Quyết định giám đốc thẩm 452/2014/DS-GĐT ngày 21/11/2014 về vụ án Tranh chấp nhà ở và quyền sử dụng đất

TÒA DÂN SỰ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 452/2014/DS-GĐT NGÀY 21/11/2014 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP NHÀ Ở VÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT 

Họp phiên tòa ngày 21/11/2014 tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao để xét xử giám đốc thẩm vụ án dân sự “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất” giữa các bên đương sự là:

- Nguyên đơn:

1. Ông Nguyễn Văn Thành, sinh năm 1940;

2. Bà Đinh Thị Là (vợ của ông Thành), sinh năm 1947;

Cùng trú tại thôn Thuận Hoà, xã Thuận Đức, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.

- Bị đơn: Chị Đàm Thị Vân sinh năm 1980;

Trú tại: thôn Thuận Hoà, xã Thuận Đức, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.

NHẬN THẤY

Tại đơn khởi kiện đề ngày 28-6-2010 và trong quá trình tố tụng, đòng nguyên đơn là ông Nguyễn Văn Thành, bà Đinh Thị Là trình bày:

Ông, bà khởi kiện yêu cầu chị Đàm Thị Vân trả lại 11.742,4m2 đất và nhà ở tại thửa đất số 41 và 51 tờ bản đồ số 01 xã Thuận Đức, thị xã Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Nguồn gốc của phần đất này trước đây là đất rừng tái sinh thuộc quyền quản lý của UBND xã Bắc Lý; năm 1998 khi thành lập xã Thuận Đức thì thuộc quyền quản lý của UBND xã Thuận Đức; từ năm 1994 ông, bà cùng một số gia đình khác đã đăng ký xin UBND phường Bắc Lý để canh tác trên diện tích đất này, năm 2004 UBND thị xã Đồng Hới (nay là thành phố Đồng Hói) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với 02 thửa đất nêu trên cho ông, bà. Năm 1998, vợ chồng ông, bà khởi công xây dựng ngôi nhà đang tranh chấp hiện nay, quá trình làm nhà được làm nhiều lần, nhiều công đoạn và nhiều đoàn thợ khác nhau.

Chị Vân là vợ của anh Nguyễn Văn Nghị (con của ông, bà) nhưng không có đăng ký kết hôn, hiện chị Vân và anh Nghị đã có 01 cháu gái là Nguyễn Thị Thảo (sinh năm 1997). Năm 2001 anh Nghị chết, sau đó vợ chồng ông tiếp tục hoàn thiện ngôi nhà trên; đến năm 2003 ông, bà bán nhà cũ và ra ở với chị Vân và cháu Thảo trong ngôi nhà nêu trên. Năm 2006, chị Vân đi Miền Nam làm ăn, năm 2008 mới quay về. Do chị Vân đòi đuổi ông, bà ra khỏi ngôi nhà nêu trên, nên ông, bà khởi kiện đề nghị công nhận quyền sở hữu nhà và đất nêu trên cho ông, bà.

2. Bị đơn chị Đàm Thị Vân trình bày:

Chị và anh Nghị (con ông Thành, bà Là) lấy nhau năm 1996 và có 01 cháu Nguyễn Thị Thảo (sinh năm 1997) nhưng không đăng ký kết hôn vì lúc đó chị chưa đủ tuổi kết hôn. Năm 1998, vợ chồng chị khai hoang mảnh đất đang tranh chấp và xây móng nhà, việc làm nhà phải thực hiện nhiều lần. Năm 2001 anh Nghị chết. Năm 2003, ông Thành và bà Là ra ở cùng căn nhà nêu trên với mẹ con chị.

Chị cho rằng diện tích đất đang tranh chấp là do vợ chồng chị khai hoang, xin đất; còn ngôi nhà xây trên đất là do vợ chồng chị bỏ tiền ra xây, có những khoản vật liệu xây dựng sau khi anh Nghị chết chị vẫn phải xoay xở mới trả hết nợ. Do vậy, chị không đồng ý với yêu cầu của ông Thành, bà Là.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 09/2011/DSST ngày 14-7-2011, Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình quyết định:

- Công nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn Thành và bà Đinh Thị Là đổi với thửa đất 41 và 51 tờ bản đồ số 01 UB ND xã Thuận Đức, Đồng Hởi, Quảng Bình có diện tích còn lại là 11.742,4m2 (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00024/QSDĐ/2479/QĐUB (H) ngày 27-8-2004 do UBND thị xã Đồng Hới cấp).

-  Công nhận quyền sở hữu trị giá tài sản cho ông Nguyễn Văn Thành và bà Đỉnh Thị Là đổi với các loại tài sản có giá trị 140.466.000đ bao gồm:

+ 01 nhà lớn diện tích xây dựng 68,25m2;

+ 01 nhà bếp diện tích 61,15m;

+ 01 nhà vệ sinh 2,6m2;

Các tài sản trên nằm trên thửa đất 41, 51 tờ bản đỏ 01 UBND xã Thuận Đức.

-  Buộc ông Nguyễn Văn Thành và bà Đinh Thị Là phải giao cho chị Đàm Thị Vân số tiền 35.116.500đ.

Ngoài ra, Tòa án còn tuyên về án phí và tuyên quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 25-7-2011, chị Đàm Thị Vân kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm nêu trên.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 21/2011/DS-PT ngày 15/9/2011, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình quyết định sửa một phần bản án sơ thẩm, cụ thể như sau:

- Công nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn Thành và bà Đinh Thị Là đối với thửa đất 41 và 51 tờ bản đồ sổ 01 UB ND xã Thuận Đức, Đồng Hới, Quảng Bình có diện tích còn lại là 11.742,4m2 (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất so 00024/QSDĐ/2479/QĐUB (H) ngày 27-8-2004 do UBND thị xã Đồng Hơi cấp).

-  Công nhận quyền sở hữu trị giá tài sản cho ông Nguyễn Văn Thành và bà Đinh Thị Là đối với các loại tài sản sau: 01 nhà lớn diện tích xây dựng 68,25m2; 01 nhà bếp diện tích 61,15m2; 01 nhà vệ sinh 2,6m2 (Các tài sản trên nằm trên thửa đất 41, 51 tờ bản đồ 01 tại xã Thuận Đức) có giá trị 140.466.000đ.

- Buộc ông Nguyễn Văn Thành và bà Đinh Thị Là phải giao cho chị Đàm Thị Vân so tiền 35.116.500đ và giao cho cháu Nguyễn Thị Thảo số tiền 12.000.000đ nhưng cháu Thảo đang còn nhỏ, chị Vân là mẹ của cháu trực tiêp nhận số tiền này thay cho cháu. Tổng số tiền chị Vân nhận từ ông Thành, bà Là 47.116.500đ.                

Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí.

Sau khi xét xử phúc thẩm, chị Đàm Thị Vân có đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án dân sự phúc thẩm nêu trên.

Tại Quyết định kháng nghị số 301/2014/KN-DS ngày 29 tháng 8 năm 2014 Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã kháng nghị Bản án dân sự phúc thẩm số 21/2011/DSPT ngày 15/9/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình về vụ án dân sự uTranh chấp nhà ở và quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn là Ông Nguyễn Văn Thành, bà Đinh Thị Là với bị đơn là chị Đàm Thị Vân; Đe nghị Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và bản án dân sự sơ thẩm số 09/2011/DSST ngày 14-7-2011 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm ngày 21/11/2014, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Giám đốc thẩm chấp nhận Quyết định kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, Quyết định kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, ý kiến của Kiểm sát viên và sau khi thảo luận,

XÉT THẤY

Ông Nguyễn Văn Thành và bà Đinh Thị Là khởi kiện cho rằng căn nhà và các công trình kiến trúc trên thửa đất số 41 và 51 tờ bản đồ số 01 xã Thuận Đức, Đồng Hới là tài sản do ông, bà gây dựng lên, yêu cầu Tòa án công nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng của 02 thửa đất nêu trên của ông, bà.

Chị Đàm Thị Vân không đồng ý với yêu cầu trên của vợ chồng ông Thành, bà Là mà chị cho rằng thửa đất 41 và 51 tờ bản đồ số 01 nêu trên là do UBND xã Thuận Đức giao cho ông Thành, bà Là và vợ chồng chị cùng quản lý sử dụng; còn căn nhà và công trình phụ trên diện tích 500m2 đất là do vợ chồng chị bỏ tiền ra xây dựng lên.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thì: thửa đất số 41 và 51 tờ bản đồ số 01 xã Thuận Đức có nguồn gốc là đất rừng tái sinh, thuộc quyền quản lý của ƯBND phường Bắc Lý; năm 1998, xã Thuận Đức được thành lập thì 02 thửa đất này nằm trong khu đất thuộc quyền quản lý của UBND xã Thuận Đức.

Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00024/QSDĐ/2479/QĐUB (H) ngày 27-8-2004 của ƯBND thị xã Đồng Hói (nay là UBND thành phố Đồng Hới) thì hộ ông Nguyễn Văn Thành được quyền sử dụng 02 thửa đất (thửa 41 và 51), tờ bản đồ số 01 xã Thuận Đức với diện tích 16.280m2 đất rừng tái sinh. Tại Quyết định số 2186/QĐ-ƯBND ngày 28-11-2007, UBND thành phố Đồng Hới thu hồi của ông Thành 4.537,6m2, nên diện tích đất của hộ ông Thành còn lại là 11.742,4m2.

Như vậy, có cơ sở xác định 11.742,4m2 đất nêu trên các thành viên trong hộ gia đình ông Thành có quyền sử dụng chung. Lẽ ra, phải thu thập chứng cứ để làm rõ khi được cấp đất thì trong hộ gia đình ông Thành có mấy thành viên và anh Nghị, chị Vân có phải là thành viên trong hộ gia đình ông Thành hay không. Trường hợp anh Nghị, chị Vân là thành viên trong hộ gia đình ông Thành thì phải xác định chị Vân, anh Nghị cũng có quyền sử dụng đất như các thành viên khác mới đúng. Trường hợp, chị Vân không có tên trong hộ gia đình, mà chỉ có anh Nghị có tên thì phải xác định anh Nghị có quyền sử dụng đất và phần đất của anh Nghị là di sản thừa kế để chia cho cháu Thảo mới đúng. Tòa án cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm chưa xác minh làm rõ các vấn đề trên nhưng chỉ căn cứ vào lời khai của vợ chồng ông Thành để xác định ông Thành, bà Là có quyền sử dụng toàn bộ đất có tranh chấp là không đúng.

Mặt khác, quá trình giải quyết vụ án, ông Thành cho rằng năm 1994 ông có đơn xin đất và được UBND thị xã Đồng Hới cấp, còn chị Vân cho rằng đất trên do chị và anh Nghị khai hoang. Tòa án cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm chưa thu thập chứng cứ làm rõ về nguồn gốc đất trên nhưng lại xác định đất trên do chính quyền địa phương cấp cho hộ ông Thành cũng chưa đủ căn cứ.

Ngoài ra, các đương sự đều thừa nhận căn nhà đang tranh chấp là của ông Thành, bà Là, anh Nghị, chị Vân xây cất. Lẽ ra, phải xác định căn nhà gắn liền với quyền sử dụng đất khuôn viên của căn nhà là tài sản chung của 4 người, từ đó định giá cả nhà và khuôn viên đất để chia mới đúng. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chỉ định giá phần xây dựng trên đất mà không định giá quyền sử dụng phần đất có nhà để chia là không đúng.

Hơn nữa, thực tế, mẹ con chị Vân ở nhà này ổn định, nhưng Tòa án các cấp cũng chưa làm rõ là chị Vân có chỗ ở nào khác không và nhu cầu về nhà, đất của mẹ con chị Vân. Trường họp mẹ con chị Vân chưa có nhà đất để ở thì phải giao cho mẹ con chị Vân một phần nhà đất thì mới đảm bảo quyền lợi của mẹ con chị Vân vì đất có diện tích rất lớn, có thể chia được bằng hiện vật. Ngoài ra, khi giải quyết vụ án, Tòa án các cấp không đưa cháu Nguyễn Thị Thảo (con của anh Nghị, chị Vân) vào tham gia tố tụng cũng là thiếu sót.

Vì các lẽ trên, căn cứ vào khoản 2 Điều 291, khoản 3 Điều 297, Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự,

QUYẾT ĐỊNH

- Chấp nhận quyết định kháng nghị số 301/2014/KN-DS ngày 29 tháng 8 năm 2014 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

- Hủy Bản án dân sự phúc thẩm số 21/2011/DS-PT ngày 15/09/2011 của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình và hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2011/DSST ngày 14/07/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình về vụ án dân sự “Tranh chấp nhà ở và quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn là ông Nguyễn Văn Thành, bà Đinh Thị Là với bị đơn là chị Đàm Thị Vân.


93
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 452/2014/DS-GĐT ngày 21/11/2014 về vụ án Tranh chấp nhà ở và quyền sử dụng đất

Số hiệu:452/2014/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:21/11/2014
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về