Quyết định giám đốc thẩm 56A/2014/DS-GĐT ngày 24/02/2014 về tranh chấp tài sản sau ly hôn

TÒA DÂN SỰ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 56A/2014/DS-GĐT NGÀY 24/02/2014 VỀ TRANH CHẤP TÀI SẢN SAU LY HÔN 

Họp phiên tòa ngày 24/2/2014 tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao để xét xử giám đốc thẩm vụ án “Tranh chấp tài sản sau ly hôn” giữa:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị Thu Vân, sinh năm 1975; trú tại: Thôn Võ Canh, xã Vĩnh Trung, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

Bị đơn: Anh Bùi Thanh Hiếu, sinh năm 1966; trú tại: Thôn 6a, xã Ea Kly, huyện Krông Păk, Đăk Lăk.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1- Ông Lương Văn Quý; trú tại: Thôn 5a, xã Ea Kly, huyện Krông Păk, Đăk Lăk.

2- Bà Đinh Thị Ninh; trú tại: Thôn 6a, xã Ea Kly, huyện Krông Păk, Đăk Lăk.

3- Chị Từ Thị Hà, sinh năm 1969; trú tại: Thôn 3, xã Krông Buk, huyện Krông Păk, Đăk Lăk.

4- Chị Võ Thị Hạnh, sinh năm 1961; trú tại: Thôn 7, xã Krông Buk, huyện Krông Păk, Đăk Lăk.

5- Bà Vũ Thị Thảo (Rạo); trú tại: Thôn 3a, xã Ea Kly, huyện Krông Păk, Đăk Lăk.

Đại diện theo ủy quyền cho bà Thảo có bà Oanh, sinh năm 1960, trú tại: Thôn 8, xã Ea Kly, huyện Krông Păk, Đăk Lăk.

6- Chị Vũ Thị Bích Hà, sinh năm 1974; trú tại: Thôn Dục Mỹ, xã Tân Khánh, huyện Ninh Sơn, Khánh Hòa.

7- Ông Bùi Xuất và bà Nguyễn Thị Hóa

Người đại diện theo ủy quyền là ông Bùi Thanh Phương, trú tại: Thôn 3, xã Ea Kly, huyện Krông Păk, Đăk Lăk.

NHẬN THẤY

Chị Vân kết hôn anh Hiếu ngày 25/4/1994, có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã Krông Buk, huyện Krông Păk. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2001 thì phát sinh mâu thuẫn. Tháng 11/2001, chị Vân bỏ về quê ngoại ở tỉnh Khánh Hòa làm ăn sinh sống. Do chị Vân đi khỏi địa phương hơn 2 năm mà không đăng ký tạm vắng tại chính quyền địa phương, đồng thời anh Hiêu cũng không biết tin tức, địa chỉ của chị Vân nên ngày 10/02/2004, anh Hiếu gửi đơn đến Tòa án nhân dân huyện Krông Păk yêu cầu tuyên bố chị Vân mất tích.

Tại Bản án sổ 18/DSST-HNGĐ ngày 09/9/2004, Tòa án nhân dân huyện Krông Păk đã quyết định: tuyên bố chị Vân mất tích; cho anh Hiếu được ly hôn chị Vân; tạm giao 02 con chung cho anh Hiểu nuôi dạy; tạm giao cho anh Hiếu quản lý toàn bộ tài sản. Tháng 4/2008, chị Vân trở về biết được sự việc đã làm đơn yêu cầu Tòa án hủy quyết định tuyên bố mất tích đối với chị Vân. Tại Quyết định số 01/QĐ-VDS ngày 05/6/2008, TAND huyện Krông Păk đã tuyên hủy quyết định tuyên bố mất tích tại Bản án số 18/DSST-HNGĐ ngày 09/9/2004, Tòa án nhân dân huyện Krông Păk, phục hồi mọi quyền lợi cho chị Vân.

Ngày 10/4/2008, chị Vân có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án chia tài sản chung sau ly hôn, đồng thời chị Vân cũng có nguyện vọng giải quyết về nợ chung và con chung.

Về con chung: vợ chồng chị Vân có 02 con chung là Bùi Quang Kỳ (sinh năm 1995) và Bùi Thị Thu Vy (sinh năm 1996)

Chị Vân đề nghị được nuôi 02 con, không yêu cầu anh Hiếu cấp dưỡng nuôi con; nếu 02 con có nguyện vọng ở với anh Hiếu thì chị sẽ có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi cháu Vy 500.000đ/tháng.

Anh Hiếu cũng có nguyện vọng nuôi con và đề nghị chị Vân trợ cấp tiền nuôi con hàng tháng là 750.000đ/lcháu kể từ thời điểm chị Vân bỏ nhà đi tháng 11/2001.

Về tài sản chung:

01 căn nhà cấp 4 diện tích sử dụng 43m2, 01 căn nhà cấp 3 diện tích sử dụng 135m2, 01 giếng nước, 01 chuồng heo và các công trình phụ khác trên diện tích đất 748m2, bao gồm: 400m2 đất ở và 348m2 đất vườn (đo thực tế là 701,25m2) tại thôn 6, xã Ea Kly, huyện Krông Păk đã được cấp GCNQSDĐ cho hộ anh Hiếu ngày 27/12/2005 .Theo kết quả định giá thì: giá trị 701,25m2 đất là 935.000.000đ; giá trị ngôi nhà cấp 3 là 155.906.209d; giá trị ngôi nhà cấp 4 là 8.875.595đ; một số công trình phụ khác có trị giá là 2.883.000đ.

Theo chị Vân: Nguồn gốc lô đất do vợ chồng chị mua của ông Hồ Thanh San năm 1998 với giá 74.000.000đ. Nhà ở và các công trình trên đất cũng do vợ chồng chị xây.

Theo anh Hiếu: Nguồn gốc lô đất cùng với 01 ngôi nhà cấp 4, 01 giếng nước, 01 chuồng heo và các công trình phụ do bố mẹ anh Hiếu (ông Bùi Xuất và bà Nguyễn Thị Hóa) mua của ông San ngày 01/01/1999. Sau khi mua đất, ngày 17/3/1999 ông Xuất đã tự nguyện viết giấy cho riêng anh Hiếu nhà đất. Trong quá trình chung sống vợ chồng anh xây thêm được 01 ngôi nhà cấp 3. Năm 2005, trên cơ sở giấy cho đất do ông Xuất viết anh đã kê khai và ủy ban nhândân huyện Krông Păk cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Bùi Thanh Hiếu. Vì vậy, anh chỉ chấp nhận chia khối tài sản chung của vợ chồng là 01 nhà cấp 3; các tài sản còn lại là tài sản riêng của anh.

Theo ông Xuất, bà Hóa: Đầu năm 1999, ông bà nhận chuyển nhượng nhà đất trên của ông San. Ngày 17/3/1999, ông Xuất viết giấy tặng cho anh Hiếu nhưng không thông qua bà Hóa; bà Hóa cũng không biết việc tặng cho này. Theo ông Hiếu, tài sản trên ông đã tặng cho riêng anh Hiếu nên đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật. Còn theo bà Hóa: việc ông Xuất viết giấy tặng cho anh Hiếu nhà đất bà không biết; khi đăng ký kê khai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất anh Hiếu cũng không cho bà biết; khi vợ chồng anh Hiếu xây thêm 01 nhà cấp 3 bà biết và đã phản đối nhưng do ông Xuất động viên bà nên bà đế cho vợ chồng anh Hiếu tiếp tục xây; nguyện vọng của bà là đề nghị Tòa án giải quyết buộc anh Hiếu trả lại 01 nhà cấp 4, 01 giếng nước và công trình phụ trên diện tích đất 748m2 cho vợ chồng bà.

Ngoài ra, vợ chồng còn một số tài sản dùng trong gia đình nhưng chị Vân không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ: Anh Hiếu, chị Vân thống nhất nợ của những người sau: Bà Đinh Thị Ninh 5.820.000đ; ông Dương Văn Hồng: 10.000.000d (anh Hiếu đã trả năm 2004). Chị Vân khai chị trả 5 triệu đồng cho ông Hồng nhưng ông Hồng và anh Hiếu không thừa nhậnông Đoàn Văn Kính: 60.000.000đ (anh Hiếu đã trả khi chị Vân đi khỏi nhà). Chị Vân khai chị đã trả cho ông Kính 40.000.000đ nhưng ông Kính và anh Hiếu không thừa nhận- BL 41, ông Hồ Thanh San: 42.420.OOOđ tiền mua đất (nợ gốc 21.000.000đ, tiền lãi 21.420.000đ). Anh Hiếu đã trả khi chị Vân đi khỏi nhà ;ông Phạm Xuân Lăng: 10.000.000d tiền gốc (anh Hiếu đã trả 10.000.000đ tiền gốc và 9.600.000đ tiền lãi);bà Đinh Thị Vân: 7.000.000đ; anh Hiếu trả trong thời gian chị Vân không có ở nhà;Ngân hàng Đầu tư và phát triển huyện Eakar: 10.000.000d tiền gốc (anh Hiếu đã trả 10.000.000d tiền gốc và 1.920.000đ tiền lãi);ông Bùi Văn Thịnh: 75.000.000d tiền gốc (ông Hóa bà Xuất đã thay anh Hiếu trả 75.000.000đ tiền gốc và anh Hiểu trả 18.000.000đ tiền lãi).

Theo chị Vân, vợ chồng chị vay số tiền của ông Thịnh để mua nhà đất của ông Hiên (ông Xuất đứng tên), sau đó ông Xuất bán nhà này để trả nợ cho ông Thịnh .

Theo anh Hiếu và theo nội dung ghi trong khế ước vay tiền thì vợ chồng anh Hiếu, chị Vân vay tiền của ông Thịnh để buôn bán. số tiền lãi 18.000.000đ anh trả là tiền của bố mẹ anh đưa cho anh.

Theo ông Xuất, bà Hóa: Khi anh Hiếu, chị Vân vay của ông Thịnh 75.000.000đ, ông Xuất đã ký vào giấy vay với tư cách là người bảo lãnh theo yêu cầu của ông Thịnh. Đến thời hạn trả, do vợ chồng Vân Hiếu không có điều kiện trả nên vợ chồng ông đã trả cho ông Thịnh 75.000.000đ tiền gốc và 18.000.000đ tiền lãi. Vì vậy, ông Xuất, bà Hóa yêu cầu vợ chồng Vân Hiếu phải trả cho ông bà số tiền 93.000.000đ.

Như vậy, tổng số tiền nợ anh Hiếu và chị Vân thống nhất là 249.760.000d (bao gồm: 198.820.000đ tiền gốc và 50.940.000đ lãi). Trong thời gian chị Vân bỏ nhà đi khỏi địa phương anh Hiếu đã trả nợ bằng tài sản riêng của anh Hiểu là118.000.000đ tiền gốc và 32.940.000đ tiền lãi; ông Xuất, bà Hóa trả thay vợ chồng anh Hiếu 93.000.000đ; số tiền nợ còn 5.820.000đ

Những khoản nợ mà chị Vân, anh Hiểu không thống nhất: Bà Vũ Thị Bích Hà: 13.500.000đ (vay ngày 20/6/2001); Bà Vũ Thị Thảo: 5.000.000đ (vay ngày 3/5/2000); Bà Từ Thị Hà: 12 chỉ vàng 96% (ngày 22/5/2001); Ông Lương Văn Quý: 26.000.000đ (vay đầu năm 2001); Bà Võ Thị Hạnh: 10.030.000d (ba Hạnh, chị Vân khai: anh Hiếu vay 2.000.000đ, chị Vân vay 8.030.000đ, sau đó ngày 2/4/2002 chị Vân viết giấy vay để gộp cả hai số nợ vào; nhưng anh Hiếu không thừa nhận) Tổng số nợ chị Vân và anh Hiếu không thống nhất là 54.530.000đ và 12 chỉ vàng 96% (tương đương với 24.780.000đ); tổng cộng là 79.310.000đ. Những khoản nợ này do một mình chị Vân ký, anh Hiếu không ký vào giấy vay; quá trình giải quyết anh Hiếu cũng không thừa nhận những khoản nợ này.

Ngoài ra, còn có khoản nợ 20.000.000đ của ông Đoàn Văn Tiêm. Theo lời khai của ông Tiêm thì chị Vân vay của ông Tiêm và đã trả xong từ năm 2000.Theo lời khai của anh Hiếu thì khoản nợ của ông Tiêm do anh trả. Tòa án các cấp đã xác định khoản nợ này do anh Hiếu trả bằng tiền riêng của anh Hiếu.

Những người cho vay đều có lời khai về số tiền cho vay giống như lời khai của anh Hiếu, chị Vân.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2009/TLST-DS ngày 07/9/2009, Toà án nhân dân huyện Krông Păk, tỉnh Đăk Lăk đã quyết định:

Về con chung:

Giao hai cháu Bùi Quang Kỳ sinh ngày 21/4/1995 và cháu Bùi Thị Thu Vy sinh ngày 22/8/1996 cho anh Bùi Thanh Hiếu trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi hai cháu đủ tròn 18 tuổi.

Buộc chị Lê Thị Thu Vân có trách nhiệm trợ cấp tiền nuôi cháu Bùi Thị Thu Vy mỗi tháng 500.000đ cho đến khi cháu Vy đủ tròn 18 tuổi. Thời gian trợ cấp được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 07/9/2009).

Chị Lê Thị Thu Vân được quyền đi lại thăm và chăm sóc con chung.

Về tài sản chung:

Giao cho anh Bùi Thanh Hiếu được quyền quản lý, sử dụng và định đoạt 350,6m2 đất. Trong đó có 200m2 đất ở và 150,6m2 đất vườn, trên đất có 01 nhà xây cấp 3 mái đổ mê, nền lát gạch hoa diện tích sử dụng 135m2. Đất đã được UBND huyện Krông Păk cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 328176 ngày 27/12/2005 mang tên Bùi Thanh Hiếu. Vị trí tứ cận như sau: Phía Đông giáp đất ông Lập, phía Tây giáp đường vào nông trường cà phê 719, phía Nam giáp đất ông Đỗ Toán, phía Bắc giáp đất chị Lê Thị Thu Vân. Tổng giá trị tài sản anh Hiếu được chia là: 623.406.209đ.

Giao cho chị Lê Thị Thu Vân toàn quyền quản lý sử dụng 350,6m2 đất, trong đó có 200m2 đất ở và 150,6m2 đất vườn, trên đất có 01 nhà xây cấp 4 mái lọp tôn, nền láng xi măng diện tích sử dụng 43m2, 01 chuồng heo xây xi măng, mái lọp ngói nền láng xi măng, có diện tích đất sử dụng 18m2, 01 giêng nước xây thành sâu 13m. Đất đã được ủy ban nhân dân huyện Krông Păk cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 328176 ngày 27/12/2005 mang tên Bùi Thanh Hiếu. Vị trí tứ cận như sau: Phía Đông giáp đất ông Lập, phía Tây giáp đường vào nông trường cà phê 719, phía Nam giáp đất anh Bùi Thanh Hiếu, phía Bắc giáp đất ông Lương. Tống giá trị tài sản chị Vân được chia là: 479.258.595d

Anh Bùi Thanh Hiếu có trách nhiệm hoàn trả lại cho chị Lê Thị Thu Vân số tiền 144.147.614đ phần chênh lệch chia tài sản.

Về nợ chung:

Buộc chị Lê Thị Thu Vân có trách nhiệm trả các số nợ sau: Trả cho bà Võ Thị Hạnh số tiền 10.030.000đ. Trả nợ cho bà Đinh Thị Ninh số tiền 5.820.000đ. Trả nợ cho bà Vũ Thị Thảo số tiền 5.000.000đ. Trả nợ cho ông Lương Văn Quý số tiền 26.000.000đ. Trả nợ cho bà Vũ Thị Bích Hà số tiền 13.500.000đ. Trả nợ cho bà Từ Thị Hà 12 chỉ vàng 96% . Tổng cộng là 85.130.000đ.

Buộc anh Bùi Thanh Hiếu có trách nhiệm hoàn trả cho vợ chồng ông Bùi Xuất và bà Nguyễn Thị Hóa số tiền 93.000.000đ. Chênh lệch số nợ chưa trả là 7.870.000đ, mỗi người phải chịu Vi.

Buộc chị Lê Thị Thu Vân có trách nhiệm hoàn trả lại cho anh Bùi Thanh Hiếu số tiền 85.470.000đ (Số tiền anh Hiếu đã bỏ ra trả nợ bằng tài sản riêng của anh Hiếu thay cho chị Vân). Cộng với chênh lệch nợ chưa trả là: (7.870.000đ : 2) = 3.935.000đ. Tổng cộng chị Vân phải trả cho anh Hiếu 89.405.000đ.

Khấu trừ số tiền chia chênh lệch về tài sản 144.147.614d :2 = 72.073.807đ mà anh Hiếu phải hoàn trả lại cho chị Vân và khấu trừ số tiền chênh lệch về nợ chung mà chị Vân phải hoàn trả lại cho anh Hiếu là 89.405.OOOđ. Còn lại chị Vân phải có trách nhiệm hoàn trả lại cho anh Hiếu 17.331.193đ.

Áp dụng khoản 2 Điều 303 Bộ luật dân sự để tính lãi xuất đối với khoản tiền chậm thi hành án.

Bác yêu cầu trả lại % số tài sản mà bà Nguyễn Thị Hóa cho rằng tài sản chung của vợ, chồng bà. Ông Bùi Xuất cho con mà bà không biết.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về lãi suất chậm thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Tại Bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm số 30/2010/HNGĐ-PT ngày 13/8/2010, Toà án nhân dân tỉnh Đăk Lăk đã quyết định:

Không chấp nhận đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị Hóa, ông Bùi Xuất và đơn kháng cáo của anh Bùi Thanh Hiếu.

Giữ nguyên Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 08/2009/TLST-DS ngày 07/9/2009 của Tòa án nhân dân huyện Krông Păk, tỉnh Đăk Lăk.

Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thấm còn quyết định về án phí.

Sau khi xét xử phúc thẩm, anh Hiếu có đơn khiếu nại không đồng ý với quyết định của bản án phúc thẩm nêu trên.

Ngày 27/5/2011, Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk có Công văn số 48/2011/CV-TDS đê nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị bản án phúc thẩm nêu trên theo thủ tục giám đốc thẩm.

Tại Quyết định kháng nghị số 314/2013/KN-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2013 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã kháng nghị đối với Bản án hôn

nhân gia đình phúc thẩm số 30/2010/HNGĐ-PT ngày 13/8/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lăk. Đe nghị Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thấm theo hướng hủy Bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm số 30/2010/HNGĐ-PT ngày 13/8/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk và Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 08/2009/TLST-DS ngày 07/9/2009 của Tòa án nhân dân huyện Krông Păk, tỉnh Đăk Lăk; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Krông Păk, tỉnh Đăk Lăk xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa giám đốc thấm, đại diện Viện kiếm sát nhân dân tối cao cũng nhất trí với kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

XÉT THẤY

Về tố tụng:

Trong hồ sơ vụ án có hai bản án sơ thẩm có cùng số, cùng ngày nhưng nội dung phần quyết định khác nhau. Trong bản án sơ thẩm số 08/2009/TLST-DS ngàỵ 07/9/2009, tại phần quyết định có nội dung: “Được khấu trừ phần anh Hiếu trả lại cho chị Vân (144.147.614 đ - 89.405.000 đ) - 54.742.614 đ. Buộc anh Hiếu phải trả lại phần chênh lệch về tài sản cho chị Vân là: 54.742.614 đ”. Trong khi đó, bản án sơ thẩm cùng số 08/2009/TLST-DS, cùng ngày 07/9/2009, tại phần quyết định lại có nội dung: “Khau trừ so tiền chia chênh lệch về tài sản 144.147.614đ :2 = 72.073.807đ mà anh Hiếu phải hoàn trả lại cho chị Vân và khấu trừ so tiền chênh lệch về nợ chung mà chị Vân phải hoàn trả lại cho anh Hiếu là 89.405.000đ. Còn lại chị Vân phải có trách nhiệm hoàn trả lại cho anh Hiếu 17.331.193đ”. về án phí của hai bản án sơ thẩm cùng số, cùng ngày cũng có nội dung khác nhau.Ngoài ra, trong biên bản nghị án có đoạn bị sửa chữa, nhưng không ai ký xác nhận phần có sửa chữa. Các sai sót trên là vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng, đây không phải là trường hợp sửa chữa, bổ sung bản án theo quy định tại Điều 240 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án cấp phúc thẩm không phát hiện ra sai sót này của cấp sơ thẩm mà lại tuyên giữ nguyên bản án sơ thẩm (không tuyên lại nội dung cụ thể) nên cơ quan thi hành án không biết thi hành bản án sơ thẩm nào.

Tại Công văn số 48/2011/ CV-TDS ngày 27/5/2011, Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk cũng đề nghị kháng nghị bản án phúc thẩm theo thủ tục giám đốc thẩm.

Về quan hệ pháp luật: Các đương sự yêu cầu giải quyết quan hệ con cái và quan hệ tài sản, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xác định quan hệ tranh chấp là: “Tranh chấp tài sản sau ly hôn” là không đầy đủ

Về con chung: Tòa án cấp sơ thấm và Tòa án cấp phúc thấm đã giải quyết quan hệ con chung, nay không ai có khiếu nại, nhưng do Tòa án cấp sơ thấm có vi phạm nghiêm trọng về tố tụng nên cần giải quyết lại cả quan hệ này.

Về tài sản chung: Tòa án cấp sơ thấm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định nhà, đất và các vật dụng trong gia đình là tài sản chung của vợ chồng anh Hiếu, chị Vân là có căn cứ. Tuy nhiên, chị Vân đã bỏ nhà đi không có tin tức từ tháng11/2001, một mình anh Hiếu ở lại nuôi 02 con nhỏ (khi đó cháu Kỳ mới 6 tuổi, cháu Vy 5 tuổi); đồng thời anh Hiếu có công sức quản lý nhà, đất và đã có trách nhiệm lo trả nợ các khoản nợ chung của vợ chông. Do đó, trong trường hợp này phải xác định anh Hiếu có công sức đóng góp nhiều hơn đối với khối tài sản chung của vợ chồng và chia cho anh nhiều hơn thì mới thỏa đáng. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét đẩy đủ công sức đóng góp của anh Hiếu, đã chia khối tài sản chung cho mỗi người được hưởng Vì là không đảm bảo quyền lợi của anh Hiếu.

Về nợ chung: Đối với 05 khoản nợ do chị Vân vay năm 2001 (cụ thể: vay của bà Từ Thị Hà 12 chỉ vàng 96%, vay của bà Vũ Thị Bích Hà 13.500.000 đồng, vay của bà Võ Thị Hạnh 10.030.000 đồng, vay của ông Lương Văn Quý 26.000.000 đồng, vay của bà Vũ Thị Thảo (Rạo) 5.000.000 đồng; tổng cộng là 79.310.000 đồng (12 chỉ vàng 96% tương đương với 24.780.000 đồng)). Trong giấy vay tiền chỉ có chữ ký của chị Vân. Theo chị Vân, chị vay tiền để kinh doanh buôn bán và trả tiền làm nhà, anh Hiếu có biết việc vay nợ này. Còn theo anh Hiếu, anh không biết và không thừa nhận vì những khoản vay này do chị Vân tự vay để chơi hụi; đối với những khoản vay đế kinh doanh buôn bán và trả tiền làm nhà thì vợ chồng anh cùng vay. Trong trường họp này, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm cần phải xác minh, làm rõ: sổ tiền làm nhà hết bao nhiêu, những khoản vay nào dùng để trả tiền làm nhà, những khoản vay nào dùng để kinh doanh buôn bán ? Những khoản tiền do một mình chị Vân vay sử dụng vào mục đích gì? Neu chị Vân không chứng minh được việc vay tiền của 05 người nói trên đế chi tiêu cho gia đình hoặc đầu tư kinh doanh phát triển kinh tế gia đình thì cần coi đây là khoản nợ riêng của chị Vân. Những vấn đề này chưa được làm rõ nhưng Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đã xác định các khoản nợ nêu trên là nợ chung, từ đó buộc chị Vân và anh Hiếu mỗi người trả Vì là chưa đủ căn cứ.

Ngoài ra, đối với khoản nợ của ông Tiêm 20.000.000 đồng: Anh Hiếu và chị Vân thừa nhận đây là nợ chung của vợ chồng. Theo ông Tiêm thì ông cho chị Vân vay 20.000.000 đồng và năm 2000 chị Vân đã trả cho ông. Còn theo anh Hiếu, trong thời gian chị Vân bỏ nhà đi anh đã dùng tài sản riêng của anh để trả nợ cho ông Tiêm 20.000.000 đồng; trong khi đó chị Vân không thừa nhận việc anh Hiếu trả tiền cho ông Tiêm. Tuy nhiên, tại biên bản đối chất về nợ, Tòa án cấp sơ thẩm không tiến hành đối chất về khoản nợ của ông Tiêm là thiếu sót; đồng thời Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đã xác định: anh Hiếu trả cho ông Tiêm 20.000.000 đồng bằng tiền riêng của anh Hiếu trong thời gian chị Vân bỏ nhà đi (từ tháng 11/2001) là chưa đủ căn cứ.

Mặt khác căn cứ vào báo cáo số 449/CV-CCTHA ngày 21 tháng 2 năm 2013 của Chi cục Thi hành án huyện Krông Păc thì qua kiểm tra thực địa để giao quyền sử dụng đất cho chị chị Vân như bản án tuyên thì sẽ phải cắt 1/8 căn nhà bán kiên cố mà ông Hiếu đang sử dụng tính theo chiều dọc căn nhà.Vì vậy, kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng xét xử giám đốc thẩm hủy cả hai bản án phúc thẩm và sơ thẩm là cần thiết.Vì các lẽ trên; căn cứ vào khoản 2 Điều 291, khoản 3 Điều 297, Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH

Hủy Bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm số 30/2010/HNGĐ-PT ngày 13/08/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk và Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 08/2009/HNGĐ-ST ngày 07/09/2009 của Tòa án nhân dân huyện Krông Păk, tỉnh Đăk Lăk; về vụ án “tranh chấp tài sản sau ly hôn” giữa nguyên đơn là chị Lê Thị Thu Vân với bị đơn là anh Bùi Thanh Hiếu.


121
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 56A/2014/DS-GĐT ngày 24/02/2014 về tranh chấp tài sản sau ly hôn

Số hiệu:56A/2014/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:24/02/2014
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về