Tại quyết định số 1612/KNPT-DS ngày 23/8/2021 “Quyết định kháng nghị phúc thẩm đối với bản án dân sự sơ thẩm số 16/2021/DS-ST của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An” do ông Hồ Sỹ Cấp – Phó Viện trưởng VKSND tỉnh Nghệ An ký, đã chỉ ra 6 vi phạm sau:

1. Áp dụng căn cứ pháp luật giải quyết vụ án không đầy đủ, thiếu chính xác

Theo bản án, tòa án xác định quan hệ tranh chấp là kiện đòi lại tài sản, nhưng bản án sơ thẩm không căn cứ các quy định của Bộ luật dân sự về quyền sở hữu tài sản để giải quyết vụ án là không đầy đủ.

Ngày 30/12/2002 bà Đậu Thị Luân lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tài sản trên đất cho bà Nguyễn Thị Ơn. Như vậy, giao dịch dân sự giữa bà Luân và bà Ơn thực hiện năm 2002 theo quy định của pháp luật thì phải căn cứ các quy định của pháp luật dân sự tại thời điểm thực hiện giao địch để giải quyết. Tuy vậy, bản án sơ thẩm căn cứ Điều 129, Điều 133 của Bộ luật dân sự năm 2015 để giải quyết vụ án là không đúng quy định của pháp luật và Hướng dẫn tại mục 4, phần III Giải đáp số 02/TANDTC-PC ngày 02/8/2021 của Tòa án nhân dân tối cao.

2. Xác định tư cách tham gia tố tụng không đúng quy định

Điều 77 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định: Người biết các tình tiết có liên quan đến nội dung vụ việc được đương sự đề nghị, Tòa án triệu tập tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng.  Bản án sơ thẩm xác định Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An, UBND phường Quang Trung, thành phố Vinh và Văn phòng công chứng Hòa Bình là các cơ quan nhà nước, tổ chức tham gia tố tụng với tư cách người làm chứng là không đúng quy định của pháp luật.

3. Tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự không đúng quy định

Căn cứ khoản 2, 5 Điều 177; Khoản 3 điều 233 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015 tòa đã tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự không đúng quy định.

4. Vi phạm quy định pháp luật về giải quyết án phí 

Khoản 1 Điều 14 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH quy định: “Người đề nghị được miễn, giảm tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, án phí, lệ phí Tòa án thuộc trường hợp quy định tại Điều 12, Điều 13 của Nghị quyết này phải có đơn đề nghị nộp cho Tòa án có thẩm quyền kèm theo các tài liệu, chứng cứ chứng minh thuộc trường hợp được miễn, giảm”.

Bà Hồ Thị Ân, sinh năm 1929. Theo quy định tại Điều 2 Luật người cao tuổi, bà Ân là người cao tuổi; bà Ân được miễn nộp tiền án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH. Theo quy định được trích dẫn trên thì bà Ân phải có đơn xin miễn nộp án phí, nhưng quá trình giải quyết vụ án bà Ân không có đơn xin miễn nộp tiền án phí, tuy nhiên bản án sơ thẩm quyết định miễn án phí cho bà Ân là không đúng quy định được trích dẫn trên. Mặt khác, theo quy định tại điểm 1.1, tiểu mục 1, mục II phần A Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 thì mức án phí dân sự sơ thẩm bà Thủy, bà Ân, chị Trang, chị Ý, chị Thịnh phải chịu là 300.000 đồng, nhưng bản án sơ thẩm buộc bà Thủy, chị Trang, chị Ý, chị Thịnh mỗi người phải chịu 75.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm là không chính xác.

5. Nhận định và quyết định của bản án không phù hợp

Bản án sơ thẩm nhận định Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản 9.900.000 đồng bà Nguyễn Thị Ơn đã nộp và tự nguyện chịu toàn bộ nên Hội đồng xét xử không xem xét, nhưng phần quyết định của bản án căn cứ các Điều 157, 158, 165, 166 của Bộ luật tố tụng dân sự quyết định bà Nguyễn Thị Ơn phải chịu 9.900.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá là không phù hợp với nhận định của bản án.

6. Giải quyết vụ án không đúng quy định của pháp luật

Bà Nguyễn Thị Ơn khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số 4152/QĐ-UBND ngày 26/11/2004 của UBND TP Vinh về việc thu hồi GCNQSDĐ của ông Hồ Hải Lâm bà Đậu Thị Luân, khối 12, phường Quang Trung, thành phố Vinh; hủy Quyết định số 2394/QĐ-UBND ngày 18/5/2011 của UBND TP Vinh về việc hủy bỏ GCNQSDĐmã số U836914 và Quyết định số 164/QĐ-UBND ngày 21/6/2002 về cấp GCNQSDĐ cho ông Hồ Hải Lâm, Đậu Thị Luân; hủy Quyết định số 6213/QĐ-UBND ngày 31/10/2012 của UBND TP Vinh về việc đính chính quyết định số 2394/QĐ-UBND ngày 18/5/2011. Tài liệu kèm theo đơn khởi kiện là bản sao không có công chứng, chứng thực 03 Quyết định nêu trên (BL 628, 629, 630).

Căn cứ khoản 1 Điều 95 BLTTDS năm 2015; khoản 5 Điều 189 BLTTDS năm 2015 thì khi khởi kiện nguyên đơn phải có tài liệu chứng cứ chứng minh quyền lợi ích bị xâm phạm và trường hợp vì lý do khách quan chưa thể nộp đầy đủ tài liệu, chứng cứ thì phải có văn bản tường trình. Trong thời gian chuẩn bị xét xử Tòa án đã yêu cầu bà Ơn giao nộp các tài liệu chứng cứ nêu trên (Thông báo số 400 ngày 02/6/2021) nhưng bà Ơn không thực hiện và tại phiên tòa bà Ơn cũng không có tài liệu chứng cứ giao nộp để có căn cứ xem xét.

Mặc dù Tòa án Nghệ An đã yêu cầu bà Ơn cung cấp tài liệu là ba quyết định nêu trên, nhưng bà Ơn không cung cấp được bản gốc, bản sao có công chứng, chứng thực hoặc có xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (cơ quan ban hành và lưu trữ văn bản) đối với các quyết định trên cho Tòa án, nhưng bản án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ơn quyết định hủy ba quyết định nêu trên là chưa đảm bảo quy định tại Điều 3, khoản 1 Điều 6, Điều 34, khoản 1 Điều 91, khoản 1 Điều 95, khoản 5 Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Hướng dẫn tại mục 5 phần IV Giải đáp số 01/GĐ-TANDTC ngày 25/7/2016 của Tòa án nhân dân tối cao.

Bán sơ thẩm nhận định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tài sản trên đất giữa bà Luân và bà Ơn đã được chứng thực tại UBND phường Quang Trung, đảm bảo các điều kiện của hợp đồng theo quy định tại Điều 131, Điều 691, Điều 697, Điều 698 của Bộ luật dân sự 1995; Điều 73 Luật đất đai 1993, nên giao dịch dân sự, hợp đồng đã hoàn thành bà Ơn là chủ sử dụng đất hợp pháp và bản án căn cứ Điều 129, Điều 133 Bộ luật dân sự 2015 chấp nhận yêu cầu khởi kiện buộc bà Thủy và những người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của ông Minh là bà Ân, chị Trang, chị  Ý, chị Thịnh phải trả lại thửa đất số 21, tờ bản đồ 11 và ngôi nhà 2 tầng trên thửa đất tại khối 13 phường Quang Trung, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An cho bà Ơn là chưa có đủ cơ sở.

Như vậy, bản án dân sự sơ thẩm nêu trên đã vi phạm pháp luật dân sự. Những vi phạm này cấp phúc thẩm không thể khắc phục được, nên cần áp dụng khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Hủy bản án dân sự sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Lý Nguyễn

Nguồn: Báo Bảo vệ pháp luật