Quyết định giám đốc thẩm 42/2013/DS-GĐT ngày 22/05/2013 về vụ án dân sự yêu cầu công nhận hợp đồng tặng cho bất động sản và tranh chấp di sản thừa kế

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 42/2013/DS-GĐT NGÀY 22/05/2013 VỀ VỤ ÁN DÂN SỰ YÊU CẦU CÔNG NHẬN HỢP ĐỒNG TẶNG CHO BẤT ĐỘNG SẢN VÀ TRANH CHẤP DI SẢN THỪA KẾ

Ngày 22/5/2013, tại trụ sở Toà án nhân dân tối cao đã mở phiên toà giám đốc thẩm, xét xử vụ án dân sự “yêu cầu công nhận hợp đồng tặng cho bất động sản và tranh chấp di sản thừa kế” giữa các đương sự:

Nguyên đơn: ông Lê Hoàng Tâm, sinh năm 1954, trú tại 27/3, đường Ngô Quyền, phường Lê Bình, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.

Bị đơn:

1. Bà Lê Thu Nga, sinh năm 1969;

2. Ông Lê Hoàng Hải, sinh năm 1967;

3. Ông Lê Hoàng Khải, sinh năm 1963;

Bà Nga, ông Khải, ông Hải cùng trú tại số 159/4 khu vực Yên Hòa, phường Lê Bình, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ

4. Anh Lê Hoàng Tuấn, sinh năm 1963; trú tại 11/1A, tổ 3, khu vực Lợi Nguyên A, phường An Bình, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Cụ Lê Văn Thành, trú tại ấp Hòa Thạnh, xã Phú Hiệp, huyện Tân Phú, tỉnh An Giang;

2. Ông Lê Hoàng Dũng, trú tại số 159/4 khu vực Yên Hòa, phường Lê Bình, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ;

3. Anh Lê Hoàng Thái;

4. Anh Lê Hoàng Tú;

Anh Thái, anh Tú cùng trú tại 11/1A, tổ 3, khu vực Lợi Nguyên A, phường An Bình, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ

5. Bà Lê Thu Hà (cư trú tại Mỹ);

6. Bà Lê Thu Vân (cư trú tại Mỹ);

Bà Vân, bà Hà ủy quyền cho ông Phùng Văn Mười trú tại số 159/4 khu vực Yên Hòa, phường Lê Bình, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ (giấy ủy quyền ngày 20/8/2007 và 01/11/2007)

7. Bà Trần Thị Cúc là vợ ông Tâm, trú cùng ông Tâm.

NHẬN THẤY

Tại đơn khởi kiện đề ngày 13/4/2007 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn là ông Lê Hoàng Tâm trình bày:

Cha, mẹ của ông là cụ Nguyễn Thị Nhiệm và cụ Lê Văn Thành. Cụ Nhiệm chết năm 2005 không để lại di chúc. Cụ Thành đã bỏ nhà đi từ những năm 1970 và nay không có yêu cầu về nhà đất tranh chấp. Sinh thời cụ Nhiệm có 02 căn nhà là nhà số 159/4 quốc lộ 1A khu vực Yên Hòa, phường Lê Bình, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ (sau đây gọi tắt là nhà số 159/4) và nhà số 27/3 đường Ngô Quyền, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ (sau đây gọi tắt là nhà số 27/3).

Nhà và đất số 159/4 có tổng diện tích là 438,4m2 trong đó có phần nhà chính, nhà phụ và các nhà khác đang do các anh, chị em của ông quản lý sử dụng. Năm 2001, cụ Nhiệm lập hợp đồng tặng cho nhà chính, nhà phụ cho vợ chồng ông; hợp đồng có chứng thực của Phòng Tư pháp huyện Châu Thành. Năm 2002, Nhà nước có đợt thu hồi giải tỏa một phần nhà đất tại số 159/4 để mở rộng quốc lộ 1A thì cụ Nhiệm đã viết giấy ủy quyền cho ông được toàn quyền quyết định. Khi đó ông đã nhận 49 triệu tiền đền bù và có chia cho các anh em của ông (trừ bà Hà, bà Vân) còn lại là 10 triệu, ông đã bỏ thêm 45 triệu để sửa chữa lại nhà chính. Năm 2006, nhà đất tại số 159/4 tiếp tục bị giải tỏa diện tích 244,6m2 (trong đó có một phần nhà chính) được bồi thường hơn 1,2 tỉ đồng (trong đó có 130 triệu là bồi thường giá trị nhà).

Nay ông yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng tặng cho nhà đất năm 2001 và yêu cầu được nhận 600 triệu đồng tiền bồi thường đất và 130 triệu đồng tiền bồi thường nhà, số tiền bồi thường còn lại thì chia đều cho các anh em, đồng thời ông còn yêu cầu công nhận cho ông diện tích đất 29,1m2 trong diện tích đất còn lại sau giải tỏa.

Ngoài ra, năm 1995 cụ Nhiệm còn viết giấy cho nhà số 27/3 cho ông. Trong quá trình quản lý sử dụng thì ông bỏ nhiều công sức để sửa chữa căn nhà. Nay ông yêu cầu Tòa án công nhận cho ông quyền sở hữu nhà trên.

Bị đơn là các ông Lê Hoàng Khải, ông Lê Hoàng Hải, bà Lê Thu Nga, và anh Lê Hoàng Tuấn trình bày:

Các ông, bà và anh thống nhất với trình bày của nguyên đơn về nguồn gốc 02 căn nhà, tuy nhiên các ông bà và anh không thừa nhận việc cụ Nhiệm có cho nhà đất cho ông Tâm. Nay các ông, bà và anh yêu cầu chia theo pháp luật số tiền bồi thường giải tỏa thu hồi nhà đất, đồng thời chia thừa kế phần nhà đất còn lại, riêng nhà đất tại số 27/3 thì chia cho ông Dũng ½ diện tích.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thu Vân trình bày:

Bà thống nhất với trình bày của bị đơn. Ngoài ra bà còn yêu cầu Tòa án khấu trừ số tiền 128 triệu đồng mà bà đã bỏ ra để chi phí mai táng cho cụ Nhiệm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cụ Lê Văn Thành trình bày:

Cụ đã bỏ nhà đi từ những năm 1970 và không có công chăm sóc vợ, con, đồng thời không có công sức tạo lập tài sản nên này không có ý kiến về việc tranh chấp của các con cháu và không có yêu cầu gì về nhà đất này.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị Cúc (vợ ông Tâm) thống nhất với ý kiến ông Tâm.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thu Hà, ông Lê Hoàng Dũng, anh Lê Hoàng Thái, anh Lê Hoàng Tú thống nhất với ý kiến của bị đơn.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2008/DSST ngày 29/9/2008, Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ quyết định:

“Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Hoàng Tâm.

Bác yêu cầu của ông Lê Hoàng Tâm về việc công nhận hợp đồng tặng cho tài sản đối với nhà đất số 159/4 quốc lộ 1A khu vực Yên Hòa, phường Lê Bình, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ và nhà số 27/3 đường Ngô Quyền, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.

Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của bà Lê Thu Vân.

Chia thừa kế theo pháp luật di sản của cụ Nguyễn Thị Nhiệm cho các đương sự bao gồm: anh Lê Hoàng Tuấn, anh Lê Hoàng Tú, anh Lê Hoàng Thái (thừa kế thế vị của ông Lê Hoàng Minh), bà Lê Thu Hà, bà Lê Thu Nga, bà Lê Thu Vân, ông Lê Hoàng Tâm, ông Lê Hoàng Dũng, ông Lê Hoàng Khải, ông Lê Hoàng Hải mỗi suất thừa kế 1/8 di sản, cụ thể:

Các thừa kế thế vị của ông Lê Hoàng Minh bao gồm: anh Tuấn, anh Thái, anh Tú được chia số tiền giá trị đất 47,2875m2 là 207.477.200đ, giá trị nhà là 7.983.000đ, tổng cộng 215.460.000 đ. Trước đó anh Tuấn đã nhận tạm ứng 120 triệu, còn lại số tiền được nhận là 95.460.000 đ.

Bà Lê Thu Hà, bà Lê Thu Vân mỗi người được chia số tiền giá trị đất 47,2875m2 là 207.477.200đ, giá trị nhà là 7.983.000 đ, tổng cộng 215.460.000đ, riêng bà Vân được hoàn lại số tiền làm đám tang là 84,6 triệu đồng.

Ông Lê Hoàng Tâm được sử dụng 29,1m2 sau giải tỏa và nhận giá trị của 18,1875m2 đất thu hồi là 79.799.000đ, giá trị nhà là 7.983.000đ. Ông Tâm đã nhận tạm ứng 100 triệu đồng nên phải hoàn lại cho các đồng thừa kế khác 12,128 triệu đồng. Ông Tâm tiếp tục được quản lý sử dụng ½ căn nhà 21/3, vị trí từ đường Ngô Quyền nhìn vào phía bên trái ngang 2,785m, dài 3,35m. Ngoài ra, ông Tâm được nhận 3 triệu đồng tiền di dời.

Ông Lê Hoàng Dũng được chia số tiền giá trị đất 47,2875m2 là 207.477.200đ, giá trị nhà là 7.983.000đ, tổng cộng 215.460.000 đ. Đồng thời ông Dũng được quản lý sử dụng ½  căn nhà 27/3, vị trí từ đường Ngô Quyền nhìn vào phía bên phải ngang 2,785m, dài 3,35m. Ông Dũng phải hoàn trả giá trị ½ căn nhà là 18.422.640đ vào khối tài sản chung để phân chia. Ông Tâm có nghĩa vụ giao ½ căn nhà cho ông Dũng.

Ông Lê Hoàng Hải được quyền sử dụng diện tích 17,5m2 đang quản lý và được nhận giá trị diện tích đất 29,7875m2 bị thu hồi là 130.649.000đ và giá trị nhà 7.983.000đ, ông Hải đã nhận tạm ứng 30 triệu nên số tiền còn lại được nhận là 108.677.000đ.

Ông Lê Hoàng Khải được quyền sử dụng diện tích 26,6m2 đang quản lý và được nhận giá trị diện tích 20,6875m2 bị thu hồi là 90.768.000đ, giá trị nhà 7.983.000đ, tổng cộng 98.751.000đ. Ông Khải đã nhận tạm ứng 100 triệu nên phải hoàn trả lại cho các đồng thừa kế 1.249.000đ.

Bà Lê Thu Nga được quyền sử dụng diện tích 60,5m2 đang do ông Dũng quản lý. Do nhận đất nhiều hơn kỷ phần nên bà Nga có trách nhiệm trả lại giá trị của 13m2 đất là 57.970.000đ cho các đồng thừa kế, trừ đi giá trị nhà là 7.983.000đ, còn lại 49.987đ, do đã tạm ứng 250 triệu nên bà Nga phải hoàn trả cho các đồng thừa kế số tiền là 299.987đ. Ông Dũng có trách nhiệm giao lại nhà cho bà Nga. Bà Nga phải thỏa thuận về giá trị phần nhà đang tồn tại với bà Hà và bà Vân.

Ông Lê Hoàng Hải, bà Lê Thu Nga được sử dụng chung lối đi theo lược đồ ngày 14/01/2008.

Tiền lãi của số tiền còn lại 606.244.300đ, các đương sự nhân tương ứng với số tiền còn được nhận tiếp tại Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.

Giải tỏa việc kê biên theo Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 01/2007/QĐ-BPKCTT ngày 10/10/2007 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ để chi trả tiền cho các đương sự”.

Ngày 06/10/2008, ông Lê Hoàng Tâm kháng cáo không đồng ý với bản án sơ thẩm.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 67/2009/DSPT ngày 26/02/2009, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

“1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Hoàng Tâm.

Công nhận hợp đồng tặng cho bất động sản đối với nhà đất số 159/4 quốc lộ 1A, khu vực Yên Hòa, phường Lê Bình, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ giữa bà Nguyễn Thị Nhiệm với ông Tâm và bà Trần Thị Cúc. Ông Tâm, bà Cúc được quyền sở hữu căn nhà diện tích 129,4m2 (theo họa đồ ngày 20/10/2005).

2. Bác yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu công nhận hợp đồng tặng cho bất động sản đối với nhà đất số 27/3 Ngô Quyền, phường Lê Bình, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.

3. Hủy một phần bản án dân sự sơ thẩm đã xử đối với phản tố của các bị đơn yêu cầu chia di sản thừa kế về nhà đất và tiền đền bù giải tỏa tại số 159/4, 27/3 và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để giải quyết bằng vụ án khác.

4. Giải tỏa việc kê biên theo Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 01/2007/QĐ-BPKCTT ngày 10/10/2007 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ để chi trả tiền cho các đương sự theo quyết định của Ủy ban nhân dân về việc đền bù giải tỏa”.

Ngày 03/03/2009, các ông Lê Hoàng Dũng, ông Lê Hoàng Hải, ông Lê Hoàng Khải và bà Lê Thu Hà có đơn khiếu nại bản án phúc thẩm nêu trên.

Tại Quyết định số 29/2012/KN - DS ngày 22 tháng 02 năm 2012, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị Bản án dân sự phúc thẩm số 67/2009/DSPT ngày 26/02/2009 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh; đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm huỷ Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2008/DSST ngày 29/9/2008 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

XÉT THẤY

Vợ chồng cụ Nguyễn Thị Nhiệm, cụ Lê Văn Thành có 08 người con chung là ông Minh (chết năm 1995, có con là anh Tuấn, anh Tú và anh Thái), ông Tâm, ông Khải, ông Hải, ông Dũng, bà Nga, bà Vân và bà Hà. Cụ Nhiệm chết năm 2005, không để lại di chúc, di sản để lại là nhà đất số 159/4 quốc lộ 1A khu vực Yên Hòa, phường Lê Bình, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ và nhà số 27/3 đường Ngô Quyền, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ. Cụ Thành có lời khai xác định đã bỏ nhà đi từ năm 1970, không có công sức tạo lập tài sản nên không tranh chấp, đồng thời không có yêu cầu nhận thừa kế của cụ Nhiệm.

Đối với nhà đất tại số 27/3 có nguồn gốc do Nhà nước giải tỏa căn nhà của cụ Nhiệm để xây dựng kho Công ty Vật tư tổng hợp và quy hoạch lại chợ nên giao nhà cho cụ Nhiệm theo Quyết định số 38/QĐ.UBH.90 ngày 23/10/1990 của Uỷ ban nhân dân huyên Châu Thành (cũ). Tuy nhiên, tại quyết định trên Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành xác định cụ Nhiệm chỉ được sử dụng căn nhà “vào việc ăn, ở, buôn bán sinh sống, không được sang nhượng, ủy quyền, quyền sở hữu bất kỳ hình thức nào, nếu sau này nhà nước cần thiết quy hoạch cho lợi ích chung, thì bà Nhiệm phải chấp hành”. Đồng thời, tại Công văn số 646/UBND ngày 30/6/2008, Ủy ban nhân dân quận Cái Răng xác định trong quá trình sử dụng, căn nhà bị xuống cấp, ông Tâm đã có đơn xin phép sửa chữa nhà và được Uỷ ban nhân dân phường Lê Bình cho phép. Trong quá trình tố tụng, các đương sự đều thống nhất thừa nhận nhà 27/3 do ông Tâm sửa chữa nâng cấp. Do đó, có căn cứ xác định căn nhà là tài sản của cụ Nhiệm, trong đó có công sức tôn tạo, sửa chữa của ông Tâm. Do phần đất của căn nhà trên thuộc hành lang sông và lộ giới nên phải xác minh làm rõ khi bị giải tỏa nhà đất để xây dựng kho của Công ty Vật tư tổng hợp và quy hoạch chợ thì cụ Nhiệm đã được nhà nước đền bù, hỗ trợ hợp lý hay chưa? Trong trường hợp, cụ Nhiệm chưa được đền bù, hỗ trợ mà mới chỉ được tạm giao nhà đất này thì cần phải xác định nhà đất thuộc quyền quản lý, sử dụng của cụ Nhiệm. Tuy nhiên, trong thực tế năm 1995, cụ Nhiệm đã tặng cho ½ căn nhà cho ông Tâm nên cần công nhận ông Tâm có quyền sở hữu ½ căn nhà, phần nhà đất còn lại phải xác định là di sản của cụ Nhiệm. Trường hợp cụ Nhiệm đã được đền bù, hỗ trợ khi giải tỏa nhà đất nhưng do cụ chưa có chỗ ở mới nên được tạm giao căn nhà này thì phải xác định căn nhà là tài sản của cụ Nhiệm, phần đất thuộc quyền quản lý của Nhà nước mới đúng. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chưa làm rõ những nội dung trên nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại xác định phần đất thuộc quyền sở hữu của Nhà nước, còn Tòa án cấp phúc thẩm lại cho rằng cả nhà và đất đều thuộc sở hữu của Nhà nước nên thẩm quyền giải quyết là của Ủy ban nhân dân là không đúng.

Đối với nhà đất số 159/4 có tổng diện tích là 438,4m2 bao gồm phần nhà chính, nhà phụ và các phần nhà đất đang do ông Khải, ông Hải, ông Dũng đang quản lý sử dụng.

Ngày 15/3/2001, cụ Nhiệm lập hợp đồng cho vợ chồng ông Tâm, bà Cúc nhà chính (diện tích 72m2) và nhà phụ (diện tích 17,5m2). Họp đồng có chứng thực của phòng Tư pháp huyện Châu Thành.

Tại biên bản họp gia đình ngày 01/7/2003 (có chứng kiến của ông Trần Văn Tuấn là trưởng ấp), cụ Nhiệm vẫn tiếp tục đồng ý cho ông Tâm nhà chính để thờ cúng, các phần đất còn lại cũng được phân chia cho các con theo hiện trạng đã xây cất nhà (không xác định diện tích cụ thể).

Như vậy, có cơ sở xác định, mặc dù việc tặng cho nhà đất chưa được sang tên cho ông Tâm nhưng việc tặng cho trên là thể hiện ý chí của cụ Nhiệm và cho đến khi chết, cụ Nhiệm không thay đổi ý kiến, nên Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu của ông Tâm, công nhận hợp đồng tặng cho nhà ở là có căn cứ. Tuy nhiên, theo hợp đồng tặng cho thì tổng diện tích nhà ở (nhà chính, nhà phụ) được tặng cho là 89,5m2 nhưng Tòa án cấp phúc thẩm lại công nhận ông Tâm, bà Cúc được sở hữu nhà và sử dụng diện tích đất 129,49 m2 là không chính xác, còn Tòa án cấp sơ thẩm lại cho rằng việc tặng cho nhà đất chưa được sang tên cho ông Tâm, từ đó bác yêu cầu của ông Tâm là không đúng.

Mặt khác, trong thực tế khi thu hồi đất của cụ Nhiệm thì Nhà nước có đền bù, trong quá trình tố tụng, các đương sự đều có yêu cầu chia thừa kế số tiền được đền bù mà ông Tâm đã nhận nhưng Tòa án cấp phúc thẩm lại xác định các bị đơn không nộp tiền tạm ứng án phí và không có yêu cầu nên hủy một phần bản án sơ thẩm để giải quyết bằng vụ án khác là không đúng và không giải quyết triệt để vụ án.

Ngoài ra, bà Vân là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu thanh toán số tiền mà bà đã chi phí mai táng cho cụ Nhiệm, bà đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai tạm thu tiền án phí số 008001 ngày 08/9/2008 (do ông Phùng Văn Mười đại diện theo ủy quyền nộp thay). Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của bà Vân là có căn cứ, Tòa án cấp phúc thẩm không giải quyết mà lại hủy một phần bản án sơ thẩm về phần quyết định theo yêu cầu của bà Vân, đồng thời quyết định hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho bà Vân là vi phạm thủ tục tố tụng và không đúng pháp luật.

Bởi các lẽ trên, căn cứ khoản 3 Điều 297 và Điều 299 Bộ luật Tố tụng dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 65/2011/QH12 ngày 29/3/2011 của Quốc hội);

QUYẾT ĐỊNH

1- Huỷ Bản án dân sự phúc thẩm số 67/2009/DSPT ngày 26/02/2009 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2008/DSST ngày 29/09/2008 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ về vụ án “yêu cầu công nhận hợp đồng tặng cho bất động sản và tranh chấp di sản thừa kế” giữa nguyên đơn là ông Lê Hoàng Tâm với bị đơn là bà Lê Thu Nga, ông Lê Hoàng Khải, ông Lê Hoàng Hải, anh Lê Hoàng Tuấn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác.

2- Giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.


195
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 42/2013/DS-GĐT ngày 22/05/2013 về vụ án dân sự yêu cầu công nhận hợp đồng tặng cho bất động sản và tranh chấp di sản thừa kế

Số hiệu:42/2013/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:22/05/2013
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về