Quyết định giám đốc thẩm 434/2014/DS-GĐT ngày 28/10/2014 về vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TÒA DÂN SỰ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 434/2014/DS-GĐT NGÀY 28/10/2014 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN 

Họp phiên tòa ngày 28/10/2014 để xét xử giám đốc thẩm đối với Bản án dân sự phúc thẩm số 05/2014/DS-PT ngày 27/ 02/ 2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai về vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” bị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị, có các đương sự:

Nguyên đơn: Nguyễn Thị Dung, sinh năm 1968; trú tại 38/2 Nguyễn Đì- Chiểu, phường Tây Sơn, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

Bị đơn:

1. Nguyễn Đăng Dần, sinh năm 1962;

2. Tôn Thị Nguyệt Ánh, sinh năm 1967; bà Ánh ủy quyền cho ông Dân tham gia tố tụng, theo văn bản ủy quyền ngày 26/02/2013.

3. Công ty TNHH một thành viên Thanh Hòa, do ông Nguyễn! Đăng Dần, Giám đốc Công ty đại diện theo pháp luật.

Cùng địa chỉ 56 Lê Đại Hành, phường Thống Nhất, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

NHẬN THẤY

Tại đơn khởi kiện đề ngày 11/10/2012, đơn khởi kiện bổ sung đề ngày 25/10/2012 và trong quá trình tố tụng, bà Nguyễn Thị Dung trình bày:

Ngày 18/10/2011 bà có cho ông Nguyễn Đăng Dần, Giám đốc Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên Thanh Hòa và bà Tôn Thị Nguyệt Ánh vay 2.700.000.000đ, đến ngày 20/06/2012 ông Dần đã trả cho bà được 1.400.000.000đ. Ngày 20/06/2012 ông Dần, bà Ánh vay tiếp 50.000.000đ và hẹn trong vòng một tháng sẽ trả nợ cũ và mới, đến hạn trả nợ bà đòi nhiều lần nhưng ông Dần và bà Ánh không chịu trả và sau khi bà khởi kiện ra Tòa án thì ông Dần mới trả thêm 500.000.000đ, số tiền còn nợ 850.000.000d, ông Dần hứa một tháng sẽ trả cho bà 50.000.000đ cho đến khi hết nợ, rồi ông Dần thay đổi nội dung biên bản hòa giải thành đó nên bà yêu cầu ông Dần, bà Ánh liên đới trả số nợ gốc là 850.000.000đ và tiền lãi kể từ ngày 4/7/2013 đến nay.

Bị đon ông Nguyễn Đăng Dần, bà Tôn Thị Nguyệt Ánh và Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (TNHHMTV) Thanh Hòa trình bày: Ông, bà và Công ty TNHHMTV Thanh Hòa do ông Dần làm giám đốc công nhận có vay của bà Nguyễn Thị Dung với tổng số tiền là 2.750.000.000đ. Bên vay đã thanh toán cho bà Dung nhiều lần với tổng số tiền 2.600.000.000đ, cụ thể các lần trả tiền:

Ngày 20/12/2011 chuyển khoản cho bà Dung 1.050.000.000 đồng. Ngày 20/01/2012 chuyển khoản cho bà Đặng Thị Ngọc Nga 600.000.000 đồng theo yêu cầu của bà Dung. Ngày 07/6/2012 chuyển khoản cho bà Dung 450.000.000 đồng. Trước phiên hòa giải ngày 04/7/2013 ông Dần trả tiếp cho bà Dung 500.000.000đồng. Như vậy, tổng số tiền bên vay còn nợ lại bà Nguyễn Thị Dung là 150.000.000 đồng, nhưng tại biên bản hòa giải ngày 04/7/2013 do nhầm lân nên bị đơn xác nhận còn nợ 850.000.000 đồng là không đúng, yêu cầu Tòa án câp sơ thâm xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 77/2013/DS-ST ngày 26/9/2013, Tòa án nhân dân thành phố Pleiku đã quyết định:

Buộc ông Nguyễn Đăng Dần và bà Tôn Thị Nguyệt Ánh phải liên đới trả cho bà Nguyễn Thị Dung số tiền 866.200.000 đồng (trong đó: tiền gốc là 850.000.000 đồng, tiền lãi 16.200.000 đồng).

Ngày 31/10/2013, ông Dần kháng cáo và ngày 06/01/2014 có đơn bổ sung kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm nêu trên.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 05/2014/DSPT ngày 27/02/2014, Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai đã sửa án sơ thẩm, như sau:

Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Thanh Hòa và bà Tôn Thị Nguyệt Ánh phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bà Nguyễn thị Dung theo Hợp đồng ngày 18/10/2011 với số tiền vay gốc còn nợ là 100.000.000 đồng và lãi xuất là 2.075.000 đồng. Tổng cộng là 102.075.000 đồng.

Buộc bà Tôn Thị Nguyệt Ánh và ông Nguyễn Đăng Dần phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bà Nguyên Thị Dung tiền vay gốc theo Họp đồng ngày 30/07/2012 là 50.000.000 đong

Bác yêu cầu của bà Dung về việc Công ty TNHH một thành viên Thanh Hòa, bà Ánh còn phải trả nợ tiền vay gốc 700.000.000 đồng và lãi 14.125.500 đồng ở hợp đồng vay tiền ngày 18/10/2011.

Bác yêu cầu của bà Nguyễn Thị Dung về việc ông Nguyễn Đăng Dần, bà Tôn Thị Nguyệt Ánh phải trả khoản lãi 1.037.500 đồng ở hợp đồng vay ngày 30/07/2012.

Bà Dung có đơn đề nghị giám đốc thẩm.Ngày 02/4/2014 Viện kiểm sát tỉnh Gia Lai có Công văn số 04/VKSND- P5, đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao giám đốc thẩm Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên.

Tại Kháng nghị số 35/2014/KN-DS ngày 27/5/2014 đối với Bản án dân sự phúc thẩm số 05/2014/DSPT ngày 27/02/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm, hủy Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm lại.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị chấp nhận Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiếm sát nhân dân tối cao.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, ý kiến của Kiểm sát viên và sau khi thảo luận,

XÉT THẤY

Căn cứ “Giấy mượn tiền” đề ngày 18/10/2011 thì vợ chồng ông Nguyễn Đăng Dần, bà Tôn Thị Ánh Nguyệt có vay của bà Nguyễn Thị Dung 2.700.000.000đ. Ngày 20/6/2012 ông Dần ghi vào giấy mượn tiền này “Tôi đã thanh toán cho chị Dung 1.400.000.000 (một tỷ bốn trăm triệu đồng)”. Theo nội dung ghi tại giấy mượn tiền này thì ông Dần, bà Ánh còn nợ bà Dung 1.300.000.000đ. Ngày 30/7/2012 ông Dần vay thêm bà Dung 50.000.000đ. Như vậy, ông Dần, bà Ánh còn vợ bà Dung 1.350.000.000đ và bà Dung khởi yêu cầu vợ chồng ông Nguyễn Đăng Dần, bà Tôn Thị Nguyệt Ánh trả bà số 1.350.000.000 đồng. Đến trước phiên hòa giải ngày 04/7/2013, ông Dần tiếp được 500.000.000 đồng và còn nợ lại bà Dung 850.000.000 đồng. Tại bản hòa giải thành, ông Dần thừa nhận còn nợ bà Dung 850.000.000d kết trả dần mỗi tháng 50.000.000 đồng.

Ông Dần cho rằng ông đã trả cho bà Dung 03 lần với tổng 2.100.000.000đ theo các giấy chuyển tiền ngày 20/12/2011 chuyển bà Dung 1.050.000.000 đồng; ngày 20/01/2012 chuyển khoản cho bà Đặng Thị Ngọc Nga 600.000.000 đồng theo yêu cầu của bà Dung và ngày 07/6/2012 chuyển khoản cho bà Dung 450.000.000 đồng, công với khoản 500.000.000đ trả trước khi Tòa án hòa giải nên tống số tiền ông đã trả cho bà Dung 2.600.000.000đ, chỉ còn nợ lại bà Dung 150.000.000đ.

Tại Tòa án, bà Dung cho rằng bà cho ông Dần vay nợ nhiều lần và cũng thừa nhận ông Dần đã trả cho bà 2.100.000.000đ, nhưng ông Dần mới trả được 1.4000.000.000đ theo giấy mượn tiền ngày 18/10/2010 nên còn nợ lại 1.300.000.000đ theo giấy mượn tiền này. Ông Dần cũng thừa nhận ông vay tiền bà Dung nhiều lần và ông không nhớ cụ thể từng lần vay, nhưng cho rằng ông trả bà Dung 2.100.000.000đ trước ngày 20/6/2012.

Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm không làm rõ lời khai của bà Dung và ông Dần vê nội dung này, hai bên có quan hệ vay nợ như thế nào, bà Dung cho vợ chông ông Dần vay tiền bao nhiêu lần; trong số 03 lần ông Dần chuyển tiền trả bà Dung thì lần lượt cộng các con số này thì không có tổng là 1.400.000.000đ, vậy khoản tiền ông Dần trả bà Dung 1.400.000.000đ là khoản tiền nào, trả tiền mặt hay chuyển khoản và chuyển khoản thì chuyển theo giấy chuyển tiền nào; bà Dung khai trong số 2.100.000.000đ ông Dần trả thì có 700.000.000đ trả vào khoản vay khác, vậy khoản vay khác là khỏan nào; Theo nội dung 03 giấy chuyển tiền của ông Dần cho bà Dung đều ghi nội dung chuyển tiền “Trả tiền mua xưởng cưa (20/12/2011); “Thanh toán tiền mua xưởng gỗ (giấy ngày 20/1/2012)”; “Chuyển tiền mua xưởng chế biến gỗ” (giấy ngày 7/6/2012)”. Các giấy chuyển tiền này đều do ông Dần ký chủ tài khoản chuyển tiền và không có nội dung nào ghi trả vào khoản nợ 2.700.000.000đ ngày 18/10/2010.

Những tình tiết còn mâu thuẫn nêu trên chưa được làm rõ, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của bà Dung buộc ông Dần, bà Ánh trả 850.000.000d, còn Tòa án cấp phúc thẩm chỉ chấp nhận một phần yêu cầu của bà Dung, buộc vợ chồng ông Dần trả bà Dung 150.000.000đ, đều là chưa đủ căn cứ.

Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao là có căn cứ, nhưng cần thiết phải hủy cả Bản án dân sự sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại vụ án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên và căn cứ vào khoản 2 Điều 291, khoản 1 Điều 296, khoản 3 Điều 297, Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH

Chấp nhận kháng nghị số 35/2014/KN-DS ngày 27/5/2014 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm số 05/2014/DSPT ngày 27/02/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai và hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 77/2013/DS-ST ngày 26/09/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku về vụ án “Tranh chấp họp đồng vay tài sản” giữa nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Dung với bị đơn là ông Nguyễn Đăng Dần, và Tôn Thị Nguyệt Ánh.


83
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 434/2014/DS-GĐT ngày 28/10/2014 về vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Số hiệu:434/2014/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:28/10/2014
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về