Quyết định giám đốc thẩm 70/2014/KDTM-GĐT ngày 29/12/2014 về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

TÒA KINH TẾ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 70/2014/KDTM-GĐT NGÀY 29/12/2014 VỀ VIỆC TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA 

Ngày 29 tháng 12 năm 2014, tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao mở phiên tòa để giám đốc thẩm vụ án kinh doanh, thương mại tranh chấp về họp đồng mua bán hàng hóa, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty Hà Thành; có trụ sở tại số 99 Lê Duẩn, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội; do ông Nguyễn Lê Sơn - Giám đốc Công ty làm đại diện.

- Bị đơn: Công ty cổ phần Thép Thuận Phát; có trụ sở tại Km9 Quốc lộ 1A, phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội; do ông Trần Thanh Bình - Chủ tịch Hội đồng quản trị làm đại diện.

NHẬN THẤY

Theo đơn khởi kiện, trình bày của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thì:

Ngày 11/11/2009, Công ty Hà Thành — Bộ Quốc phòng (sau đây gọi tắt là Công ty Hà Thành - bên A) có ký Hợp đồng kinh tế 03-09/HT-PT với Công ty CP thép Thuận Phát (sau đây gọi tắt là Công ty Thuận Phát - bên B) với nội dung: Công ty Hà Thành bán cho Công ty Thụận Phát 816,97 tấn (+/- 10%) thép cán nóng, dạng cuộn, xuât xứ Nhật Bản; tổng trị giá là 7.422.000.000 đồng (+/-10%) (tỷ giá tạm tính 1USD = 18.500VND); giá trên là giá tạm tính đã bao gồm thuế VAT, trong trường hợp chính sách thuế thay đổi thì giá trị hợp đồng sẽ thay đổi phù hợp; thời hạn giao hàng trong tháng 11-12/2009; Bên B thanh toán cho bên A bằng tiền mặt, chuyển séc hoặc chuyển khoản theo trình tự sau: Ngay sau khi ký hợp đồng, bên B đặt cọc cho bên A số tiền 1.114.000.000VNĐ tương đương 15% tổng giá trị hợp đồng; số tiền này được quyết toán vào ngày thanh lý hợp đồng. Trong vòng 145 ngày kể từ ngày bên A nhận nợ Ngân hàng, bên B phải thanh toán cho bên A số tiền hàng còn lại tương đương 85% trị giá hợp đồng. Quá thời hạn trên, bên B phải chịu phạt theo lãi suất phạt chậm của Ngân hàng nhưng không quá 5 ngày. Quá thời hạn 5 ngày, nếu bên B vẫn chưa thanh toán hết thì phải chịu phạt theo lãi suất 1%/ngày. Hai bên cam kết thực hiện nghiêm túc các điều khoản đã thỏa thuận, không được đơn phương thay đối hoặc hủy bỏ hợp đồng. Bên nào không thực hiện hoặc đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng mà không có lý do chính đáng thì sẽ bị phạt 8% trị giá hợp đồng áp dụng theo mức phạt của Luật thương mại. Mọi thay đổi, bổ sung các điều khoản của hợp đồng này phải được lập thành văn bản là phụ lục họp đồng. Các bản phụ lục hợp đồng (nếu có) là một bộ phận không thể tách rời của họp đồng này (BL40-41).

Ngoài ra, hai bên còn ký Phụ lục số 1 (kèm theo Họp đồng số 02-09/HT- TP) không đề ngày tháng năm 2009, trong đó có chỉ định nhà cung cấp nước ngoài, tổng giá trị họp đồng tạm tính vẫn là 7.422.000.000 đ; ngay khi có yêu cầu nộp thuế của cơ quan hải quan, bên B chuyển cho bên A toàn bộ số tiền thuế VAT và thuế nhập khấu theo thông báo thuế của cơ quan hải quan nơi thông quan; giá trên là giá tạm tính đã bao gồm thuế VAT, bên B sẽ chịu thêm phần chênh lệch VAT (nếu có); bên B phải trả các chi phí sau: Chi phí giao nhận tại cảng, bốc xếp tại cảng, chi phí giám định, chi phí lưu kho, lưu bãi...; bên A căn cứ vào các chứng từ phát sinh chi phí như: Phí lưu kho, phí xếp dỡ hàng, phí lõng hàng, vận chuyển, bảo hiểm, phí ngân hàng, phí giám định vv để xuất hóa đơn hợp lý cho bên B; bên B thanh toán cho bên A bằng VNĐ; tỷ giá quy đổi là tỷ giá bán ra quy định của ngân hàng bên A (cộng phần chênh điểm nếu có) tại thời điểm ký hậu chứng từ; trường hợp phía nước ngoài yêu cầu ngân hàng xác nhận và/hoặc có thế xác nhận L/C do bên A mở thì chi phí xác nhận do bên B thanh toán; trong trường họp bên A mở L/C mà không có hàng về thì bên B phải chịu toàn bộ chi phí L/C và các chi phí liên quan khác (ủy thác) (BL39).

Ngày 12/11/2009, Công ty Thuận Phát đã đặt cọc cho Công ty Hà Thành 1.114.000.000 đồng. Ngày 14/11/2009, chuyển tiếp 53.000.000 đ, tổng cộng 1.167.000.000 đồng.

Ngày 08/01/2010 (khi chưa giao nhận hàng), hai bên đã ký biên bản nhận nợ, theo đó: Tổng giá trị hàng là 386.590,20USD; phí mở L/C (386.59Ỏ,20USD X 0,15%) là 579,89USD; điện phí mở LC là 30USD; Phí thanh toán (0,2% X 386.590,20ƯSD) là 773,18USD; điện phí thanh toán 20USD; lãi vay ngân hàng (386.590,20USD X 9,75%/12 X 154 ngày) là13.705,43USD; Tổng cộng 401.698,69USD; thuế giá trị gia tăng 10% là 40.169,87USD; Phí uy thác 386.590,20USD X 1,6% là 6.185,44USD; số tiền đặt cọc là 1.167.000.000/19377 là 60.226,04USD. số tiền nhận nợ gồm giá trị hàng nhập khẩu theo giá CIF và các chi phí khác là 387.827,97USD. Ke từ ngày 08/01/2010, Công ty Thuận Phát nhận nợ Công ty Hà Thành số tiền là 387.827,97USD. số tiền thực tính lãi được tính trên phần trị giá tiền hàng theo giá CIF, các phần chi phí khác bên B không phải thanh toán lãi. Thời gian tính lãi ngân hàng: từ ngày 08/01/2010 đến ngày 08/6/2010 trên giá trị lô hàng chưa thanh toán là 328.601,67 USD, đồng tiền thanh toán là đồng Việt Nam được quy đổi theo tỷ giá bán ra thực tế của Ngân hàng Habubank Chi nhánh cầu Giấy (đã cộng chênh điểm nếu có) tại từng thời điểm thanh toán, lãi suất là 9,7%/năm. Tiền lãi thanh toán vào khi quyết toán hợp đồng. Bên B có trách nhiệm thanh toán số tiền hàng còn nợ cho bên A đúng thời hạn. Công ty thép Thuận Phát cam kết thực hiện theo các điều khoản Hợp đồng kinh tế số 03- 09/HT-PT ngày 11/11/2009 ký giữa hai bên (BL44).

Cùng ngày 08/01/2010, hai bên đã ký Bản cam kết thanh toán với Ngân hàng TMCP nhà Hà Nội (nhận nợ với Ngân hàng) (BL108-109).

Ngày 12/01/2010, Công ty Hà Thành đã giao đủ sổ lượng 816,97 tấn thép theo họp đồng, hai bên đã làm biên bản giao nhận hàng (BL38).

Theo các tài liệu có trong hồ sơ là các lệnh chuyển tiền thì từ ngày 22/02/2010 đến 05/10/2010, Công ty Thuận Phát đã thanh toán cho Công ty Hà Thành 14 lần với tổng số tiền là 5.693.582.000 đồng (BL01-15).

Theo trình bày của nguyên đơn thì từ ngày 14/7/2010 đến ngày 05/10/2010, Công ty Thuận Phát đã thanh toán cho Công ty Hà Thành 13 lần, tổng cộng là 5.000.000.000 đồng, tương đương 257.379,01 USD, quy đổi theo tỷ giá Ngân hàng vào từng thời điểm thanh toán. Từ ngày 05/10/2010 đến nay,

Công ty Thuận Phát không thanh toán cho Công ty Hà Thành nữa.

Tại phiên tòa sơ thẩm, Công ty Hà Thành đề nghị Tòa án căn cứ vào Biên bản nhận nợ ngày 08/01/2010 để giải quyết, yêu cầu Công ty Thuận Phát phải thanh toán gốc là 1.821.360.000 đồng, lãi chậm trả 504.184.000 đồng, phạt vi phạm 545.778.000 đồng, tổng cộng: 2.871.253.702 đồng. Cụ thể:

Về nợ gốc: Đến ngày 05/10/2010, Công ty Thuận Phát còn nợ tiền hàng chưa thanh toán là 76.573,66USD, tương đương 1.503.140.945 VND. Tiền nợ thuế VAT là 120.393.793 đồng; tiền phạt chậm nộp thuế là 2.080.744 đồng.

Về tiền lãi: Tại Biên bản nhận nợ ngày 08/01/2010, hai bên đã thỏa thuận thời gian tính lãi từ ngày 08/01/2010 đến 08/6/2010 trên giá trị lô hàng là 328.601,67USD. Trên cơ sở này, Công ty Hà Thành đã tính số lãi Công ty Thuận Phát còn nợ tính đến ngày 25/02/2011 là 23.226,6 USD tương đương 499.139.634 đồng 

Về phạt vi phạm hợp đồng, đề nghị Công ty Thuận Phát phải thanh toán tiền phạt 8% giá trị họp đồng bị vi phạm, số tiền phạt là 26.716,21 USD tương đưcmg 574.131.352 đồng

Về phí ủy thác: tại Biên bản nhận nợ ngày 08/01/2010, Công ty Thuận Phát đông ý trả Công ty Hà Thành khoản phí này. Đây là thỏa thuận bổ sung Hợp đông mua bán ngày 11/11/2009. Thực tế, Công ty Hà Thành không ký họp đồng ủy thác mua bán hàng hóa với bên thứ ba, vì vậy, Công ty Hà Thành không có chứng từ về việc ủy thác mua bán.

về tiên thuế VAT: Căn cứ vào thỏa thuận giữa hai bên tại Phụ lục hợp đông thì Công ty Thuận Phát phải trả cho Công ty Hà Thành toàn bộ tiền thuế VAT. Công ty Hà Thành đã phát hành hóa đon giá trị gia tăng ngày 18/01/2010 sô tiên thuế là 724.560.000 đồng nộp vào ngân sách nhà nước. Ngày 22/02/2010, Công ty Thuận Phát đã chuyển cho Công ty Hà Thành 693.582.000 đồng tiền thuế, còn thiếu 120.000.000 đồng theo hóa đơn đã phát hành.

về tiền phạt chậm nộp thuế: theo thỏa thuận thì Công ty Thuận Phát phải chuyến toàn bộ số tiền thuế VAT và thuế nhập khẩu theo thông báo thuế của cơ quan hải quan nơi thông quan, nhưng do Công ty Thuận Phát chuyển chậm tiền nên Hải quan Hải Phòng đã phạt Công ty Hà Thành 2.080.744 đồng tiền chậm nộp thuê, vì vậy yêu cầu Công ty Thuận Phát phải thành toán khoản tiền này (BL48-50, 90-93, 110-119).

Bị đơn trình bày:

Ngày 11/11/2009, Công ty Thuận Phát có ký Họp đồng kinh tế số 03- 09/HT-TP và Phụ lục họp đồng số 01 với Công ty Hà Thành như nguyên đơn trình bàỵ. Tính đến ngày 05/10/2010, Công ty Thuận Phát đã trả Công ty Hà Thành số tiền 6.860.581.999 đồng (như bản kê của Công ty Hà Thành), còn nợ gốc là: 561.418.000 đồng, tiền chậm trả tính đến ngày xét xử là 290.607.451 đồng. Tổng cộng, Công ty Thuận Phát chấp nhận trả cho Công tỵ Hà Thành 852.025.451 đồng. Công ty Thuận Phát không chấp nhận yêu cầu phạt họp đông của nguyên đơn vì từ ngày giao hàng bị đơn vẫn chuyển trả tiền cho nguyên đơn. Bị đơn sẽ không trả tiếp vì đã yêu cầu nguyên đơn xuất hóa đơn bán hàng nên bị đơn không vi phạm họp đồng. Không chấp nhận nguyên đơn căn cứ vào Biên bản nhận nợ ngày 08/01/2010 và đồng tiền thanh toán là USD là vi phạm pháp luật. Đề nghị nguyên đơn chuyển cho bị đơn hóa đơn bán hàng để bị đơn thanh toán nốt khoản tiền còn lại (90-93; 110-119).

Tại Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 02/2011/KDTM-ST ngày 09/4/2011, Toà án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội đã quyết định:

“7. Chấp nhận một phần yêu cầu của Công ty Hà Thành Bộ quốc phòng. Buộc Công ty cô phân Thép Thuận Phát phải thanh toán cho Công ty Hà Thành Bộ quốc phòng những khoản sau:

- Khoản tiền hàng còn phải thanh toán là 561.418.000 đồng;

- Khoản tiền lãi chậm trả tính đến ngày xét xử là 297.660.264 đồng;

- Khoản tiền phạt họp đồng là 44.913.440 đồng;

- Khoản tiền phạt chậm nộp thuế: 2.080.744 đồng;

Tổng số tiền Công ty cổ phần Thép Thuận Phát phải thanh toán trả Công ty Hà Thành Bộ quốc phòng là 906.072.500 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật... hoặc kế từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thỉ hành án... cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng thảng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thỉ hành án theo mức lãi suất cơ bản do ngân hàng nhà nước quy định tương úng với thời gian chưa thi hành án.

Về án phí:

-  Công ty Hà Thành phải chịu án phỉ kinh doanh, thương mại sơ thẩm là 70.955.500 đổng. Xác nhận Công ty Hà Thành Bộ quốc phòng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm là 43.000.000 đồng...Công ty Hà Thành Bộ quốc phòng còn phải nộp tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 27.955.500 đồng.

- Công ty cồ phần Thép Thuận Phát phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 39.182.0000 đồng".

Ngày 15/4/2011, Công ty Hà Thành có đơn kháng cáo.

Tại Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 16/2011/KDTM-PT ngày 19/7/2011, Toà án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định: “Sửa Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm sỗ 02/2011/KDTM-ST ngày 06 và 09/4/2011 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai và xử như sau:

1.Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo của Công ty Hà Thành.

2.Buộc Công ty CP Thép Thuận Phát phải thanh toán cho Công ty Hà Thành các khoản tiền sau:

Khoản tiền hàng còn phải thanh toán: 1.690.233.428 đồng.

Tiền phạt hợp đồng 8%: 535.218.674,24 đồng.

Tiền phạt chậm nộp thuế: 2.080.744 đồng.

Tiền lãi chậm trả: 461.120.288,6 đồng

Tổng cộng: 2.688.653.135 đồng.

Kể từ khi án có hiệu lực pháp luật mà bên được thi hành án có đơn yêu câu thi hành án mà bên phải thi hành chưa trả tiền thì còn phải chịu lãi suất trên sô tiên trả chậm trả theo mức lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với sổ tiền và thời gian chưa thi hành án...

3. Về án phí: 3.1. Công ty Hà Thành không phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm. Công ty Hà Thành phải chịu 9.130.000 đồng (chín triệu một trăm ba mươi nghìn đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm; được trừ vào sổ tiền tạm ímg án phí kỉnh doanh thưcmg mại sơ thẩm 43.000.000 đông... và tiên tạm ímg án phỉ kinh doanh thương mại phúc thẩm 200.000 đồng... được hoàn lại 34.070.000 đồng.

3.2. Công ty CP Thép Thuận Phát phải chịu 85.773.000 đồng (tám mươi năm triệu bảy trăm bảy mươi ba nghìn đỏng) án phí kinh doanh thương mại sơ thấm ”.

Sau khi xét xử phúc thẩm, Công ty cổ phần thép Thuận Phát có đơn đề nghị hoãn thi hành án và xem xét lại bản án phúc thẩm theo thủ tục giám đốc thẩm.

Tại Quyết định kháng nghị số 33/2014/KDTM-KN ngày 16/7/2014, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đề nghị Tòa Kinh tế Tòa án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm theo hướng hủy Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 16/2011/KDTM-PT ngày 19/7/2011 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội và Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 02/2011/KDTM-ST ngày 09/4/2011 của Toà án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội; giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao là cần thiết, tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử giám đốc thấm xem xét lại về nội dung phạt vi phạm hợp đồng theo hướng cần phải áp dụng phạt vi hợp đối với Công ty thép Thuận Phát.

XÉT THẤY

Ngày 11/11/2009, Công ty Hà Thành - Bộ Quốc Phòng (bên A) và Công ty cổ phần thép Thuận Phát (bên B - sau đây viết tắt là Công ty Thuận Phát) đã ký Hợp đồng kinh tế 03-09/HT-PT về việc mua bán 816,97 tấn (+/- 10%) thép cán nóng, dạng cuộn, xuất xứ Nhật Bản, tổng trị giá họp đồng là 7.422.000.000 đồng, giá này là giá tạm tính, đã bao gồm thuế giá trị gia tăng. Sau đó, hai bên còn ký Phụ lục hợp đồng số 1 (không đề ngày tháng năm 2009) để chỉ định nhà cung cấp nước ngoài, và bên B sẽ chịu thêm phần chênh lệch VAT (nếu có); chi phí giao nhận tại cảng, bốc xếp tại cảng, chi phí giám định, chi phí lưu kho, lưu bãi...

Ngày 08/01/2010 (khi chưa giao nhận hàng), hai bên đã ký biên bản nhận nợ, theo đó: Tổng trị giá hàng là 386.590,20USD; phí mở L/C (386.590,20USD X 0,15%) la 579,89ƯSD; điện phí mở LC là 30USD; Phí thanh toán (0,2% X 386.590,20USD) là 773,18USD; điện phí thanh toán 20USD; lãi vay ngân hàng (328.601,67USD X 9,75%/12 X 154 ngày) là 13.705,43USD; Tổng cộng 401.698,69USD; thuế giá trị gia tăng 10% là 40.169,87USD; Phí uy thác (386.590,20USD X 1,6%) là 6.185,44USD; tổng cộng là 448.054,01USD; số tiền đặt cọc (1.167.000.000/19.377) la 60.226,04USD. số tiền nhận nợ gồm giá trị hàng nhập khẩu theo giá CIF và các chi phí khác là 387.827,97USD. Kể từ ngày 08/01/2010, Công ty Thuận Phát nhận nợ Công ty Hà Thành số tiền là 387.827,97USD. số tiền thực tính lãi được tính trên phần trị giá tiền hàng theo giá CIF, các phần chi phí khác bên B không phải thanh toán lãi. Thời gian tính lãi ngân hàng: từ ngày 08/01/2010 đến ngày 08/6/2010 trên giá trị lô hàng chưa thanh toán là 328.601,67 USD, đồng tiền thanh toán là đồng Việt Nam được quy đổi theo tỷ giá bán ra thực tế của Ngân hàng Habubank (Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội) Chi nhánh cầu Giấy (đã cộng chênh điểm nếu có) tại từng thời điểm thanh toán, lãi suất là 9,75%/năm. Tiền lãi thanh toán vào khi quyết toán hợp đồng. Bên B có trách nhiệm thanh toán số tiền hàng còn nợ cho bên A đúng thời hạn. Công ty Thuận Phát cam kết thực hiện theo các điều khoản Hợp đồng kinh tế số 03-09/HT-PT ngày 11/11/2009 ký giữa hai bên.

Ngày 12/01/2010, Công ty Hà Thành đã giao đủ số lượng 816,97 tấn thép theo họp đồng và hai bên đã làm biên bản giao nhận hàng.

Theo các tài liệu có trong hồ sơ thì từ ngày 12/11/2009 đến ngày 05/10/2010, Công ty Thuận Phát đã phát hành các lệnh chuyển tiền thanh toán cho Công ty Hà Thành 16 lần (bao gồm cả tiền đặt cọc) với tổng số tiền là 6.860.582.000 đồng qua Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội, chi nhánh cầu Giấy.

Xét Biên bản nhận nợ ngày 08/01/2010 thì thấy: Biên bản nhận nợ ngày 08/01/2010 được người đại diện theo pháp luật của hai bên Công ty ký kết sau Hợp đồng kinh tế 03-09/HT-PT ngày 11/11/2009, và trước khi các bên giao nhận hàng (ngày 12/01/2010). Tại Khoản 1.1 Điều 1 Họp đồng số 03-09 ngày 11/11/2009 quy định thì tổng trị giá lô hàng là 7.422.000.000 đ (+/-10%), tỷ giá tạm tính 1 USD = 18.5000VNĐ; “giả trên là giá tạm tính”, nên sau đó vào ngày 08/01/2010, các bên kỷ Biên bản nhận nợ xác định lại trị giá lô hàng là có căn cứ chấp nhận. Như vậy, mặc dù Biên bản có tiêu đề là nhận nợ nhưng thực chất là thỏa thuận mới của các bên về giá trị họp đồng, các khoản thuế, phí đều được thỏa thuận tính bằng đồng đô la Mỹ làm đồng tiền định giá (để bảo đảm ổn định giá trị của họp đồng) nhưng việc thanh toán là đồng tiền Việt Nam được quy đổi theo tỷ giá bán ra thực tế của Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội... tại từng thời điểm thanh toán. Trên thực tế, Công ty Thuận Phát cũng thanh toán cho Công ty Hà Thành bằng tiền đồng Việt Nam thông qua chuyển khoản tại Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội, chi nhánh cầu Giấy nên thỏa thuận của các bên không bị coi là vô hiệu và cũng không vi phạm Pháp lệnh về quản lý ngoại hối.

Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng Biên bản nhận nợ vô hiệu do các bên thỏa thuận giá trị họp đồng bằng ngoại tệ, từ đó không căn cứ vào Biên bản nhận nợ để giải quyết vụ án là không đúng. Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng Biên bản nhận nợ không vô hiệu là có căn cứ.

* Về giá trị của Hợp đồng

Do Biên bản nhận nợ ngày 08/01/2010 được coi là thỏa thuận mới về giá trị hợp đồng nên các khoản mà Công ty Hà Thành và Công ty Thuận Phát đã thỏa thuận như: Tổng giá trị lô hàng; phí mở L/C; điện phí mở L/C; phí thanh toán; điện phí thanh toán được Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận là có căn cứ. Tuy nhiên, trong thỏa thuận này có nội dung tính lãi ngân hàng và ngày tính lãi thì chưa được Tòa án cấp phúc thẩm làm rõ xem tính lãi bắt đầu từ ngày nào, mặc dù tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn khai tính lãi từ ngày 08/01/2010(ngày ký Biên bản nhận nợ) và số ngày tính lãi tại sao lại là 154 ngày, chưa được làm rõ.

Riêng về phí ủy thác: quá trình giải quyết vụ án, Công ty Hà Thành thừa nhận không có việc ủy thác nên Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận phần này là có căn cứ.

* Về tiền phạt chậm nộp thuế: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn - Công ty Thuận Phát chấp nhận trả Công ty Hà Thành số tiền phạt chậm nộp thuế là 2.080.744 đồng, nên tòa án chấp nhận là có căn cứ.

* Về tiền lãi do chậm thanh toán:

Tại Điều 3.2 của Hợp đồng các bên có thỏa thuận: trong vòng 145 ngày kể từ ngày Công ty Hà Thành nhận nợ Ngân hàng (08/01/2010), Công ty Thuận Phát phải thanh toán cho Công ty Hà Thành số tiền hàng còn lại tương đương 85% trị giá hợp đồng. Quá thời hạn trên, bên B phải chịu phạt theo lãi suất phạt chậm của Ngân hàng nhưng không quá 5 ngày. Quá thời hạn 05 ngày, nếu vẫn chưa thanh toán hết thì phải chịu phạt theo lãi suất 1 %/ngày.

Thực chất đây là thỏa thuận của các bên về nghĩa vụ thanh toán tiền lãi do chậm thanh toán. Theo thỏa thuận nói trên thì trong vòng 145 ngày kể từ ngày 08/1/2010, Công ty Thuận Phát phải thanh toán nốt 85% giá trị hợp đồng cho Hà Thành, nhưng cũng không được quá 5 ngày. Vì vậy, thời diêm xác định Công ty Thuận Phát vi phạm nghĩa vụ thanh toán là 03/6/2010 (sau 145 ngày). Tại phiên tòa sơ thẩm (BL114), bị đơn cũng thừa nhận thời điểm vi phạm hợp đồng là ngày 03/6/2010. Việc các bên thỏa thuận sau 150 ngày (145 ngày + 5 ngày) mà Công ty Thuận Phát vân không thanh toán thì phải chịu mức lãi suât là 1%/ngày (30%/tháng) là mức lãi suất quá cao, không đúng quy định của pháp luật nên phải tính lại cho đúng. Trong trường hợp này phải tính mức lãi suất theo quy định tại Điều 306 Luật thương mại đó là lãi suất quá hạn trung bình trên thị trường tại tìmg thời điểm thanh toán.

* Về tiền phạt vi phạm hợp đồng :

Theo thỏa thuận của các bên tại Điều 5 Hợp đồng kinh tế số 03 ngày 11/11/2009 thì: “Hai bên cam kết thực hiện nghiêm túc các điều khoản đã thỏa thuận, không được đom phương thay đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng. Bên nào không thực hiện hoặc đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng mà không có lý do chính đáng thì sẽ bị phạt 8% trị giá hợp đồng áp dụng theo mức phạt của Luật thương mại”. Như vậy, các bên thỏa thuận “bên nào không thực hiện” hoặc “đơn phương đình chỉ thực hiện họp đồng” thì mới bị phạt vi phạm hợp đồng. Ở đây, Công ty Thuận Phát vẫn thực hiện họp đông cũng không đơn phương đình chỉ hợp đông mà chỉ chậm thanh toán thì đã phải chịu tiên lãi do chậm thanh toán. Do đó, không thể phạt vi phạm đối với Công ty Thuận Phát. Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng tại Tòa án, Công ty Hà Thành thay đổi yêu cầu chỉ yêu cầu Tòa án phạt 8% giá trị hợp đồng bị vi phạm nên phù họp với mức phạt vi phạm theo quy định tại Điều 301 Luật thương mại năm 2005 nên Hội đồng xét xử phúc thẩm đã chấp nhận yêu cầu này và buộc Công ty Thuận Phát phải chịu phạt vi phạm hợp đồng với số tiền là 535.218.674,24 đông là không đúng.

Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định: “Kể từ khi án có hiệu lực pháp luật mà bên được thi hành ản có đơn yêu cầu thi hành án mà bên phải thi hành chưa trả tiền thì còn phải chịu lãi suất trên số tiền trả chậm trả theo mức lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với sổ tiền và thời gian chưa thi hành án ” là không đúng mà phải tuyên theo mức lãi suất quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán theo quy định tại Điều 306 Luật thương mại 2005.

Bởi các lẽ trên, căn cứ vào khoản 2 Điều 291, khoản 3 Điều 297, Điều 299 của Bộ luật tố tụng dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011),

QUYẾT ĐỊNH

1. Hủy Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 16/2011/KDTM-PT ngày 19/07/2011 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội và Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 02/2011/KDTM-ST ngày 09/04/2011 của Toà án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội;


347
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 70/2014/KDTM-GĐT ngày 29/12/2014 về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

Số hiệu:70/2014/KDTM-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Kinh tế
Ngày ban hành:29/12/2014
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về