưu đãi theo Điều XXIV của GATT 1994 được coi là có xuất xứ từ một Bên khi tiếp tục được xử lý hoặc cấu thành một trong những sản phẩm được liệt kê trong Phụ lục V sản xuất tại đó, với điều kiện là chúng đã qua gia công hoặc xử lý trong một Bên vượt quá phạm vi các hoạt động nêu tại Điều 6.

13. Ủy ban Hải quan sẽ đưa ra quyết định về các yêu cầu tích lũy và cách thức tích lũy như nêu tại khoản 12, có tính đến lợi ích của Bên kia và các mục tiêu của Hiệp định.

Điều 4

Sản phẩm có xuất xứ thuần túy

1. Các sản phẩm sau được xem là có xuất xứ thuần túy tại một Bên:

 (a) Các sản phẩm khoáng chất chiết xuất từ ​​đất hoặc từ đáy biển của Bên đó;

 (b) sản phẩm thực vật và rau được trồng và thu hoạch hay tập trung ở Bên đó;

 (c) động vật sống được sinh ra và nuôi ở Bên đó;

 (d) sản phẩm từ động vật sống được nuôi ở Bên đó;

 (e) sản phẩm từ động vật được sinh ra, nuôi, và giết mổ ở Bên đó;

 (f) Các sản phẩm thu được từ săn bắn hoặc đánh bắt ở Bên đó;

 (g) Các sản phẩm thủy sản tại nơi cá, động vật giáp xác và động vật thân mềm được sinh ra hoặc nuôi ở đó từ trứng, cá bột, cá giống và ấu trùng;

 (h) sản phẩm của cá biển và các sản phẩm khác do tàu cá của Bên đó thu được bên ngoài lãnh hải;

 (i) sản phẩm được sản xuất trên tàu chế biến của Bên đó từ các sản phẩm nêu trong điểm (h);

 (j) sản phẩm đã qua sử dụng thu được tại đó và chỉ thích hợp để lấy nguyên liệu thô;

 (k) phế thải và phế liệu từ các hoạt động sản xuất tại Bên đó;

 (l) các sản phẩm thu được từ ​​đáy biển hoặc lòng đất dưới đáy biển nằm ngoài lãnh hải nhưng trong phạm vi mà Bên đó có quyền khai thác độc quyền;

 (m) các mặt hàng được sản xuất từ ​​các sản phẩm nêu ở mục (a) đến (l).

2. Thuật ngữ “tàu của Bên đó” và “tàu chế biến của Bên đó” tại khoản 1(h) và (i) chỉ áp dụng đối với tàu và tàu chế biến:

 (a) được đăng ký tại một nước thành viên của Liên minh Châu Âu hoặc tại Việt Nam;

 (b) có treo cờ một nước thành viên của Liên minh Châu Âu hoặc Việt Nam;

 (c) thỏa mãn một trong các điều kiện sau:

 (i) ít nhất 50% thuộc sở hữu của công dân của một nước thành viên của Liên minh Châu Âu hoặc Việt Nam;

hoặc

 (ii) thuộc sở hữu của các công ty

- có trụ sở chính và địa điểm kinh doanh chính tại một nước thành viên của Liên minh Châu Âu hoặc Việt Nam, và

- ít nhất 50% thuộc sở hữu của một nước thành viên của Liên minh Châu Âu hoặc Việt Nam, bởi các tổ chức hoặc cá nhân của một trong các Bên.

Điều 5

Sản phẩm được gia công hoặc xử lý đáng kể

1. Trong phạm vi Điều 2(b), sản phẩm không có xuất xứ thuần túy được được xem là đã qua gia công hoặc xử lý một cách đáng kể khi các điều kiện quy định trong Danh mục tại Phụ lục II được thỏa mãn đầy đủ.

2. Các điều kiện nêu trên cho thấy, đối với tất cả các sản phẩm thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định, quá trình gia công hoặc xử lý mà phải được thực hiện trên các nguyên liệu không có xuất xứ được sử dụng trong sản xuất và chỉ áp dụng đối với các nguyên liệu đó.

Nếu một sản phẩm đạt tiêu chuẩn xuất xứ nhờ thỏa mãn các điều kiện quy định trong danh mục được sử dụng để sản xuất một sản phẩm khác, các điều kiện áp dụng đối với sản phẩm mà nó cấu thành sẽ không được áp dụng cho chính nó, bất kể nguyên liệu không có xuất xứ có thể đã được sử dụng trong quá trình sản xuất ra nó.

3. Bất kể quy định tại khoản 1 và theo khoản 4 và 5 của Điều này, nguyên liệu không có xuất xứ nếu không được sử dụng để sản xuất một sản phẩm cụ thể vẫn có thể được sử dụng theo các điều kiện quy định trong danh mục thuộc Phụ lục II, với điều kiện tổng giá trị hoặc khối lượng tịnh của chúng không vượt quá:

 (a) 10% khối lượng của sản phẩm hoặc giá tại xưởng của các sản phẩm thuộc Chương 2 và Chương từ 4 đến 24 của Hệ thống hài hoà, trừ sản phẩm thủy sản đã chế biến thuộc Chương 16;

 (b) 10% giá tại xưởng của sản phẩm đối với các sản phẩm khác, trừ các sản phẩm thuộc các Chương từ 50 đến 63 của Hệ thống hài hoà có áp dụng dung sai nêu trong Chú giải 6 và 7 của Phụ lục I.

4. Khoản 3 không cho phép vượt quá tỷ lệ phần trăm giá trị hoặc khối lượng lớn nhất của nguyên liệu không có xuất xứ theo quy định trong các quy tắc trong Danh mục tại Phụ lục II.

5. Khoản 3 và 4 không áp dụng cho các sản phẩm có xuất xứ thuần túy tại một Bên theo định nghĩa trong Điều 4. Tuy nhiên, không phương hại đến Điều 6 và 7(2), dung sai qui định trong khoản này vẫn được áp dụng cho tất cả các nguyên liệu được sử dụng trong quá trình sản xuất ra sản phẩm mà các quy tắc quy định trong danh mục tại Phụ lục II đối với sản phẩm đó đòi hỏi nguyên liệu phải có xuất xứ thuần túy.

Điều 6

Gia công và xử lý không đáng kể

1. Các hoạt động sau được xem là gia công hoặc xử lý không đáng kể để sản phẩm đạt chuẩn có xuất xứ, bất kể các yêu cầu của Điều 5 có được thỏa mãn hay không:

 (a) các hoạt động bảo quản nhằm đảm bảo rằng sản phẩm vẫn trong tình trạng tốt trong quá trình vận chuyển và lưu trữ;

 (b) phân chia gói lớn thành các gói nhỏ và ngược lại;

 (c) rửa, làm sạch; loại bỏ các bụi bẩn, oxit, dầu, sơn hoặc chất phủ khác;

 (d) ủi hoặc ép hàng dệt và sản phẩm dệt;

 (e) sơn và đánh bóng đơn giản;

 (f) xay và xay xát một phần hoặc toàn bộ lúa; làm bóng các loại ngũ cốc, gạo;

 (g) các hoạt động để tạo màu hoặc hương cho đường hoặc làm đường dạng cục; xay một phần hoặc toàn bộ đường tinh thể;

 (h) bóc vỏ, lấy hạt, tách vỏ các loại trái cây, hạt và rau quả;

 (i) mài đơn giản hoặc cắt đơn giản;

 (j) sàng, rây, sắp xếp, phân loại, phân nhóm, (bao gồm lập bộ sản phẩm);

 (k) quá trình đóng chai, lon, bình, túi, hộp đơn giản, đặt trên thẻ hoặc bảng và tất cả các hoạt động đóng gói đơn giản khác;

 (l) dán hoặc in ký hiệu, nhãn hiệu, biểu trưng và các dấu hiệu phân biệt tương tự khác trên sản phẩm hoặc bao bì của chúng;

 (m) quá trình trộn đơn giản các sản phẩm, có hoặc không có các loại khác nhau; trộn đường với nguyên liệu bất kỳ;

 (n) quá trình thêm nước hoặc pha loãng hoặc khử nước hoặc biến tính sản phẩm đơn giản;

 (o) quá trình lắp ráp đơn giản các bộ phận của sản phẩm để tạo thành một sản phẩm hoàn chỉnh hoặc quá trình tháo rời sản phẩm thành các bộ phận;

 (p) kết hợp ít nhất hai hoạt động quy định tại các điểm từ (a) đến (o);

 (q) giết mổ động vật.

2. Trong phạm vi khoản 1, các hoạt động được xem là đơn giản khi không đòi hỏi kỹ năng đặc biệt hoặc máy móc, thiết bị, công cụ được chế tạo hoặc lắp đặt chuyên dụng cho các hoạt động đó.

3. Tất cả các hoạt động thực hiện trong Liên minh Châu Âu hoặc ở Việt Nam trên một sản phẩm cụ thể sẽ được xem xét đồng thời với việc xác định quá trình gia công hoặc xử lý sản phẩm có đáng kể hay không theo quy định tại khoản 1.

Điều 7

Đơn vị chuẩn

1. Đơn vị chuẩn trong việc áp dụng các quy định của Nghị định thư này là một sản phẩm cụ thể được xem là đơn vị cơ bản khi xác định phân loại theo Hệ thống hài hoà.

2. Khi một lô hàng bao gồm một số sản phẩm giống hệt nhau thuộc cùng một phân nhóm của Hệ thống hài hòa, từng món riêng lẻ sẽ được xem xét khi áp dụng các quy định của Nghị định thư này.

Trường hợp, theo Quy tắc chung số 5 của Hệ thống hài hòa, bao bì được phân loại chung với sản phẩm, thì bao bì cũng được dùng để xác định xuất xứ.

Điều 8

Phụ kiện, phụ tùng và dụng cụ

Phụ kiện, phụ tùng, dụng cụ và tài liệu hoặc thông tin hướng dẫn kèm theo một bộ phận của thiết bị, máy móc, hoặc phương tiện, nếu là một phần của một thiết bị thông thường và bao gồm trong giá của thiết bị đó hoặc không được lập hóa đơn riêng thì được xem là gắn liền với bộ phận của thiết bị, máy móc, hoặc phương tiện đang xem xét.

Điều 9

Bộ sản phẩm

Bộ sản phẩm, theo định nghĩa tại Quy tắc chung số 3 của Hệ thống hài hòa, được xem là có xuất xứ khi tất cả các sản phẩm thành phần đều có xuất xứ. Khi một bộ sản phẩm gồm sản phẩm có xuất xứ và sản phẩm không có xuất xứ, cả bộ được xem là có xuất xứ nếu giá trị của các sản phẩm không có xuất xứ không vượt quá 15% giá tại xưởng của bộ sản phẩm.

Điều 10

Yếu tố trung lập

Khi xác định một sản phẩm có xuất xứ hay không, không nhất thiết phải xác định xuất xứ của các sản phẩm sau nếu chúng được sử dụng trong quá trình sản xuất ra sản phẩm:

 (a) năng lượng và nhiêu liệu;

 (b) nhà xưởng và thiết bị, bao gồm cả hàng hóa được sử dụng để bảo trì chúng;

 (c) máy móc, công cụ, khuôn rập, khuôn đúc; phụ tùng và nguyên liệu được sử dụng trong bảo dưỡng thiết bị và nhà xưởng; dầu nhờn, mỡ bôi trơn, hợp chất và các nguyên liệu khác được sử dụng trong sản xuất hoặc dùng để vận hành thiết bị và nhà xưởng; găng tay, kính, giày dép, quần áo, thiết bị an toàn; thiết bị, vật tư dùng để thử nghiệm hoặc kiểm tra hàng hoá; chất xúc tác và dung môi;

 (d) Các mặt hàng khác cấu thành và dự định cấu thành sản phẩm cuối cùng.

Điều 11

Hạch toán riêng

1. Nếu nguyên liệu có xuất xứ và nguyên liệu không có xuất xứ có thể thay thế được dùng trong gia công hoặc xử lý một sản phẩm, các cơ quan có thẩm quyền có thể, theo yêu cầu bằng văn bản của doanh nghiệp, cho phép quản lý nguyên liệu bằng phương pháp hạch toán riêng mà không cần tách biệt nguyên liệu.

2. Cơ quan có thẩm quyền có thể áp dụng điều kiện cho phép hạch toán riêng nêu tại khoản 1 nếu thấy phù hợp.

3. Phương pháp hạch toán riêng chỉ được cho phép nếu tại mọi thời điểm có thể bảo đảm số lượng các sản phẩm thu được mà có thể được xem là có xuất xứ trong Liên minh Châu Âu hoặc ở Việt Nam bằng số lượng có thể thực tế thu được nếu áp dụng phân loại hàng hóa thủ công.

4. Nếu được cho phép, phương pháp hạch toán riêng được ghi nhận trên cơ sở các nguyên tắc kế toán chung được áp dụng ở Liên minh Châu Âu hoặc tại Việt Nam, tùy thuộc vào nơi sản xuất ra sản phẩm.

5. Một nhà sản xuất sử dụng phương pháp hạch toán riêng phải lập hoặc xin tờ khai xuất xứ đối với số lượng sản phẩm có thể được xem là có xuất xứ tại nước xuất khẩu. Theo yêu cầu của cơ quan hải quan hoặc cơ quan có thẩm quyền của Bên xuất khẩu, người thụ hưởng phải cung cấp báo cáo về phương pháp quản lý lượng hàng đó.

6. Các cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm giám sát việc cho phép nêu tại khoản 3 và có thể rút lại nó nếu nhà sản xuất áp dụng không đúng hoặc không thỏa mãn các điều kiện khác quy định trong Nghị định thư.

TIÊU ĐỀ III

YÊU CẦU VỀ LÃNH THỔ

Điều 12

Nguyên tắc lãnh thổ

1. Các điều kiện quy định tại Tiêu đề II liên quan đến việc đạt tiêu chuẩn xuất xứ phải được thỏa mãn mà không bị gián đoạn trong một Bên.

2. Nếu hàng hoá có xuất xứ nhập khẩu từ một Bên được trả về từ một Bên ngoài Hiệp định, hàng hóa phải được xem là không có xuất xứ, trừ trường hợp có thể được chứng minh với cơ quan hải quan rằng:

 (a) hàng hóa được trả về và hàng hóa được xuất khẩu là một;

 (b) hàng hóa không trải qua bất kỳ hoạt động nào khác ngoài các hoạt động cần thiết để bảo quản trong tình trạng tốt trong khi ở tại một nước ngoài Hiệp định hoặc trong khi đang được xuất khẩu.

Điều 13

Không thay đổi

1. Các sản phẩm được khai báo để sử dụng trong nội địa một Bên phải là cùng sản phẩm được xuất khẩu từ Bên khác mà trong đó chúng được coi là có xuất xứ. Các sản phẩm đó không được thay đổi, biến đổi dưới mọi hình thức hoặc trải qua các hoạt động nào khác ngoài các hoạt động cần thiết để bảo quản chúng trong tình trạng tốt hoặc ngoài các thao tác dán ký hiệu, nhãn hiệu, đóng dấu hoặc đính kèm tài liệu khác để đảm bảo tuân thủ các yêu cầu cụ thể trong nước của Bên nhập khẩu được thực hiện dưới sự giám sát hải quan trong (các) nước quá cảnh hoặc nước chia tách hàng trước khi được khai báo để sử dụng trong nội địa.

2. Việc bảo quản các sản phẩm hoặc lô hàng có thể được tiến hành với điều kiện hàng hóa vẫn nằm dưới sự giám sát hải quan trong (các) nước quá cảnh.

3. Bất kể quy định tại Tiêu đề IV, việc chia tách các lô hàng có thể được nhà xuất khẩu lô hàng hoặc đại diện nhà xuất khẩu thực hiện, với điều kiện hàng hóa vẫn nằm dưới sự giám sát hải quan trong (các) nước nơi chia tách hàng hóa.

4. Nếu có nghi ngờ, Bên nhập khẩu có quyền yêu cầu người khai cung cấp bằng chứng về sự tuân thủ. Việc cung cấp bằng chứng được thực hiện dưới mọi hình thức, bao gồm:

i) chứng từ vận tải theo hợp đồng như vận đơn;

ii) bằng chứng thực tế và cụ thể dựa trên ký hiệu hoặc mã số các kiện hàng;

iii) bằng chứng bất kỳ liên quan đến chính hàng hóa đó;

iv) giấy chứng nhận không can thiệp do các cơ quan hải quan của (các) nước quá cảnh hoặc nước nơi chia tách hàng hóa, hoặc bất kỳ tài liệu nào khác chứng minh rằng hàng hoá vẫn nằm dưới sự giám sát hải quan của (các) nước quá cảnh hoặc nước nơi chia tách hàng hóa.

Điều 14

Triển lãm

1. Sản phẩm có xuất xứ được gửi đi triển lãm tại một nước khác mà không phải một Bên ký kết, được bán sau khi triển lãm để nhập khẩu vào một Bên ký kết sẽ được hưởng lợi về nhập khẩu theo Hiệp định này với điều kiện có thể chứng minh cho các cơ quan hải quan rằng:

 (a) nhà xuất khẩu đã gửi các sản phẩm này từ một Bên đến nước tổ chức triển lãm và đã trưng bày sản phẩm ở đó;

 (b) các sản phẩm đã được nhà nhập khẩu bán hoặc được thanh lý bằng cách khác cho một người thuộc một Bên;

 (c) sản phẩm đã được gửi đi trong khi triển lãm hoặc ngay sau đó trong cùng tình trạng khi chúng được gửi đi triển lãm;

 (d) các sản phẩm này chưa từng được sử dụng cho bất kỳ mục đích nào khác ngoài trưng bày tại triển lãm từ khi chúng được gửi đến triển lãm.

2. Một giấy tờ chứng minh xuất xứ phải được cấp hoặc lập theo quy định của Tiêu đề IV và nộp cho cơ quan hải quan của Bên nhập khẩu theo cách thông thường. Tên và địa chỉ của triển lãm phải được thể hiện trên đó. Trường hợp cần thiết có thể yêu cầu bổ sung tài liệu chứng minh các điều kiện trưng bày.

3. Khoản 1 được áp dụng đối với triển lãm, hội chợ, hoặc show diễn thương mại, công nghiệp, nông nghiệp hoặc thủ công không phục vụ cho mục đích cá nhân trong các cửa hàng hoặc cơ sở kinh doanh nhằm bán sản phẩm ngoại, với điều kiện sản phẩm thuộc tầm kiểm soát hải quan.

TIÊU ĐỀ IV

GIẤY TỜ CHỨNG MINH XUẤT XỨ

Điều 15

Yêu cầu chung

1. Sản phẩm có xuất xứ từ Liên minh Châu Âu khi nhập khẩu vào Việt Nam sẽ được hưởng lợi từ Hiệp định này khi nộp một trong những giấy tờ chứng minh xuất xứ sau:

 (a) Giấy chứng nhận xuất xứ lập theo quy định tại các Điều từ 16 đến 18;

 (b) tờ khai xuất xứ lập theo quy định tại Điều 19 bởi:

i) một nhà xuất khẩu được ủy quyền theo quy định tại Điều 20 đối với bất kỳ lô hàng nào bất kể giá trị của nó, hoặc

ii) một nhà xuất khẩu bất kỳ đối với các lô hàng có tổng giá trị không vượt quá 6000 EUR;

 (c) một tuyên bố xuất xứ được lập bởi các nhà xuất khẩu đăng ký trong một cơ sở dữ liệu điện tử theo quy định của pháp luật có liên quan của Liên minh Châu Âu sau khi Liên minh Châu Âu đã thông báo cho Việt Nam rằng các quy định này áp dụng đối với nhà xuất khẩu của Việt Nam. Thông báo đó có thể quy định rằng các khoản a) và b) sẽ ngừng áp dụng đối với Liên minh Châu Âu.

2. Sản phẩm có xuất xứ từ Việt Nam khi nhập khẩu vào Liên minh Châu Âu sẽ được hưởng lợi từ Hiệp định này khi nộp một trong những giấy tờ chứng minh xuất xứ sau:

 (a) Giấy chứng nhận xuất xứ lập theo quy định tại các Điều từ 16 đến 18;

 (b) một tờ khai xuất xứ lập bởi một nhà xuất khẩu bất kỳ đối với các lô hàng có tổng giá trị không vượt quá 6000 EUR được xác định theo quy định pháp luật của Việt Nam;

 (c) một tờ khai xuất xứ được lập theo Điều 19 bởi một nhà xuất khẩu đã được chấp thuận hoặc đăng ký theo quy định pháp luật có liên quan của Việt Nam sau khi Việt Nam đã thông báo cho Liên minh Châu Âu rằng các quy định này áp dụng đối với nhà xuất khẩu của Liên minh Châu Âu. Thông báo đó có thể quy định rằng khoản a) sẽ ngừng áp dụng đối với Việt Nam.

3. Sản phẩm có xuất xứ theo quy định tại Nghị định thư này trong các trường hợp quy định tại Điều 24 được hưởng lợi từ Hiệp định này mà không phải nộp các tài liệu quy định tại Điều này.

Điều 16

Thủ tục cấp giấy chứng nhận xuất xứ

1. Giấy chứng nhận xuất xứ được cơ quan có thẩm quyền của Bên xuất khẩu phát hành dựa trên đơn xin cấp giấy chứng nhận của nhà xuất khẩu hoặc thuộc người đại diện theo ủy quyền của nhà xuất khẩu do nhà xuất khẩu chịu trách nhiệm.

2. Với mục đích này, nhà xuất khẩu hoặc người đại diện theo ủy quyền phải điền cả giấy chứng nhận xuất xứ (mẫu giấy được cung cấp trong Phụ lục VII), và đơn xin. Các mẫu đơn được sử dụng cho hàng hóa xuất khẩu từ Liên minh Châu Âu sang Việt Nam được cung cấp trong Phụ lục VII; mẫu đơn sử dụng cho hàng hóa xuất khẩu từ Việt Nam được quy định trong pháp luật của Việt Nam. Đơn phải được lập bằng một trong những ngôn ngữ mà Hiệp định này được lập và phù hợp với quy định pháp luật trong nước của Bên xuất khẩu. Nếu đơn được viết tay thì phải dùng mực in và chữ in. Mô tả sản phẩm phải được điền vào ô quy định và không để lại dòng nào trống. Trường hợp không điền hết ô thì phải kẻ một đường ngang bên dưới dòng cuối cùng của mô tả, phần bỏ trống phải gạch chéo để không thể điền thêm vào sau này.

3. Theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của Bên xuất khẩu, nhà xuất khẩu xin cấp giấy chứng nhận xuất xứ phải chuẩn bị và nộp tất cả các tài liệu thích hợp chứng minh các sản phẩm liên quan đạt tiêu chuẩn xuất xứ cũng như việc đáp ứng các yêu cầu khác của Nghị định thư này.

4. Giấy chứng nhận xuất xứ được cơ quan có thẩm quyền của Bên xuất khẩu cấp nếu sản phẩm liên quan có thể được coi là có xuất xứ từ Liên minh Châu Âu hoặc Việt Nam và các yêu cầu khác của Nghị định thư này được thực hiện.

5. Các cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận xuất xứ phải thực hiện các bước cần thiết để xác minh việc sản phẩm đạt tiêu chuẩn xuất xứ và đáp ứng các yêu cầu khác của Nghị định thư này. Với mục đích này, các cơ quan đó có quyền yêu cầu bằng chứng và thực hiện kiểm tra tài khoản của nhà xuất khẩu hoặc thực hiện hình thức kiểm tra thích hợp khác. Các cơ quan cũng phải đảm bảo rằng đơn xin nêu tại khoản 2 được lập một cách hợp lệ. Đặc biệt, các cơ quan phải kiểm tra xem phần dành cho các mô tả sản phẩm có được điền đúng quy định hay không để loại trừ các trường hợp bổ sung gian lận.

6. Ngày cấp giấy chứng nhận xuất xứ phải được thể hiện trong ô 11 của giấy chứng nhận.

7. Giấy chứng nhận xuất xứ phải được cấp càng sớm càng tốt nhưng không quá ba ngày làm việc kể từ ngày xuất khẩu (ngày lô hàng được khai báo).

Điều 17

Giấy chứng nhận xuất xứ cấp sau

1. Bất kể quy định tại Điều 16(7), một giấy chứng nhận xuất xứ cũng có thể được cấp sau khi xuất khẩu sản phẩm trong các tình huống cụ thể mà:

 (a) giấy chứng nhận xuất xứ không được cấp vào thời điểm xuất khẩu do nhầm lẫn hoặc thiếu sót ngoài ý muốn và các lý do hợp lệ khác;

hoặc

 (b) có thể chứng minh cho cơ quan có thẩm quyền rằng giấy chứng nhận xuất xứ đã được cấp nhưng không được chấp nhận khi nhập khẩu vì lý do kỹ thuật;

 (c) không xác định được điểm đến cuối cùng của các sản phẩm có liên quan tại thời điểm xuất khẩu nhưng đã được xác định trong quá trình vận chuyển hoặc bảo quản và sau khi có thể chia tách lô hàng theo quy định tại Điều 13.

2. Đối với việc thực hiện các khoản 1, nhà xuất khẩu phải ghi rõ trong đơn xin địa điểm và ngày xuất khẩu của các sản phẩm của giấy chứng nhận xuất xứ, và nêu rõ lý do yêu cầu.

3. Các cơ quan có thẩm quyền chỉ được cấp sau giấy chứng nhận xuất xứ sau khi xác minh rằng các thông tin được cung cấp trong đơn của nhà xuất khẩu khớp với thông tin trong hồ sơ tương ứng.

4. Giấy chứng nhận xuất xứ cấp sau phải có cụm từ tiếng Anh sau: "ISSUED RETROSPECTIVELY"

5. Cụm từ nêu tại khoản 4 được điền vào ô 7 trong giấy chứng nhận xuất xứ.

Điều 18

Cấp lại giấy chứng nhận xuất xứ

1. Trong trường hợp giấy chứng nhận xuất xứ bị mất cắp, thất lạc hoặc hư hỏng, nhà xuất khẩu có thể xin cơ quan đã cấp giấy chứng nhận xuất xứ cấp một bản sao trên cơ sở các chứng từ xuất khẩu mình sở hữu.

2. Bản sao phải có từ tiếng Anh sau để xác thực: DUPLICATE

3. Cụm từ nêu tại khoản 2 được điền vào ô 7 trong bản sao giấy chứng nhận xuất xứ.

4. Bản sao có ghi ngày cấp của giấy chứng nhận xuất xứ ban đầu và có hiệu lực kể từ ngày đó.

Điều 19

Điều kiện lập tờ khai xuất xứ

1. Tờ khai xuất xứ được lập nếu sản phẩm liên quan có thể được xem là có xuất xứ từ Liên minh Châu Âu hoặc Việt Nam và các yêu cầu khác của Nghị định thư này được thực hiện.

2. Theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của Bên xuất khẩu, nhà xuất khẩu lập tờ khai xuất xứ phải chuẩn bị và nộp tất cả các tài liệu thích hợp chứng minh các sản phẩm liên quan đạt tiêu chuẩn xuất xứ cũng như đáp ứng các yêu cầu khác của Nghị định thư này.

3. Nhà sản xuất lập tờ khai xuất xứ trên hoá đơn, phiếu giao hàng hoặc bất kỳ tài liệu thương mại nào khác trong đó mô tả các sản phẩm có liên quan với đầy đủ chi tiết để có thể nhận diện, bằng cách in hoặc dập trên tờ khai trên tài liệu nội dung quy định tại Phụ lục VI sử dụng một trong các ngôn ngữ nêu tại Phụ lục đó và phù hợp với các quy định pháp luật trong nước của Bên xuất khẩu. Nếu tờ khai được viết tay thì phải viết bằng mực và sử dụng chữ in hoa.

4. Tờ khai xuất xứ phải có chữ ký gốc bằng tay của nhà xuất khẩu. Tuy nhiên, không được yêu cầu một nhà xuất khẩu được ủy quyền theo quy định tại Điều 20 ký vào các tờ khai đó nếu nhà xuất khẩu đó đã cam kết bằng văn bản với các cơ quan có thẩm quyền của Bên xuất khẩu nhận toàn bộ trách nhiệm đối với mọi tờ khai xuất xứ có nhận diện nhà xuất khẩu đó như thể tờ khai đã được ký tay.

5. Tờ khai xuất xứ có thể được lập sau khi xuất khẩu với điều kiện được xuất trình trong Bên nhập khẩu không quá hai năm hoặc một khoảng thời gian quy định trong pháp luật của Bên nhập khẩu sau khi được nhập vào lãnh thổ của Bên đó.

6. Điều kiện lập một tờ khai xuất xứ nêu tại các khoản từ 1 đến 5, với các thay đổi cần thiết, áp dụng đối với các tuyên bố xuất xứ được lập bởi một nhà xuất khẩu đã được đăng ký theo quy định tại Điều 15(1)(c) và 15(2)(c).

Điều 20

Nhà xuất khẩu được ủy quyền

1. Các cơ quan có thẩm quyền của Bên xuất khẩu có thể ủy quyền cho một nhà xuất khẩu bất kỳ (sau đây gọi là “nhà xuất khẩu được ủy quyền”) xuất khẩu sản phẩm theo Hiệp định này lập tờ khai xuất xứ không phụ thuộc vào giá trị của các sản phẩm có liên quan. Nhà xuất khẩu nào muốn được ủy quyền như vậy phải đảm bảo với các cơ quan có thẩm quyền về việc xác minh việc sản phẩm đạt tiêu chuẩn xuất xứ cũng như việc đáp ứng các yêu cầu khác của Nghị định thư này.

2. Các cơ quan có thẩm quyền có thể chỉ định nhà xuất khẩu được ủy quyền theo các điều kiện quy định trong pháp luật trong nước mà các cơ quan đó cho là phù hợp.

3. Các cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm cấp cho nhà xuất khẩu được ủy quyền một mã số ủy quyền để ghi trên tờ khai xuất xứ.

4. Các cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm giám sát việc lựa chọn nhà xuất khẩu được ủy quyền.

5. Các cơ quan có thẩm quyền có quyền hủy bỏ ủy quyền tại bất kỳ thời điểm nào. Việc hủy bỏ ủy quyền được thực hiện trong trường hợp nhà xuất khẩu được ủy quyền không còn khả năng thực hiện bảo đảm nêu tại khoản 1, không còn đáp ứng các điều kiện nêu tại khoản 2 hoặc lạm dụng việc ủy quyền.

Điều 21

Tính hợp lệ của giấy tờ chứng minh xuất xứ

1. Một giấy tờ chứng minh xuất xứ có giá trị trong mười hai tháng kể từ ngày cấp tại nước xuất khẩu, và phải được nộp cho cơ quan hải quan của nước nhập khẩu trong thời hạn đó.

2. Giấy tờ chứng minh xuất xứ được nộp cho cơ quan hải quan của nước nhập khẩu sau thời hạn quy định tại khoản 1 có thể được chấp nhận để áp dụng ưu đãi trong trường hợp nhà nhập khẩu không nộp giấy tờ này đúng hạn vì trường hợp bất khả kháng hoặc có lý do chính đáng ngoài tầm kiểm soát

3. Trong trường hợp khác, cơ quan hải quan của Bên nhập khẩu có thể chấp nhận giấy tờ chứng minh xuất xứ nếu sản phẩm đã được nhập khẩu trước ngày hết hạn.

Điều 22

Nộp giấy tờ chứng minh xuất xứ

Để được áp dụng ưu đãi thuế quan, giấy tờ chứng minh xuất xứ phải được nộp cho cơ quan hải quan của Bên nhập khẩu theo các thủ tục áp dụng tại Bên đó. Các cơ quan đó có quyền yêu cầu bản dịch của các giấy tờ chứng minh xuất xứ nếu không phải tiếng Anh.

Điều 23

Nhập khẩu từng phần

Trường hợp theo yêu cầu của nhà nhập khẩu và theo điều kiện do các cơ quan hải quan của Bên nhập khẩu đặt ra, sản phẩm đã tháo rời hoặc không lắp ráp theo Quy tắc chung 2(a) của Hệ thống hài hoà thuộc Phần XVI và XVII hay nhóm 7308 và 9406 của Hệ thống hài hoà được nhập khẩu từng phần, phải nộp một giấy tờ chứng minh xuất xứ duy nhất đối với các sản phẩm đó cho cơ quan hải quan ở lần nhập khẩu đầu tiên.

Điều 24

Miễn giấy tờ chứng minh xuất xứ

1. Sản phẩm gửi theo từng kiện nhỏ của các cá nhân hoặc là một phần của hành lý cá nhân được coi là có xuất xứ mà không cần phải nộp giấy tờ chứng minh xuất xứ, với điều kiện các sản phẩm này không được nhập khẩu thương mại và đã được khai báo là đáp ứng yêu cầu của Nghị định thư này và không có nghi ngờ về tính xác thực của khai báo. Trong trường hợp sản phẩm được gửi qua đường bưu điện, có thể được khai báo trên tờ khai hải quan CN22/CN23 hoặc trên một phụ lục đính kèm tờ khai.

2. Hàng nhập khẩu không định kỳ và chỉ bao gồm các sản phẩm sử dụng cho cá nhân của người nhận hoặc du khách hoặc gia đình họ không được xem là hàng nhập khẩu thương mại nếu thấy rõ bản chất và số lượng của các sản phẩm không có mục đích thương mại.

3. Hơn nữa, tổng giá trị của các sản phẩm này không được vượt quá:

 (a) khi nhập khẩu vào Liên minh Châu Âu: 500 EUR nếu là các kiện nhỏ hoặc 1200 EUR nếu sản phẩm là một phần của hành lý cá nhân;

 (b) khi nhập khẩu vào Việt Nam: 200 USD nếu là các kiện nhỏ hoặc là một phần của hành lý cá nhân.

Điều 25

Tài liệu bổ trợ

Các tài liệu quy định tại Điều 16(3) và 19(2), được sử dụng cho mục đích chứng minh rằng các sản phẩm thuộc một tờ khai xuất xứ hoặc giấy chứng nhận xuất xứ có thể được xem là sản phẩm có xuất xứ từ Liên minh Châu Âu hoặc Việt Nam và đáp ứng các yêu cầu khác của Nghị định thư này có thể bao gồm nhưng không giới hạn trong các tài liệu sau:

 (a) bằng chứng trực tiếp của quá trình sản xuất hoặc quá trình khác được thực hiện bởi nhà xuất khẩu hoặc nhà cung cấp để có được hàng hóa có liên quan, ví dụ trong các tài khoản hoặc sổ sách kế toán nội bộ;

 (b) các tài liệu chứng minh nguyên liệu được sử dụng đạt tiêu chuẩn xuất xứ được cấp hoặc lập trong lãnh thổ một Bên nơi các tài liệu này được sử dụng phù hợp với pháp luật trong nước;

 (c) các tài liệu chứng minh quá trình gia công hoặc xử lý nguyên liệu trong lãnh thổ một Bên, được cấp hoặc lập trong lãnh thổ một Bên nơi các tài liệu này được sử dụng phù hợp với pháp luật trong nước;

 (d) giấy tờ chứng minh xuất xứ chứng minh nguyên liệu được sử dụng đạt tiêu chuẩn xuất xứ được cấp hoặc lập trong lãnh thổ một Bên theo quy định của Nghị định thư này.

Điều 26

Bảo quản giấy tờ chứng minh xuất xứ và tài liệu bổ trợ

1. Nhà xuất khẩu lập tờ khai xuất xứ hoặc xin cấp giấy chứng nhận xuất xứ phải lưu trữ một bản tờ khai xuất xứ hoặc giấy chứng nhận xuất xứ cũng như các tài liệu quy định tại Điều 16(3) và 19(2) ít nhất ba năm,

2. Các cơ quan có thẩm quyền của nước xuất khẩu cấp giấy chứng nhận xuất xứ phải lưu trữ đơn xin cấp giấy chứng nhận xuất xứ nêu tại Điều 16(2) ít nhất ba năm.

3. Các cơ quan hải quan của Bên nhập khẩu có trách nhiệm giữ giấy tờ chứng minh xuất xứ được nộp cho các cơ quan này ít nhất ba năm.

4. Theo luật pháp và các quy định của mình, mỗi Bên phải cho phép các nhà xuất khẩu trong lãnh thổ của mình lưu trữ tài liệu hoặc hồ sơ bằng mọi phương tiện, miễn là có thể truy xuất và in ấn các tài liệu hoặc hồ sơ đó.

Điều 27

Sai khác và lỗi hình thức

1. Việc phát hiện ra những khác biệt nhỏ giữa thông tin trong giấy tờ chứng minh xuất xứ và thông tin trong các tài liệu nộp cho cơ quan hải quan nhằm mục đích thực hiện các thủ tục nhập khẩu sản phẩm sẽ không làm mất hiệu lực giấy tờ chứng minh xuất xứ nếu có thể xác định rằng tài liệu này phù hợp với sản phẩm được nộp.

2. Lỗi hình thức rõ ràng ​​như lỗi đánh máy trên giấy tờ chứng minh xuất xứ không nhất thiết làm cho giấy tờ này bị từ chối nếu các lỗi này không gây nghi ngờ về tính chính xác của thông tin trong giấy tờ đó.

3. Đối với nhiều hàng hoá kê khai theo cùng một giấy tờ chứng minh xuất xứ, một vấn đề xảy ra với một trong những mặt hàng được liệt kê sẽ không ảnh hưởng hoặc trì hoãn việc cho hưởng ưu đãi thuế quan và thông quan đối với những hàng hóa còn lại được liệt kê trong giấy tờ chứng minh xuất xứ.

Điều 28

Các khoản tiền tính bằng euro

1. Đối với việc áp dụng các quy định của Điều 15(1)(b)(ii) và Điều 24(3)(a) trong trường hợp sản phẩm được ghi trên hoá đơn bằng một đơn vị tiền tệ khác đồng euro, tỷ giá giữa đồng tiền của các thành viên của Liên minh Châu Âu hoặc của Việt Nam và đồng euro sẽ được niêm yết hàng năm bởi mỗi quốc gia có liên quan.

2. Một lô hàng sẽ được hưởng lợi từ các quy định của Điều 15(1)(b)(ii) hoặc Điều 24(3)(a) theo đơn vị tiền tệ trong hoá đơn được lập dựa theo tỷ giá do các Bên liên quan niêm yết.

3. Số tiền được sử dụng theo một đơn vị tiền tệ liên quan sẽ tương đương với đơn vị tiền tệ của các khoản tiền tính bằng euro vào ngày làm việc đầu tiên của tháng 10. Số tiền này sẽ được thông báo cho Ủy ban châu Âu vào ngày 15 tháng 10 và sẽ được áp dụng từ ngày 1 tháng 1 năm sau. Ủy ban châu Âu sẽ thông báo cho tất cả các nước có liên quan về các khoản tiền có liên quan.

4. Một Bên có thể làm tròn lên hoặc xuống một khoản tiền sau khi chuyển đổi sang đơn vị tiền tệ của mình từ đồng euro. Phần được làm tròn không được khác với kết quả chuyển đổi hơn 5%. Một Bên có thể giữ nguyên đơn vị tiền tệ tương đương đơn vị tiền tệ quốc gia của mình tương ứng với một khoản tiền bằng đồng euro nếu vào thời điểm điều chỉnh hàng năm theo quy định tại khoản 3, việc chuyển đổi số tiền đó trước khi làm tròn làm đơn vị tiền tệ tương đương tăng dưới 15%. Đơn vị tiền tệ tương đương đơn vị tiền tệ quốc gia có thể được giữ nguyên nếu việc chuyển đổi sẽ làm sụt giảm giá trị của đơn vị tiền tệ tương đương.

5. Các khoản tiền tính bằng euro sẽ được rà soát bởi [Ủy ban Hải quan] theo yêu cầu của Liên minh Châu Âu hoặc của Việt Nam. Khi tiến hành rà soát, [Ủy ban Hải quan] sẽ xem xét mức độ cần thiết của việc duy trì tác động của các giới hạn liên quan trong thực tế. Với mục đích này, Ủy ban Hải quan có thể quyết định điều chỉnh các khoản tiền tính bằng đồng euro.

TIÊU ĐỀ V

THỎA THUẬN HỢP TÁC HÀNH CHÍNH

Điều 29

Hợp tác giữa các cơ quan có thẩm quyền

1. Các cơ quan của các Bên có trách nhiệm cung cấp cho nhau, thông qua Ủy ban châu Âu, mẫu con dấu được sử dụng trong các cơ quan có thẩm quyền để cấp giấy chứng nhận xuất xứ và địa chỉ của các cơ quan hải quan có trách nhiệm xác minh giấy chứng nhận xuất xứ và tờ khai xuất xứ.

2. Để đảm bảo áp dụng phù hợp Nghị định thư này, các Bên, thông qua cơ quan có thẩm quyền của mình, có trách nhiệm hỗ trợ lẫn nhau trong việc kiểm tra tính xác thực của giấy chứng nhận xuất xứ hoặc tờ khai xuất xứ và sự chính xác của các thông tin trong các tài liệu này.

Điều 30

Xác minh giấy tờ chứng minh xuất xứ

1. Việc xác minh giấy tờ chứng minh xuất xứ phải được thực hiện một cách ngẫu nhiên hoặc khi cơ quan có thẩm quyền của Bên nhập khẩu có nghi ngờ hợp lý về tính xác thực của giấy tờ đó, việc thỏa mãn tiêu chuẩn xuất xứ của các sản phẩm có liên quan hoặc việc đáp ứng các yêu cầu khác của Nghị định thư này.

2. Trong phạm vi thực hiện các quy định của khoản 1, các cơ quan có thẩm quyền của Bên nhập khẩu phải trả lại giấy chứng nhận xuất xứ và hoá đơn nếu đã được nộp, hoặc tờ khai xuất xứ, hoặc một bản sao của các tài liệu này cho các cơ quan có thẩm quyền của Bên xuất khẩu, có nêu rõ lý do xác minh. Các tài liệu và thông tin thu được cho thấy rằng thông tin trên các giấy tờ chứng minh xuất xứ là không chính xác sẽ được chuyển tiếp để làm căn cứ cho yêu cầu xác minh.

3. Việc xác minh được thực hiện bởi các cơ quan có thẩm quyền của Bên xuất khẩu. Với mục đích này, các cơ quan đó có quyền yêu cầu bằng chứng và thực hiện kiểm tra tài khoản của nhà xuất khẩu hoặc các hình thức kiểm tra khác mà các cơ quan đó cho là thích hợp.

4. Nếu các cơ quan có thẩm quyền của Bên nhập khẩu quyết định đình chỉ việc cho hưởng ưu đãi đối với các sản phẩm có liên quan trong khi chờ kết quả xác minh, việc giải phóng hàng hóa cho nhà nhập khẩu tùy thuộc vào các biện pháp ngăn ngừa được cho là cần thiết. Việc đình chỉ ưu đãi sẽ kết thúc càng sớm càng tốt sau khi việc các sản phẩm có liên quan đạt tiêu chuẩn xuất xứ hoặc việc đáp ứng các yêu cầu khác của Nghị định thư này đã được xác nhận bởi các cơ quan có thẩm quyền của Bên nhập khẩu.

5. Các cơ quan cơ quan có thẩm quyền yêu cầu xác minh phải được thông báo về kết quả xác minh càng sớm càng tốt. Kết quả này phải nêu rõ liệu các tài liệu có xác thực hay không và các sản phẩm liên quan có thể được xem là sản phẩm có xuất xứ từ các Bên hay không, và các yêu cầu khác của Nghị định thư này có được đáp ứng hay không.

6. Trong trường hợp có nghi ngờ hợp lý mà không có câu trả lời trong vòng mười tháng kể từ ngày yêu cầu xác minh hoặc nếu câu trả lời không có đủ thông tin để xác định tính xác thực của các tài liệu hoặc xuất xứ thực sự của sản phẩm, cơ quan yêu cầu xác minh có quyền từ chối cho hưởng ưu đãi, trừ trường hợp đặc biệt.

Điều 31

Giải quyết tranh chấp

Trường hợp phát sinh tranh chấp liên quan đến các thủ tục xác minh của Điều 30 mà không thể được giải quyết giữa cơ quan yêu cầu xác minh và các cơ quan có thẩm quyền chịu trách nhiệm tiến hành xác minh, tranh chấp sẽ được trình lên [Ủy ban Hải quan].

Trong mọi trường hợp có tranh chấp giữa nhà nhập khẩu và các cơ quan có thẩm quyền của Bên nhập khẩu, việc giải quyết tranh chấp sẽ được thực hiện theo pháp luật của Bên đó.

Điều 32

Phạt vi phạm

Các Bên phải quy định thủ tục xử phạt đối với người nào lập hoặc gây ra việc lập tài liệu có chứa thông tin không chính xác để được hưởng ưu đãi cho sản phẩm.

Điều 33

Bảo mật

Mỗi Bên có trách nhiệm duy trì theo pháp luật của mình tính bảo mật của thông tin và dữ liệu thu thập được trong quá trình xác minh và bảo vệ các thông tin, dữ liệu khỏi bị tiết lộ vì nếu bị tiết lộ có thể gây phương hại đến vị thế cạnh tranh của người cung cấp thông tin hoặc dữ liệu đó. Mọi thông tin và dữ liệu trao đổi giữa các cơ quan chức năng của các Bên có thẩm quyền quản lý và thực thi tờ khai xuất xứ phải được giữ bí mật.

TIÊU ĐỀ VI

CEUTA VÀ MELILLA

Điều 34

Áp dụng Nghị định thư này

1. “Liên minh Châu Âu” không bao gồm Ceuta và Melilla.

2. Sản phẩm có xuất xứ từ Việt Nam khi nhập khẩu vào Ceuta hoặc Melilla, được hưởng cùng chế độ hải quan được áp dụng cho các sản phẩm có xuất xứ từ lãnh thổ hải quan của Liên minh châu Âu theo Nghị định thư số 2 của Đạo Luật gia nhập Liên minh Châu Âu của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Hàng hóa nhập khẩu thuộc phạm vi áp dụng của Hiệp định này và có xuất xứ từ Ceuta và Melilla sẽ được Việt Nam áp dụng cùng một chế độ hải quan áp dụng đối với sản phẩm nhập khẩu từ Liên minh Châu Âu và có xuất xứ từ Liên minh Châu Âu.

3. Trong phạm vi áp dụng khoản 2 đối với sản phẩm có xuất xứ từ Ceuta và Melilla, việc áp dụng Nghị định thư này và những sửa đổi phụ thuộc vào các điều kiện đặc biệt quy định tại Điều 35.

Điều 35

Điều kiện đặc biệt

1. Với điều kiện quy định tại Điều 13 được tuân thủ, các sản phẩm sau sẽ được xem như:

 (1) có xuất xứ từ Ceuta và Melilla, bao gồm:

 (a) các sản phẩm có xuất xứ thuần túy từ Ceuta và Melilla;

 (b) sản phẩm hình thành ở Ceuta và Melilla và trong quá trình sản xuất ra chúng không sử dụng sản phẩm nêu ở (a), với điều kiện:

 (i) các sản phẩm nói trên đã qua gia công hoặc xử lý đáng kể theo quy định tại Điều 5;

hoặc:

 (ii) các sản phẩm có xuất xứ từ một Bên với điều kiện chúng đã qua gia công hoặc xử lý vượt quá phạm vi các hoạt động gọi tại Điều 6.

 (2) có xuất xứ từ Việt Nam, bao gồm:

 (a) các sản phẩm có xuất xứ thuần túy từ Việt Nam;

 (b) sản phẩm hình thành ở Việt Nam và trong quá trình sản xuất ra chúng không sử dụng sản phẩm nêu ở (a), với điều kiện:

 (c) các sản phẩm trên đã qua gia công hoặc xử lý đáng kể theo quy định tại Điều 5;

hoặc:

 (ii) các sản phẩm có xuất xứ từ Ceuta và Melilla hoặc Liên minh Châu Âu với điều kiện chúng đã qua gia công hoặc xử lý vượt quá phạm vi các hoạt động gọi tại Điều 6.

2. Ceuta và Melilla được xem là một lãnh thổ độc lập.

3. Nhà xuất khẩu hoặc người đại diện theo ủy quyền điền “Vietnam” và “Ceuta and Melilla” trên giấy tờ chứng minh xuất xứ.

4. Cơ quan hải quan của Tây Ban Nha chịu trách nhiệm cho việc thực hiện Nghị định thư này tại Ceuta và Melilla.

TIÊU ĐỀ VII

ĐIỀU KHOẢN CUỐI CÙNG

Điều 36

Ủy ban

1. Ủy ban Hải Quan là ủy ban chuyên môn theo quy định tại Điều [X.2] “Ủy ban chuyên môn” trong Chương [X] “Điều khoản thể chế, điều khoản chung, và điều khoản cuối cùng” và Điều [X] “Ủy ban Hải Quan” trong Chương [X] “Tạo thuận lợi thương mại và hải quan”, có quyền rà soát quy định của Nghị định thư này và đề xuất sửa đổi với Ủy ban Thương mại.

2. Ủy ban Hải Quan cần nỗ lực để đạt được một thỏa thuận thống nhất về quản lý quy tắc xuất xứ, bao gồm phân loại thuế quan và các vấn đề xác định trị giá liên quan đến quy tắc xuất xứ và các vấn đề kỹ thuật, diễn đạt, và hành chính liên quan đến Nghị định thư này.

Điều 37

Sửa đổi Nghị định thư

Theo kết luận của một thỏa thuận thương mại tự do giữa Liên minh Châu Âu và một hoặc một số nước ASEAN, Ủy ban Hải quan có quyền đề xuất với Ủy ban Thương mại sửa đổi Nghị định thư này để đảm bảo sự phù hợp giữa các quy tắc xuất xứ áp dụng trong bối cảnh trao đổi ưu đãi giữa các nước ASEAN và Liên minh Châu Âu.

Điều 38

Điều khoản chuyển tiếp về hàng hóa đang vận chuyển và gửi kho

Các quy định của Hiệp định này có thể được áp dụng cho hàng hóa tuân thủ quy định của Nghị định thư này và vào thời điểm có hiệu lực của Hiệp định này đang được vận chuyển, đang tạm gửi kho tại các Bên, đang trong kho hải quan hoặc trong khu vực tự do với điều kiện đã nộp cho cơ quan hải quan của Bên nhập khẩu giấy tờ chứng minh xuất xứ cấp sau, và nếu có yêu cầu, các tài liệu cho thấy rằng hàng hóa không bị thay đổi theo quy định tại Điều 13.

PHỤ LỤC I

GIỚI THIỆU CHÚ GIẢI DANH MỤC TRONG PHỤ LỤC II

Chú giải 1 – Giới thiệu chung

Danh mục quy định các điều kiện cần thiết cho tất cả các sản phẩm được xem là đã qua gia công hoặc xử lý đáng kể theo quy định tại Điều 5 của Nghị định thư này. Có bốn loại quy tắc tùy thuộc vào sản phẩm:

 (a) sau khi gia công hoặc xử lý, hàm lượng nguyên liệu không có xuất xứ không vượt quá mức tối đa cho phép;

 (b) sau khi gia công hoặc xử lý, nhóm HS 4 chữ số hoặc phân nhóm HS 6 chữ số của sản phẩm làm ra khác với nhóm HS 4 chữ số hoặc phân nhóm HS 6 chữ số tương ứng của nguyên liệu được sử dụng. Tuy nhiên, trong trường hợp nêu tại điểm 3.3. khoản thứ 2, nhóm HS 4 chữ số hoặc phân nhóm HS 6 chữ số của sản phẩm làm ra có thể trùng với nhóm HS 4 chữ số hoặc phân nhóm HS 6 chữ số tương ứng của nguyên liệu được sử dụng;

 (c) một quy trình gia công và xử lý cụ thể được thực hiện;

 (d) việc gia công hoặc xử lý được thực hiện trên nguyên liệu có xuất xứ thuần túy.

Chú giải 2 - Cấu trúc của danh sách

2.1. Hai cột đầu tiên trong danh mục mô tả sản phẩm thu được. Cột đầu tiên cho biết mã số của nhóm hoặc số chương sử dụng trong Hệ thống hài hoà và cột thứ hai cho biết mô tả hàng hóa được sử dụng trong hệ thống thuộc nhóm hoặc chương đó. Đối với mỗi mục trong hai cột đầu tiên, có một quy tắc được quy định trong cột 3. Trong một số trường hợp, các mục trong cột đầu tiên được bắt đầu bằng "ex", nghĩa là các quy tắc trong cột 3 chỉ áp dụng cho một phần của nhóm này như mô tả trong cột 2.

2.2. Trường hợp một vài mã số nhóm được gom lại trong cột 1 hoặc một số chương được nêu và mô tả của sản phẩm trong cột 2 được nêu chung, các quy tắc liền kề trong cột 3 áp dụng cho tất cả sản phẩm thuộc các nhóm của chương này theo Hệ thống hài hòa hoặc bất kỳ nhóm nào được gom lại trong cột 1.

2.3. Trường hợp có các quy tắc khác nhau trong danh mục áp dụng cho các sản phẩm khác nhau trong cùng một nhóm, mỗi dòng thụt vào có các mô tả của một phần của nhóm áp dụng các quy tắc liền kề ở cột 3.

2.4. Trong trường hợp có hai quy tắc thay thế được quy định trong cột 3 cách nhau bằng "hoặc", thì nhà xuất khẩu có thể chọn một để sử dụng.

Ví dụ 3 – Ví dụ về cách áp dụng các quy tắc

3.1. Điều 5 của Nghị định thư này liên quan đến các sản phẩm đạt tiêu chuẩn xuất xứ được sử dụng để xuất các sản phẩm khác được áp dụng bất kể tiêu chuẩn xuất xứ có đạt được ở bên trong nhà máy nơi mà các sản phẩm này được sử dụng hoặc trong một nhà máy khác ở một Bên hay không.

3.2. Căn cứ Điều 6, việc gia công hoặc xử lý được thực hiện phải vượt quá phạm vi các hoạt động trong danh sách nêu tại Điều này. Nếu không, hàng hoá không đủ điều kiện để hưởng ưu đãi thuế quan, ngay cả khi các điều kiện đặt ra trong danh mục dưới đây được đáp ứng.

Theo các quy định nêu tại điểm đầu tiên, các quy tắc trong danh mục đại diện cho hàm lượng gia công hoặc xử lý tối thiểu. Việc tiến hành gia công hoặc xử lý thêm cũng làm cho hàng hóa trở thành có xuất xứ mà không ảnh hưởng đến Điều 6 (xem điểm 3.2). Ngược lại, việc gia công hoặc xử lý ít hơn không thể làm hàng hóa đạt tiêu chuẩn xuất xứ.

3.3. Đối với quy tắc "Quá trình sản xuất từ ​​nguyên liệu thuộc nhóm bất kỳ, ngoại trừ của nhóm của sản phẩm", tất cả các nguyên liệu không có xuất xứ thuộc các nhóm khác nhóm của sản phẩm đều được phép sử dụng (CTH).

Đối với quy tắc "Quá trình sản xuất xuất từ ​​nguyên liệu thuộc nhóm bất kỳ ", nguyên liệu thuộc bất kỳ nhóm nào (kể cả các nguyên liệu có cùng mô tả và nhóm với sản phẩm) đều được phép sử dụng.

3.4. Đối với quy tắc "Quá trình sản xuất trong đó giá trị của tất cả các nguyên liệu được sử dụng không vượt quá x% giá tại xưởng của sản phẩm", giá trị của tất cả các nguyên liệu không có xuất xứ phải được xem xét và tỷ lệ phần trăm giá trị tối đa của nguyên liệu không có xuất xứ không được vượt quá quy định tại Điều 5(3) [dung sai].

Nếu một quy tắc quy định rằng một nguyên liệu không có xuất xứ cụ thể được phép sử dụng thì được phép sử dụng các nguyên liệu vẫn còn trong giai đoạn đầu của quá trình sản xuất ra nguyên liệu cụ thể đó, và không được phép sử dụng các nguyên liệu là kết quả của việc chế biến nguyên liệu không có xuất xứ cụ thể đó.

Nếu một quy tắc quy định rằng một nguyên liệu không có xuất xứ cụ thể không được phép sử dụng thì được phép sử dụng các nguyên liệu vẫn còn trong giai đoạn đầu của quá trình sản xuất ra nguyên liệu không có xuất xứ cụ thể đó, và không được phép sử dụng các nguyên liệu là kết quả của việc chế biến nguyên liệu không có xuất xứ cụ thể đó.

Ví dụ: Khi quy tắc trong danh mục đối với Chương 19 đòi hỏi "nguyên liệu không có xuất xứ thuộc các nhóm từ 1101 đến 1108 không được vượt quá 20% khối lượng", việc sử dụng ngũ cốc không có xuất xứ thuộc Chương 10 (nguyên liệu ở giai đoạn đầu của quá trình sản xuất hàng hóa thuộc nhóm 1101 - 1108) không bị giới hạn ở 20% khối lượng.

3.6. Khi một quy tắc trong danh mục quy định rằng một sản phẩm có thể được sản xuất từ ​​nhiều nguyên liệu, có nghĩa là một hoặc nhiều nguyên liệu có thể được sử dụng. Không nhất thiết tất cả phải được sử dụng.

3.7. Khi một quy tắc trong danh mục quy định rằng một sản phẩm phải được sản xuất từ ​​một nguyên liệu cụ thể, điều kiện này không ngăn cấm việc sử dụng các nguyên liệu khác mà về bản chất không thể đáp ứng yêu cầu này.

Ví dụ: Sản phẩm sắt và thép không hợp kim cán phẳng, có chiều rộng từ 600 mm trở lên, đã được sơn, đánh véc-ni hoặc phủ bằng plastic thuộc HS 7210 70. Quy tắc cụ thể theo sản phẩm cho 7210 là "Quá trình xuất từ thỏi đúc hoặc dạng thô khác hoặc nguyên liệu bán thành phẩm thuộc nhóm 7206 và 7207”. Quy tắc này không ngăn cấm việc sử dụng sơn không có xuất xứ và véc-ni (nhóm 3208) hoặc plastic (chương 39).

Chú giải 4 - Quy định chung về một số hàng hoá nông nghiệp

4.1. hàng nông sản thuộc các Chương 6, 7, 8, 9, 10, 12 và nhóm 2401 được trồng hoặc thu hoạch trên lãnh thổ của một Bên được coi là có xuất xứ tại lãnh thổ của Bên đó, ngay cả nếu được trồng từ hạt, củ, gốc ghép, cành chiết, cành, chồi, hoặc các bộ phận sống khác của cây nhập khẩu từ một nước ngoài Hiệp định.

4.2. Trường hợp các quy tắc đối với sản phẩm trong các chương 1 - 24 có một số hạn chế về khối lượng, cần lưu ý rằng theo Điều 5(2) của Nghị định thư, những hạn chế về khối lượng chỉ áp dụng cho nguyên liệu không có xuất xứ. Vì vậy nguyên liệu có xuất xứ không dùng để tính toán những hạn chế về khối lượng. Ngoài ra, những hạn chế này được thể hiện theo những cách khác nhau. Cụ thể là:

• Quy tắc "khối lượng của nguyên liệu thuộc các chương/nhóm ...." nghĩa là khối lượng của từng loại nguyên liệu được nêu nên được tính và tổng khối lượng không vượt quá một tỷ lệ phần trăm tối đa.

Ví dụ: Quy tắc áp dụng cho Chương 19 quy định rằng khối lượng của nguyên liệu được sử dụng thuộc Chương 2, 3 và 16 không được vượt quá 20% khối lượng của sản phẩm cuối cùng. Nếu khối lượng của sản phẩm cuối cùng có chứa 12% nguyên liệu thuộc chương 3 và 10% nguyên liệu thuộc Chương 16 thì sản phẩm không đáp ứng quy tắc có xuất xứ của Chương 19 vì khối lượng kết hợp vượt quá 20%.

• Quy tắc "khối lượng của từng nguyên liệu thuộc chương/nhóm " nghĩa là khối lượng của từng nguyên liệu được đề cập không được vượt quá một tỷ lệ phần trăm tối đa, không liên quan đến khối lượng kết hợp của các nguyên liệu.

Ví dụ: Quy tắc áp dụng đối với Chương 22 quy định rằng khối lượng riêng lẻ của đường và các nguyên liệu thuộc Chương 4 không vượt quá 20% khối lượng của sản phẩm cuối cùng. Nếu khối lượng của sản phẩm cuối cùng có chứa 15% đường và 10% nguyên liệu của Chương 4 thì đáp ứng quy tắc có xuất xứ của Chương 22. Mỗi nguyên liệu riêng lẻ chiếm dưới 20%. Ngược lại, nếu khối lượng của sản phẩm cuối cùng có chứa 25% đường và 10% nguyên liệu của Chương 4 thì không đáp ứng quy tắc có xuất xứ.

• Quy tắc " khối lượng kết hợp của đường và các nguyên liệu thuộc Chương 4 không được vượt quá một tỷ lệ phần trăm khối lượng của sản phẩm cuối cùng" có nghĩa là khối lượng của cả đường và các nguyên liệu thuộc Chương 4 phải đáp ứng từng giới hạn khối lượng của chúng và khối lượng kết hợp phải đáp ứng các hạn chế về tổng khối lượng. Một hạn chế về tổng khối lượng là một hạn chế bổ sung đối với hạn chế về khối lượng riêng lẻ.

Ví dụ: Các quy tắc đối với nhóm 17.04 quy định rằng khối lượng kết hợp của đường và các nguyên liệu thuộc Chương 4 không vượt quá 50% khối lượng của sản phẩm cuối cùng. Những hạn chế đối với khối lượng của từng nguyên liệu thuộc chương 4 là 20% và đối với đường là 40%. Nếu khối lượng của sản phẩm cuối cùng có chứa 35% đường và 15% nguyên liệu Chương 4 thì đáp ứng quy tắc có xuất xứ của nhóm 17.04 về hạn chế khối lượng riêng lẻ và hạn chế về khối lượng kết hợp. Ngược lại, nếu khối lượng của sản phẩm cuối cùng chứa 35% đường và 20% nguyên liệu Chương 4 thì khối lượng kết hợp chiếm 55%. Trong trường hợp này hạn chế về khối lượng riêng lẻ được tuân thủ nhưng hạn chế về khối lượng kết hợp bị vượt qua và vì vậy không đáp ứng quy tắc có xuất xứ của nhóm 17.04.

Chú giải 5 - Thuật ngữ sử dụng đối với một số sản phẩm dệt may

5.1. Thuật ngữ "xơ tự nhiên" được sử dụng trong danh mục để chỉ các loại sợi khác sợi nhân tạo hoặc sợi tổng hợp. Thuật ngữ này được giới hạn trong giai đoạn trước khi quay, bao gồm cả phế liệu, và bao gồm sợi đã được chải thô, chải kỹ hoặc gia công theo cách khác nhưng chưa kéo thành sợi, trừ trường hợp có quy định khác.

5.2. Thuật ngữ "xơ tự nhiên" bao gồm lông đuôi và lông bờm ngựa thuộc nhóm 0511, lụa thuộc các nhóm 5002 và 5003, sợi len và lông động vật loại mịn hoặc thô của các nhóm từ 5101 đến 5105, sợi bông của các nhóm từ 5201 đến 5203, và các loại sợi thực vật khác thuộc các nhóm từ 5301 đến 5305.

5.3. Các thuật ngữ "bột dệt", "nguyên liệu hóa học" và "nguyên liệu làm giấy" được sử dụng trong danh mục để mô tả các nguyên liệu không được thuộc các Chương từ 50 đến 63 có thể được sử dụng để sản xuất sợi nhân tạo, sợi tổng hợp, sợi giấy hoặc các loại sợi .

5.4. Thuật ngữ "xơ staple nhân tạo" được sử dụng trong danh mục để chỉ tô (tow) filament nhân tạo hoặc tổng hợp, xơ staple nhân tạo hoặc phế liệu thuộc các nhóm từ 5501 đến 5507.

Chú giải 6 - Dung sai áp dụng đối với các sản phẩm làm từ một hỗn hợp của các nguyên liệu dệt

6.1. Trường hợp đối với một sản phẩm cụ thể trong danh mục có dẫn chiếu chú giải này, các điều kiện quy định trong cột 3 sẽ không được áp dụng cho bất kỳ loại nguyên liệu dệt cơ bản nào được sử dụng trong quá trình sản xuất các sản phẩm này và chiếm không quá 10% tổng khối lượng của tất cả các nguyên liệu dệt cơ bản được sử dụng. (Xem thêm Chú giải 6.3 và 6.4).

6.2. Tuy nhiên, dung sai nêu tại Chú giải 6.1 chỉ được áp dụng cho các sản phẩm hỗn hợp cấu thành từ hai nguyên liệu dệt cơ bản trở lên.

Sau đây là những nguyên liệu dệt cơ bản:

- Lụa;

- Len;

- Lông động vật loại thô;

- Lông động vật loại mịn;

- Lông bờm hoặc đuôi ngựa;

- Bông;

- Nguyên liệu làm giấy và giấy;

- Lanh;

- Gai;

- Đay và sợi lanh dệt khác;

- Sisal và xơ dệt khác của chi Agave;

- Dừa, chuối, gai và các loại sợi dệt gốc thực vật khác;

- Sợi nhân tạo tổng hợp;

- Sợi nhân tạo;

- Sợi dẫn điện;

- Xơ staple nhân tạo tổng hợp từ polypropylene;

- Xơ staple nhân tạo tổng hợp từ polyester;

- Xơ staple nhân tạo tổng hợp từ polyamide;

- Xơ staple nhân tạo tổng hợp từ polyacrylonitrile;

- Xơ staple nhân tạo tổng hợp từ polyimide;

- Xơ staple nhân tạo tổng hợp từ polytetrafluoroethylene;

- Xơ staple nhân tạo tổng hợp từ poly(phenylene sulphide);

- Xơ staple nhân tạo tổng hợp từ poly(vinyl chloride);

- Xơ staple nhân tạo tổng hợp khác;

- Xơ staple nhân tạo từ viscose;

- Xơ staple nhân tạo khác;

- Sợi làm bằng polyurethane phân đoạn với phân đoạn linh hoạt của polyether, có hoặc không quấn bọc;

- Sợi làm bằng polyurethane phân đoạn với phân đoạn linh hoạt của polyester, có hoặc không quấn bọc;

Các sản phẩm thuộc nhóm 5605 (sợi kim loại) có dải bao gồm một lõi lá nhôm hoặc của lõi màng nhựa có hoặc không tráng bột nhôm, có chiều rộng không quá 5 mm, kẹp bằng một chất kết dính trong suốt hoặc có màu giữa hai lớp màng nhựa;

- Các sản phẩm khác thuộc nhóm 5605;

- Sợi thủy tinh;

- Sợi kim loại.

Ví dụ:

Một loại sợi thuộc nhóm 5205 làm từ sợi bông thuộc nhóm 5203 và xơ staple tổng hợp thuộc nhóm 5506 là sợi hỗn hợp. Vì vậy, xơ staple tổng hợp không có xuất xứ không đáp ứng các quy tắc xuất xứ có thể được sử dụng, với điều kiện tổng khối lượng không vượt quá 10% khối lượng của sợi.

Ví dụ:

Một loại vải len thuộc nhóm 5112 được làm từ len sợi thuộc nhóm 5107 và sợi staple tổng hợp nhóm 5509 là một loại vải pha trộn. Vỉ vậy, có thể sử dụng sợi tổng hợp hoặc sợi len, vốn không đáp ứng quy tắc xuất xứ, hoặc cả hai với điều kiện tổng khối lượng không vượt quá 10% khối lượng của vải .

Ví dụ:

Vải dệt chần sợi vòng thuộc nhóm 5802 được làm từ sợi bông thuộc nhóm 5205 và bông vải thuộc nhóm 5210 chỉ là sản phẩm hỗn hợp nếu vải bông chính là một loại vải hỗn hợp làm từ sợi thuộc hai nhóm riêng biệt, hoặc nếu bản thân sợi bông được sử dụng là sợi hỗn hợp.

Ví dụ:

Nếu vải dệt chần sợi vòng liên quan được làm từ sợi bông thuộc nhóm 5205 và vải tổng hợp thuộc nhóm 5407, thì sợi được sử dụng rõ ràng là hai loại nguyên liệu dệt cơ bản khác nhau và theo đó, vải dệt chần sợi vòng là sản phẩm hỗn hợp.

6.3. Trong trường hợp sản phẩm có "sợi làm bằng polyurethane phân đoạn với phân đoạn linh hoạt của polyether, có hoặc không quấn bọc", dung sai là 20% đối với loại sợi này.

6.4. Trong trường hợp các sản phẩm “có dải bao gồm một lõi lá nhôm hoặc của lõi màng nhựa có hoặc không tráng bột nhôm, có chiều rộng không quá 5 mm, kẹp bằng một chất kết dính trong suốt hoặc có màu giữa hai lớp màng nhựa” dung sai là 30% đối với dải.

Chú giải 7 - Dung sai khác áp dụng đối với một số sản phẩm dệt may

7.1. Trường hợp trong danh mục có dẫn chiếu chú giải này, nguyên liệu dệt không đáp ứng quy tắc đặt ra trong danh mục ở cột 3 cho các sản phẩm có liên quan có thể được sử dụng, với điều kiện chúng thuộc một nhóm khác với nhóm của sản phẩm và giá trị của chúng không vượt quá 8% giá tại xưởng của sản phẩm.

7.2. Không ảnh hưởng đến Chú giải 6.3, nguyên liệu không thuộc các Chương từ 50 đến 63 có thể được sử dụng tự do trong sản xuất các sản phẩm dệt, bất kể có chứa nguyên liệu dệt hay không.

Ví dụ:

Nếu một quy tắc trong danh mục quy định rằng sợi phải được sử dụng đối với một mặt hàng dệt may cụ thể (như quần dài), điều này không ngăn cấm việc sử dụng các mặt hàng kim loại, chẳng hạn như nút, vì nút không thuộc các Chương từ 50 đến 63. Vì cùng lý do, điều này không ngăn cấm việc sử dụng dây khóa kéo dù chúng thường chứa nguyên liệu dệt.

7.3. Trường hợp áp dụng một tỷ lệ phần trăm, giá trị của nguyên liệu không có xuất xứ không thuộc Chương từ 50 đến 63 phải được xem xét khi tính toán giá trị của nguyên liệu không có xuất xứ trong sản phẩm.

Note 8 - Định nghĩa của các quy trình cụ thể và thao tác đơn giản được thực hiện đối với một số sản phẩm của Chương 27

8.1. Trong phạm vi một phần các nhóm 2707 và 2713, các "quy trình cụ thể" gồm:

 (a) chưng cất chân không;

 (b) tái chưng cất bằng một quá trình phân đoạn rất kỹ lưỡng;

 (c) đập vỡ;

 (d) thay đổi hình dạng;

 (e) chiết xuất bằng các dung môi chọn lọc;

 (f) quy trình bao gồm tất cả các thao tác sau: xử lý bằng axit sulfuric đậm đặc, oleum hoặc anhydrit sunfuric; trung hòa với các chất kiềm; tẩy màu và tinh chế với đất hoạt tính tự nhiên, đất hoạt hóa, than hoạt tính hoặc bauxite;

 (g) polyme hóa;

 (h) alkyl hóa;

 (i) đồng phân hóa.

8.2. Trong phạm vi một phần các nhóm 2710, 2711 và 2712, các "quy trình cụ thể" gồm:

 (a) chưng cất chân không;

 (b) tái chưng cất bằng một quá trình phân đoạn rất kỹ lưỡng;

 (c) đập vỡ;

 (d) thay đổi hình dạng;

 (e) chiết xuất bằng các dung môi chọn lọc;

 (f) quy trình bao gồm tất cả các thao tác sau: xử lý bằng axit sulfuric đậm đặc, oleum hoặc anhydrit sunfuric; trung hòa với các chất kiềm; tẩy màu và tinh chế với đất hoạt tính tự nhiên, đất hoạt hóa, than hoạt tính hoặc bauxite;

 (g) polyme hóa;

 (h) alkyl hóa;

 (ij) đồng phân hóa;

 (k) đối với các loại dầu nặng chỉ thuộc một phần nhóm 2710, khử lưu huỳnh bằng hydro, làm giảm ít nhất 85% của hàm lượng lưu huỳnh của các sản phẩm được chế biến (phương pháp ASTM D 1266-59 T);

 (l) đối với các sản phẩm chỉ thuộc nhóm 2710, khử parafin bằng một quy trình khác với quy trình lọc;

(m) đối với các loại dầu nặng chỉ thuộc một phần nhóm 2710, xử lý bằng hydro ở áp suất trên 20 bar và nhiệt độ trên 250 ° C, có sử dụng các chất xúc tác, không phải nhằm tác động đến quá trình khử lưu huỳnh, khi hydro là một nhân tố tích cực trong phản ứng hóa học. Tuy nhiên việc xử lý thêm bằng hydro các loại dầu bôi trơn thuộc nhóm 2710 (ví dụ hydrofinishing hoặc tẩy màu) theo thứ tự để cải thiện màu sắc hoặc tính ổn định thì không được xem là một quy trình cụ thể;

 (n) đối với các loại dầu nhiên liệu chỉ thuộc một phần nhóm 2710, chưng cất không khí với điều kiện ít hơn 30% các sản phẩm được chưng cất tính theo khối lượng (bao gồm lượng bị thất thoát) ở 300 °C theo phương pháp ASTM D 86;

 (o) đối với các loại dầu nặng trừ dầu khí và dầu nhiên liệu chỉ thuộc một phần nhóm 2710, xử lý bằng cách xả điện tần số cao;

 (p) đối với các sản phẩm thô (trừ dầu bôi trơn, ozokerite, sáp than non hoặc than bùn sáp, sáp parafin có hàm lượng dầu ít hơn 0.75%) chỉ thuộc nhóm 2712, quá trình khử dầu bởi bằng kết tinh phân đoạn.

8.3. Trong phạm vi nhóm 2707 và 2713, các thao tác đơn giản chẳng hạn như làm sạch, gạn, khử muối, tách nước, lọc, tạo màu, đánh dấu, đạt được một hàm lượng lưu huỳnh sau khi pha trộn sản phẩm với các hàm lượng lưu huỳnh khác nhau, hoặc kết hợp của những thao tác này hoặc thao tác tương tự không làm cho sản phẩm trở thành có xuất xứ.]

PHỤ LỤC II

DANH MỤC GIA CÔNG HOẶC CHẾ BIẾN CẦN THIẾT TRÊN NGUYÊN VẬT LIỆU KHÔNG CÓ XUẤT XỨ ĐỂ SẢN PHẨM ĐẠT TIÊU CHUẨN XUẤT XỨ

PHỤ LỤC III

NGUYÊN VẬT LIỆU NÊU Ở KHOẢN 2 ĐIỀU 3

HS

Mô tả

030741

Mực nang và mực ống sống, tươi hoặc ướp lạnh

030751

Bạch tuộc sống, tươi hoặc ướp lạnh

PHỤ LỤC IV

SẢN PHẨM NÊU Ở KHOẢN 2 ĐIỀU 3

HS

Mô tả

160554

Mực nang và mực ống đã chế biến hoặc bảo quản

160555

Bạch tuộc đã chế biến hoặc bảo quản

PHỤ LỤC V

SẢN PHẨM NÊU Ở KHOẢN 7 ĐIỀU 3

HS

Mô tả

Chương 61

Quần áo và hàng may mặc phụ trợ, dệt kim hoặc móc

Chương 62

Quần áo và các hàng may mặc phụ trợ, không dệt kim hoặc móc

PHỤ LỤC VIII
GIẢI THÍCH

1. Trong phạm vi Điều 1(p), "nhà xuất khẩu" không nhất thiết phải là người (người bán) phát hành hoá đơn bán hàng cho lô hàng (bên thứ ba lập hóa đơn). Người bán có thể ở trong lãnh thổ của một Bên ngoài Hiệp định.

2. Trong phạm vi Điều Article 4(1)(b) “thực vật và sản phẩm thực vật" bao gồm cây sống, hoa, trái cây, rau, rong biển và nấm.

3. Theo mục đích của Điều 11, nguyên tắc kế toán tổng hợp nghĩa là sự đồng thuận hoặc hỗ trợ về thẩm quyền đáng kể được công nhận trong lãnh thổ của một Bên liên quan đến việc ghi nhận các khoản thu, chi phí, tài sản và nợ phải trả; công bố thông tin; và chuẩn bị các báo cáo tài chính. Các tiêu chuẩn này có thể bao gồm các hướng dẫn áp dụng chung cũng như các tiêu chuẩn, thông lệ và thủ tục.

4. Trong phạm vi Điều 13(4), "trong trường hợp nghi ngờ" nghĩa là Bên nhập khẩu muốn xác định các trường hợp mà người khai được yêu cầu cung cấp bằng chứng về sự tuân thủ Điều 13 nhưng không thường yêu cầu cung cấp bằng chứng đó.

5. Trong phạm vi Điều 17(1) "bằng văn bản" bao gồm cả đơn xin thực hiện bằng phương tiện điện tử.

6. Trong phạm vi của Điều 17 (3), " trình tất cả các tài liệu thích hợp bất cứ lúc nào theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của Bên xuất khẩu" bao gồm cả tình huống trong đó các cơ quan có thẩm quyền yêu cầu nộp một cách có hệ thống tất cả tài liệu bổ trợ cũng như tình huống trong đó các cơ quan có thẩm quyền yêu cầu nộp các tài liệu bổ trợ.

7. Trong phạm vi Điều 21(3), “một tài liệu thương mại khác" có thể là một phiếu giao hàng, một hóa đơn pro-forma hoặc packing list được gửi kèm. Một chứng từ vận tải, chẳng hạn như vận đơn hoặc Airway Bill, không phải tài liệu thương mại. Không cho phép tờ khai xuất xứ trên một mẫu độc lập. Tờ khai xuất xứ có thể nằm trên một tờ giấy riêng biệt của tài liệu thương mại nếu tờ giấy đó là một phần rõ ràng của tài liệu này.

8. Liên quan đến việc áp dụng Điều 32, cơ quan hải quan của nước xuất khẩu cần thông báo cho các cơ quan nhập khẩu về việc tiếp nhận yêu cầu xác minh dưới mọi hình thức, bao gồm cả hình thức điện tử. Các cơ quan hải quan cũng cần thông báo cho các cơ quan yêu cầu trong trường hợp họ cần nhiều thời gian hơn mười tháng để tiến hành xác minh và trả lời.

9. Liên quan đến việc áp dụng Điều 32(6), các cơ quan có thẩm quyền yêu cầu phải kiểm tra với các cơ quan có thẩm quyền được yêu cầu xem họ thực sự nhận được yêu cầu hay chưa trước khi từ chối cho hưởng ưu đãi.

TUYÊN BỐ CHUNG

về Công quốc Andorra

1. Sản phẩm có xuất xứ từ Công quốc Andorra thuộc Chương 25 - 97 của Hệ thống hài hoà phải được Việt Nam chấp nhận là có xuất xứ từ Liên minh Châu Âu theo quy định tại Hiệp định này.

2. Nghị định thư về "định nghĩa của các sản phẩm có xuất xứ và phương pháp hợp tác hành chính” được áp dụng với những sửa đổi nhằm xác định việc các sản phẩm nói trên đạt tiêu chuẩn xuất xứ hay không.

TUYÊN BỐ CHUNG

về Cộng Hòa San Marino

1. Sản phẩm có xuất xứ từ Cộng Hòa San Marino phải được Việt Nam chấp nhận là có xuất xứ từ Liên minh Châu Âu theo quy định tại Hiệp định này.

2. Nghị định thư về "định nghĩa của các sản phẩm có xuất xứ và phương pháp hợp tác hành chính” được áp dụng với những sửa đổi nhằm xác định việc các sản phẩm nói trên đạt tiêu chuẩn xuất xứ hay không.

TUYÊN BỐ CHUNG

về sửa đổi các quy tắc xuất xứ trong Nghị định thư liên quan đến “định nghĩa về sản phẩm có xuất xứ và phương pháp hợp tác hành chính”

1. Các Bên đồng ý rà soát các quy tắc xuất xứ trong Nghị định thư này liên quan đến định nghĩa sản phẩm có xuất xứ và phương pháp hợp tác hành chính, và thảo luận về những sửa đổi cần thiết theo yêu cầu của một trong các Bên.

2. Phụ lục từ II đến IV của Nghị định thư về "định nghĩa về sản phẩm có xuất xứ và phương pháp hợp tác hành chính” sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với những thay đổi định kỳ của Hệ thống hài hoà.

3,598