Quyết định giám đốc thẩm 81/2013/DS-GĐT ngày 28/06/2013 về vụ đòi tài sản và yêu cầu xác lập quyền sở hữu tài sản nhà đất

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 81/2013/DS-GĐT NGÀY 28/6/2013 VỀ VỤ ÁN DÂN SỰ ĐÒI TÀI SẢN VÀ YÊU CẦU XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN NHÀ VÀ ĐẤT GIỮA NGUYÊN ĐƠN ÔNG PHẠM HỮU THẤT VÀ BỊ ĐƠN ÔNG PHẠM HỮU CẢNH

Ngày 28/6/2013, tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao mở phiên tòa xét xử giám đốc thẩm vụ án dân sự “Đòi tài sản và yêu cầu xác lập quyền sở hữu tài sản nhà và đất” giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Phạm Hữu Thất sinh năm 1925; trú tại nhà số 93 đường Nguyễn Đình Chiểu, phường Châu Phú A, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Ông Phạm Hữu Cảnh (em ruột của ông Thất) sinh năm 1941; trú tại nhà số 4/4 Thủ Khoa Huân, khóm Châu Long 4, phường Châu Phú B, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Phạm Hữu Hiển (em ruột của ông Thất) sinh năm 1944; định cư tại Mỹ (địa chỉ: số 429.E. Marsall St, San Gabriel, CA 91776 Los Angeles, California, USA); tạm trú tại nhà số 371 tổ 13, ấp Lân Thạnh 2, xã Trung huyện Thốt Nốt, thành phố cần Thơ.

2. Ông Phạm Hữu Tốt (em ruột của ông Thất) sinh năm 1927; trú tại nhà số 2/69 tổ 2, ấp Lo Bom, thị trấn Kiên Lương, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.

3. Bà Phạm Thị Hoàng (em ruột của ông Thất) sinh năm 1939; trú tại nhà số 371 tổ 13, ấp Lân Thạnh 2, xã Trung Kiên, huyện Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.

Ông Cảnh, ông Hiển, ông Tốt và bà Hoàng cùng ủy quyền cho ông Trần Đông Phong (sinh năm 1962; trú tại nhà số 11F/10 Bạch Đằng, phường 2, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh) làm đại diện tham gia tố tụng.

4. Bà Phạm Thị Nhứt (em ruột của ông Thất) sinh năm 1952, trú tại nhà số 93 Nguyễn Đình Chiểu, phường Châu Phú A, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang.

5. Bà Phạm Thị Vang (em ruột của ông Thất) sinh năm 1949; trú tại nhà số 93 Nguyễn Đình Chiểu, phường Châu Phú A, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang.

6. Ông Phạm Hữu Nên (em ruột của ông Thất) sinh năm 1937; định cư tại Mỹ (địa chỉ: số 43I.E. Marshall St, City San Garbriel, CA 91776 Los Angeles, California, USA); tạm trú tại nhà số 93 Nguyễn Đình Chiểu, phường Châu Phú A, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang.

7. Bà Lưu Ngọc Dung (vợ của ông Cảnh) sinh năm 1945; trú tại nhà số 4/4 Thủ Khoa Huân, khóm Châu Long 4, phường Châu Phú B, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang.

8. Chị Đỗ Thị Hoa sinh năm 1957; trú tại ấp Tân Hiệp A, thị trấn Óc Eo, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

9. Anh Phạm Hữu Hiền sinh năm 1965; trú tại nhà số 16, tổ 9, khóm Hòa Bình, phường Vĩnh Mỹ, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang.

NHẬN THẤY

Tại đơn khởi kiện ngày 08/4/2004 và quá trình tố tụng, nguyên đơn là ông Phạm Hữu Thất trình bày:

Căn nhà số 44 đường Bạch Đằng, khóm 5, phường Châu Phú A, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang (gọi tắt là “nhà 44 Bạch Đằng”) có nguồn gốc của ông mua của gia đình cụ Phan Hữu Phuông từ năm 1952, nhưng thời điểm đó ông tham gia Cách mạng nên đã nhờ cha mẹ là cụ Phạm Hữu Hay, cụ Phạm Thị Vú đứng tên trong giấy tờ mua bán nhà. Sau khi mua nhà, ông cho vợ chồng ông Ngụy Tài, bà Thái Thị Hồng thuê nhà.

Năm 1975, ông đòi nhà nhưng ông Tài, bà Hồng không trả nên xảy ra tranh chấp. Do cụ Hay và cụ Vú vẫn đứng tên trong giấy tờ mua bán nhà, nên ngày 18/3/1975, hai cụ đã ký giấy ủy quyền cho ông được đòi lại nhà cho thuê. Trong giấy ủy quyền, hai cụ đã khẳng định trả lại cho ông quyền sở hữu nhà.

Sau năm 1975, ông Ngụy Tài vượt biên. Căn nhà 44 Bạch Đằng do Nhà nước quản lý. Ông làm đơn xin lại căn nhà. Ngày 24/5/1983, Ủy ban nhân dân thị xã Châu Đốc ban hành Quyết định số 97/QĐ-UB giao lại căn nhà 44 Bạch Đằng cho ông làm chủ quyền và ông đã đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ này. Tháng 4/1985, cụ Vú ốm nặng, ông phải khóa cửa bỏ trống nhà 44 Bạch Đằng và chuyển về ở tại nhà số 93 Nguyễn Đình Chiểu để chăm sóc cụ Vú thì vợ chồng ông Phạm Hữu Cảnh, bà Lưu Ngọc Dung tự ý phá khóa vào chiếm căn nhà 44 Bạch Đằng để ở.

Nay ông yêu cầu Tòa án xác định quyền sở hữu căn nhà 44 Bạch Đằng của ông, yêu cầu vợ chồng ông Cảnh, bà Dung trả lại nhà cho ông.

Bị đơn là ông Phạm Hữu Cảnh (do ông Trần Đông Phong đại diện theo ủy quyền) trình bày: Căn nhà 44 Bạch Đằng do cụ Hay và cụ Vú mua. Khi còn sống, hai cụ chỉ ủy quyền cho ông Thất đòi vợ chồng ông Ngụy Tài, bà Thái Thị Hồng trả nhà. Năm 1983, Ủy ban nhân dân thị xã Châu Đốc ra quyết định trao trả căn nhà cho ông Thất là không đúng. Cụ Hay chết năm 1987. Cụ Vú chết năm 1985. Trước khi chết, hai cụ không để lại di chúc nên căn nhà là di sản của hai cụ để lại cho các con, ai muốn ở thì ở.

Ngày 30/9/2008, ông Cảnh có “Đơn phản tố” yêu cầu chia thừa kế căn nhà số 44 Bạch Đằng cho các con của cụ Hay, cụ Vú.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lưu Ngọc Dung (vợ của ông Cảnh) trình bày: Bà không có ý kiến về việc tranh chấp nhà giữa ông Thất và ông Cảnh. Bà xin không tham gia hòa giải, không tham gia phiên tòa.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Hữu Nên, bà Phạm Thị Vang, bà Phạm Thị Nhứt và bà Phạm Thị Tươi (là các con của cụ Hay, cụ Vú) trình bày: Căn nhà số 44 Bạch Đằng là do ông Thất bỏ tiền ra mua và nhờ cụ Hay, cụ Vú đứng tên trong giấy tờ mua bán, vì thời điểm đó ông Thất hoạt động Cách mạng. Sau giải phóng, chính quyền đã quản lý căn nhà một thời gian, đến năm 1983 thì có quyết định trả lại nhà cho ông Thất. Căn nhà 44 Bạch Đằng thuộc sở hữu của ông Thất.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Thị Hoàng, ông Phạm Hữu Hiền và ông Phạm Hữu Tốt (là các con của cụ Hay, cụ Vú) yêu cầu Tòa án xác định căn nhà 44 Bạch Đằng là của cụ Hay, cụ Vú và xin chia thừa kế căn nhà.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Phạm Hữu Hiền và chị Đỗ Thị Hoa trình bày: Anh, chị là con của bà Tươi. Bà Tươi chết năm 2007. Nay anh, chị yêu cầu được hưởng phần thừa kế phần của bà Tươi.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 49/2008/DSST ngày 02/12/2008, Tòa án nhân dân tỉnh An Giang quyết định:

Công nhận và giao quyền sở hữu, sử dụng căn nhà và đất số 44 đường Bạch Đằng, khóm 5, phường Châu Phú A, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang cho ông Phạm Hữu Thất.

Ông Phạm Hữu Thất có trách nhiệm liên hệ với các cơ quan chức năng hợp thức hóa quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất.

Bác yêu cầu xin chia di sản thừa kế căn nhà số 44 đường Bạch Đằng, khóm 5, phường Châu Phú A, thị xã Châu Đốc của ông Phạm Hữu Cảnh, Phạm Hữu Hiển, Phạm Hữu Tốt, Phạm Thị Hoàng.

Ông Phạm Hữu Cảnh được quyền liên hệ với Thi hành án dân sự tỉnh An Giang để nhận số tiền sửa chữa nhà và tiền hỗ trợ của óng Phạm Hữu Thất cụ thể là 21.500.000đ.

Ngày 12/12/2008, ông Cảnh có đơn kháng cáo không chấp nhận quyết định của bản án sơ thẩm.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 182/2009/DS-PT ngày 02/7/2009, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh quyết định: Giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm.

Ngày 06/8/2009, ông Trần Đông Phong (đại diện cho bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) có đơn khiếu nại cho rằng: Căn nhà số 44 Bạch Đằng là di sản của cụ Hay, cụ Vú nhưng Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm lại công nhận nhà này của ông Thất để bác yêu cầu chia thừa kế của ông Cảnh, ông Hiển, bà Hoàng, ông Tốt là không đúng (Đơn khiếu nại của ông Phong do ủy ban, Tư pháp Quốc hội chuyển đến Chánh án Toà án nhân dân tối cao xem xét, giải quyết theo thẩm quyền).

Tại Kháng nghị số 260/2012/KN-DS ngày 29/6/2012, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định:

Kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm số 182/2009/DS-PT ngày 02/7/2009 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh;

Đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao huỷ bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và hủy bản án dân sự sơ thẩm số 49/2008/DSST ngày 02/12/2008 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

XÉT THẤY

Nhà đất tại 44 Bạch Đằng có nguồn gốc là của cụ Phạm Hữu Hay, cụ Phạm Thị Vú mua của gia đình cụ Phan Hữu Phuông ngày 16/7/1952. Cụ Hay, cụ Vú có 9 người con chung là các ông, bà: Phạm Hữu Thất, Phạm Hữu Tốt, Phạm Hữu Nên, Phạm Thị Hoàng, Phạm Hữu Cảnh, Phạm Hữu Hiển, Phạm Thị Vang, Phạm Thị Nhứt, Phạm Thị Tươi (chết năm 2007). Cụ Vú, cụ Hay chết đều không để lại di chúc. Phía nguyên đơn yêu cầu đòi xác lập quyền sở hữu đối với nhà đất tại 44 Bạch Đằng. Trong khi đó, phía bị đơn cùng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn, đồng thời yêu cầu chia thừa kế nhà đất tại 44 đường Bạch Đằng cho 9 người con của cụ Hay, cụ Vú.

Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, ông Thất xuất trình bản phô tô “Tờ ủy quyền đặc biệt VÀ XIN TRẢ CHỦ QUYỀN CHO CON PHẠM HỮU THẤT” ngày 18/3/1975 có nội dung là cụ Hay, cụ Vú ủy thác cho ông Thất được thay mặt hai cụ “hầu trước Tòa sơ thẩm Châu Đốc” trong việc tranh tụng với vợ chồng ông Tài, bà Hồng về việc đòi căn nhà số 44 Bạch Đằng, trong đó còn có đoạn: “… Quyết định xin trả cho Phạm Hữu Thất “vì lúc mua Thất đưa tiền cho cha mẹ mua dùm và đứng tên, nay chúng tôi trả lại cho con”. Ông Trần Đông Phong (đại diện theo ủy quyền của ông Cảnh, ông Hiền, ông Tốt và bà Hoàng) lại xuất trình Công văn số 32/C21B (DV) ngày 01/7/2009 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh (thuộc Viện Khoa học hình sự Bộ Công an) trả lời cho ông Trần Đông Phong (về việc xin giám định), trong đó kết luận phần chữ đánh máy đoạn “VÀ XIN TRẢ CHỦ QUYỀN CHO CON PHẠM HỮU THẤT” và đoạn “vì lúc mua Thất đưa tiền cho cha mẹ mua dùm và đứng tên, nay chúng tôi trả lại cho con” được đánh ra từ một máy đánh chữ khác với máy đánh chữ đã đánh những chữ còn lại trong cùng tài liệu. Hơn nữa, tài liệu ông Phong gửi giám định cũng chỉ là bản phô-tô-cop-py, vì quá trình Tòa án giải quyết vụ án, ông Thất không xuất trình được bản gốc. Như vậy, việc giám định tài liệu nêu trên là do ông Phong tự tiến hành, không phải do Tòa án trưng cầu theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nên kết luận giám định nêu trên không thể coi là chứng cứ để giải quyết vụ án. Do đó, chưa đủ cơ sở xác định ông Thất có đưa tiền cho cụ Hay, cụ Vú nhờ mua nhà số 44 Bạch Đằng hay không.

Tại Quyết định số 97/QĐ-UB ngày 24/5/1983, Ủy ban nhân dân thị xã Châu Đốc quyết định “giao lại căn nhà sô 44 Bạch Đằng, thị xã Châu Đốc lại cho ông Phạm Hữu Thất làm chủ quyền” và “ông Thất phải chịu trách nhiệm trả đủ số tiền cho Nhà nước là 65.000 đồng trước khi nhận nhà”. Tuy nhiên, theo “Đơn xin chủ quyền căn phố lầu” đề ngày 30/5/1982 thì ông Thất đứng đơn với tư cách là người được cụ Hay, cụ Vú ủy quyền xin lại căn nhà số 44 Bạch Đằng “là bất động sản của ông thân tôi (BAVAGI) tự Phạm Hữu Hay và bà Phạm Thị Vú chớ không phải của tên Hoa kiều Ngụy Tài”. Như vậy, việc Ủy ban nhân dân thị xã Châu Đốc giao lại cho ông Thất căn nhà 44 Bạch Đằng không đồng nghĩa với việc đã công nhận ông Thất là chủ sở hữu căn nhà nêu trên. Tại “Tờ trình” ngày 01/5/2004, ông Thất khẳng định: “Sau khi Ủy ban nhân dân thị xã Châu Đốc ban hành Quyết định số 97/QĐ-UB ngày 24/5/1983, ông đã đi vay mượn và nộp đủ số tiền 65.000đ. Ngân hàng nhà nước thị xã Châu Đốc thu tiền và có đưa cho ông biên lai. Sau đó ông Thất nộp biên lai cho ông Tư Biện (khi đó là Phó Chủ tịch thị xã Châu Đốc). Ông Biện giữ biên lai và giao chìa khóa cho ông Thất mở cửa vào nhà. Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm chưa thu thập chứng cứ xác minh làm rõ có việc ông Thất nộp số tiền 65.000đ hay không là chưa thu thập đầy đủ chứng cứ để giải quyết vụ án.

Về lời khai của ông Nguyễn Hồng Sanh (nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã Châu Đốc và là người ký Quyết định số 97/QĐ-UB ngày 24/5/1983): “Biên bản lấy lời khai” ngày 28/01/2005 của Tòa án cấp sơ thẩm đối với ông Nguyễn Hồng Sanh, do Thẩm phán Lê Long Khánh tiến hành, hiện có trong hồ sơ vụ án là tài liệu không được đóng dấu, không có số bút lục; việc thực hiện ghi lời khai được tiến hành tại nhà riêng của ông Sanh mà không có sự chứng kiến của đại diện chính quyền địa phương. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã lấy lời khai của ông Sanh không theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 87 và khoản 2 Điều 86 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, tài liệu này chưa đủ điều kiện để làm chứng cứ của vụ án.

Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm căn cứ vào “Tờ ủy quyền đặc biệt” ngày 18/3/1975, Quyết định số 97/QĐ-UB ngày 24/5/1983 của Ủy ban nhân dân thị xã Châu Đốc và lời khai của một số người làm chứng (trong đó có ông Nguyễn Hồng Sanh) để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chưa đủ căn cứ.

Nếu đủ căn cứ xác định nhà 44 Bạch Đằng là của cụ Hay, cụ Vú thì khi chia thừa kế cần phải đặc biệt xem xét đến công sức của ông Thất trong việc đòi nhà cho thuê, công sức thay cha mẹ xin lại nhà do Nhà nước quản lý nhà vắng chủ, cũng như số tiền 65.000đ ông Thất đã nộp cho Ủy ban nhân dân thị xã Châu Đốc theo Quyết định số 97/QĐ-UB ngày 24/5/1983 (nếu có), để giải quyết quyền lợi cho ông Thất một cách thỏa đáng.

Bởi các lẽ trên;

Căn cứ khoản 3 Điều 291, khoản 3 Điều 297, Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH

1- Hủy toàn bộ bản án dân sự phúc thẩm số 182/2009/DSPT ngày 02/07/2009 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 49/2008/DSST ngày 02/12/2008 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang về vụ án “Đòi tài sản và yêu cầu xác lập quyền sở hữu tài sản nhà và đất” giữa nguyên đơn là ông Phạm Hữu Thất với bị đơn là ông Phạm Hữu Cảnh; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm 9 người có tên và địa chỉ cư trú đã nêu tại trang 1 và trang 2.

2- Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.


108
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 81/2013/DS-GĐT ngày 28/06/2013 về vụ đòi tài sản và yêu cầu xác lập quyền sở hữu tài sản nhà đất

Số hiệu:81/2013/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:28/06/2013
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về