Quyết định giám đốc thẩm 38/2007/DS-GĐT ngày 13/12/2007 về vụ án đòi tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 38/2007/DS-GĐT NGÀY 13/12/2007 VỀ VỤ ÁN ĐÒI TÀI SẢN

Ngày 13 tháng 12 năm 2007, tại trụ sở Toà án nhân dân tối cao mở phiên toà giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự “đòi tài sản” giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Kim Hạnh sinh năm 1945; trú tại: 152 Trương Công Định, phường 3, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; uỷ quyền cho bà Vũ Thị Ngân (văn bản uỷ quyền ngày 11-7-2003)

Bị đơn: Ông Tăng Vĩnh Ký, sinh năm 1949; Trú tại: 216/6 Ba Cu  phường 3, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; uỷ quyền cho ông Bùi Quang Nghiêm (văn bản uỷ quyền ngày 20-7-2004).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị Thông sinh năm 1948; trú tại: 216/6 Ba Cu  phường 3, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; uỷ quyền cho ông Bùi Quang Nghiêm (văn bản uỷ quyền ngày 01-8-2004).

2. Ông Nguyễn Đình Hân sinh năm 1937 và vợ là bà Nguyễn Thị Nghĩa sinh năm 1935; đều trú tại 52 Cách mạng tháng Tám, phường 5, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh, uỷ quyền cho bà Nguyễn Thị Thu Hương (văn bản uỷ quyền ngày 07-3-2005).

NHẬN THẤY

Theo đơn  kiện và lời khai của nguyên đơn là ông Nguyễn Kim Hạnh thì:

Cụ Hoàng Thị Mơ có một thửa đất giáp đường Nguyễn Thái Học (nay là đường Ba Cu) có chiều rộng 14m, dài 70m tại ấp Bàu Sơn, xã Thắng Tam, Vũng Tàu. Ngày 10-11-1964, cụ Mơ nhượng cho ông Nguyễn Trọng Lân thửa đất nêu trên. Ngày 24-7-1967, ông Lân lập “giấy uỷ quyền” cho bà Lê Khắc Ngọc Luyện bán thửa đất này.

Ngày 07-6-1968, bà Luyện bán cho ông Lê Văn Liên phần đất giáp mặt đường Nguyễn Thái Học có chiều rộng 5m, dài 35m. Ngày 09-7-1968, bà Luyện bán cho bà Nguyễn Thị Nga một phần đất giáp mặt đường Nguyễn Thái Học (kế tiếp đất của ông Liên) có chiều rộng 5m, dài 35m. Tháng 7/1968, ông Liên bán lại phần đất của mình cho bà Nga.

Sau khi bà Luyện bán cho ông Liên và bà Nga phần đất (10m x 35m) giáp mặt đường Nguyễn Thái Học, là Luyện xây nhà 57B Nguyễn Thái Học trên phần đất của mình (phía sau đất của bà Nga) và dùng 4m đất chiều ngang còn lại để làm lối đi từ mặt đường Nguyễn Thái Học vào phần đất của bà Luyện.

Bà Luyện bị vỡ hụi; những người chơi hụi (trong đó có bà Ngà) kiện đòi tiền hụi. Toà án chế độ cũ đã xét xử buộc bà Luyện trả tiền hụi cho các nguyên đơn nhưng chưa thi hành án thì giải phóng. Sau khi giải phóng, các người chơi hụi nói trên tiếp tục kiện bà Luyện đòi tiền hụi và bà Luyện phải thoả thuận bán nhà 57B Nguyễn Thái Học để lấy 2000đ trả cho các nguyên đơn 1000đ và được giữ lại 1000đ (Quyết định công nhận việc hoà giải thành số 11/TA ngày 30-12-1976 của Toà án nhân dân thị xã Vũng Tàu)

Bà Luyện bị bệnh nên uỷ quyền cho con gái là Tôn Nữ Ngọc An ký giấy bán nhà. Ngày 02-4-1977 chị An ký giấy bán nhà 57B Nguyễn Thái Học cho vợ chồng ông Tăng Vĩnh Ký tại Toà án nhân dân thị xã Vũng Tàu; trong Giấy bán căn nhà 57B ghi: ngang 14m, sâu là 70m là không đúng với thực tế và bất hợp pháp.

Ngày 11-4-1984, bà Nga bán cho ông nền móng nhà và công trình phụ trên thửa đất rộng 10m, dài 35m giáp đường Nguyễn Thái Học với giá 80.000đ; ông đã trả đủ tiền cho bà Nga và bà Nga giao cho ông giấy tờ về chủ quyền nhà đất (gồm giấy sang nhựng hoa màu trên đất, Trích lục địa bộ, hoạ đồ hiện trạng, Giấy phép xây cất…). Do chưa hiểu về thủ tục mua bán nhà đất nên ông chưa đem giấy bán nhà đến UBND chứng thực.

Cuối năm 1984, ông mới biết nhà đất có tranh chấp và đã yêu cầu bà Nga làm rõ việc này; nên bà Nga đã kiện ông Ký đòi khuôn viên nhà đất bị lấn chiếm. Năm 1985, Toà án nhân dân Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo đã lấy lời khai của bà Nga (nguyên đơn), ông Ký (bị đơn) và các nhân chứng; hoà giải giữa các đương sự. Tháng 01-1998, bà Nga đi xuất cảnh và có uỷ quyền cho con là anh Trần Hưng Quốc tiếp tục khiếu kiện đòi nhà đất để trả cho ông. Năm1990, anh Quốc có “Đơn khiếu nại” gửi Toà án nhân dân Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo yêu cầu ông Ký trả lại nền nhà, nhưng chưa có kết quả giải quyết thì anh Quốc đi khỏi địa phương từ đó đến nay không rõ địa chỉ.

Từ năm 1991, ông đã gửi nhiều đơn đề nghị chính quyền địa phương xem xét, giải quyết việc ông Ký lấn chiếm nền móng nhà đất của ông, nhưng UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã có Thông báo số 17/TB-UBT ngày 23-01-1992 và Quyết định số 416/QĐ-UBT ngày 29-02-1996 đều không chấp nhận khiếu nại của ông. Ông khiếu nại tiếp nên UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có Công văn 994/CV-UBT ngày 17-4-1997 chuyển cho Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xem xét, giải quyết vụ việc theo thẩm quyền. Ông yêu cầu Toà án huỷ bỏ các văn bản của UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; tiếp tục xét xử vụ án đòi tài sản giữa bà Nga với ông Ký; buộc ông Ký trả cho ông nền móng nhà trên 350m2 đất trước nhà 57B Ba Cu.

Bị đơn ông Tăng Vĩnh Ký trình bày: Ngày 02-4-1977, theo sự hướng dẫn của Toà án nhân dân thị xã Vũng Tàu, ông mua căn nhà cấp 4 trên diện tích đất 14m x 70m tại 57B đường Nguyễn Thái Học của bà Lê Khắc Ngọc Luyện (do chị Tôn Nữ Ngọc An được uỷ quyền ký giấy bán nhà) với giá 2000đ (giấy bán nhà có khóm Bàu Sen và UBND phường Thắng Tam xác nhận).Ngày 05-4-1977, ông đã nộp 2000đ cho Toà án nhân dân thị xã Vũng Tàu (có biên lai nhận tiền ngày 05-4-1977) để trả tiền mua nhà đất.

Chị An đã chỉ ranh đất, giao nhà đất cho ông ngày sau khi mua nhà và vợ chồng ông quản lý, sử dụng nhà đất từ năm 1977. Ông đã xây cất 3 kiốt giáp mặt đường Nguyễn Thái Học. Quá trình ở đây, vợ chồng ông đã đăng ký, kê khai nhà đất nên đã được Sở Xây dựng Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà đất ngày 31-10-1991.

Ngày 18-02-1992, vợ chồng ông bán nhà đất nêu trên cho vợ chồng bà Đinh Thị Dung và ông Mai Văn Tâm với giá 90 lượng vàng. Việc mua bán có chứng thực của Công chứng Nhà nước tỉnh Bà Rịa - Vũng tàu ngày 20-02-1992. Từ đó đến nay ai quản lý nền đất này ông không rõ. Ông không có quan hệ gì với ông Nguyễn Kim Hạnh trong việc mua bán nhà đất 57B Nguyễn Thái Học, nên ông Hạnh không có quyền kiện ông ra Toà.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Nguyễn Đình Hân trình bày: Ngày 17-02-1993, vợ chồng ông mua nhà đất số 57B Ba Cu, thành phố Vũng Tàu của vợ chồng bà Định Thị Dung và ông Mai Văn Tâm, diện tích là 14m x 70m với giá là 205 lượng vàng. Tại thời điểm mua bán, trên đất có một căn nhà cấp 4 và 3 kiốt sát mặt đường Ba Cu. Văn bản bán nhà có chứng thực của UBND phường 3, thành phố Vũng Tàu ngày 18-02-1993; vợ chồng ông bà đã được UBND thành phố Vũng Tàu cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà đất ngày 11-3-1993.

Từ khi mua nhà đất 57B Ba Cu đến nay, vợ chồng ông không ở đây, chưa đầu tư xây dựng gì thêm và cho người giúp việc ở để nhờ trông coi nhà đất. Vợ chồng ông mua nhà đất là hợp pháp nên yêu cầu tiếp tục sử dụng nhà đất này.

 - Bà Nguyễn Thị Thông (vợ ông Ký) thống nhất với yêu cầu của ông Ký.

Tại bán án sơ thẩm số 04/DSST ngày 03-4-2001, Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu quyết định:

Bác đơn yêu cầu đòi quyền sở hữu tài sản nền móng nhà và diện tích đất 350m2 toạ lạc tại 57B Ba Cu, phường 3, thành phố Vũng Tàu của ông Nguyễn Kim Hạnh đối với Tăng Vĩnh Ký.

Ông Nguyễn Kim Hạnh được quyền khởi kiện để yêu cầu bà Nguyễn Thị Nga giải  quyết quyền lợi (khi chưa xác định được địa chỉ cụ thể).

Cấm ông Hân và bà Nghĩa không được xây dựng và phải giữ nguyên hiện trang lô đất đang có tranh chấp đến khi có quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí định giá và quyền kháng cáo.

Ngày 08-4-2001, ông Hạnh kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm với lý do: bản án sơ thẩm không phù hợp với thực tế khách quan, không công bằng và gây thiệt hại đến quyền lợi chính đáng của ông.

Tại Quyết định số 09/KN-DS ngày 12-4-2001, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu kháng nghị bản án sơ thẩm số 04/DSST ngày 03-4-2001 và đề nghị Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu đòi quyền sở hữu và quyền sử dụng cho ông Hạnh; buộc ông Ký thanh toán giá trị quyền sử dụng 350m2 đất theo giá thị trường tại thời điểm xét xử.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 318/PTDS ngày 28-9-2001, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

Huỷ bản án dân sự sơ thẩm số 04/DSST ngày 03-4-2001 của Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; giao hồ sơ cho Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử lại theo trình tự sơ thẩm.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 12/DSST ngày 04-7-2002, Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu quyết định:

Chấp nhận yêu cầu đòi tài sản của ông Nguyễn Kim Hạnh đối với ông Tăng Vĩnh Ký và bà Nguyễn Thị Thông.

Huỷ một phần hợp đồng mua bán nhà giữa bà Lê Khắc Ngọc Luyện uỷ quyền cho con gái là Tôn Nữ Ngọc An với ông Tăng Vĩnh Ký và bà Nguyễn Thị Thông vào ngày 02-4-1997. Chấp nhận hợp đồng mua bán nhà giữa ông Nguyễn Kim Hạnh với bà Nguyễn Thị Nga ngày 11-4-1984.

Buộc ông Tăng Vĩnh Ký và bà Nguyễn Thị Thông hoàn trả ông Nguyễn Kim Hạnh giá trị tại sản bị bao chiếm (10m x 35m) số cũ 57B, số mới 244 Ba Cu, phường 3, thành phố Vũng Tàu, theo thời điểm xét xử sơ thẩm tài sản trị giá: 1.071.000.000đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí định giá và quyền kháng cáo.

Ngày 10-7-2002, ông Ký, bà Thông kháng cáo cho rằng việc mua bán nhà giữa vợ chồng ông với chị An (do bà Luyện uỷ quyền) là  hợp pháp; ông Hạnh không có quyền khởi kiện, nhưng Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu buộc vợ chồng ông phải trả cho ông Hạnh hơn 1 tỷ đồng giá trị quyền sử dụng đất là không đúng; yêu cầu được miễn án phí.

Ngày 10-7-2002, ông Hạnh kháng cáo một phần bản án sơ thẩm và yêu cầu buộc vợ chồng ông Nguyễn Đình Hân, bà Nguyễn Thị Nghĩa phải trả quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cho ông.

Ngày 19-7-2002, ông Hân và bà Nghĩa kháng cáo (không có chữ ký của bà Nghĩa) và cho rằng ông Hạnh không có quyền khởi kiện; việc mua bán nhà nền đất giữa vợ chồng ông bà với vợ chồng bà Dung và giữa vợ chồng bà Dung với ông Ký là ngay tình, đúng pháp luật; do đó, xin được tiếp tục sử dụng lô đất mà vợ chồng ông bà đã mua hợp pháp.

Tại Quyết định số 241/KN-DS ngày 16-7-2002, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu kháng nghị một phần bản án dân sự sơ thẩm số 12/DSST ngày 04-7-2002 của Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa -  Vũng Tàu và đề nghị Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xử buộc ông Hân, bà Nghĩa hoàn trả cho ông Hạnh diện tích đất 10m x 35m tại số 57B Ba Cu; giành quyền khởi kiện cho vợ chồng ông Hân, vợ chồng ông Tâm và vợ chồng ông Ký thành vụ kiện khác khi có đơn yêu cầu đối với người xác lập giao dịch dân sự với mình bồi thường thiệt hại.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 290/DSPT  ngày 29-10-2002, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

Hủy bản án sơ thẩm số 12/DSST ngày 04-7-2002 của Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Giao hồ sơ cho Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giải quyết lại theo trình tự sơ thẩm, theo quy định của pháp luật.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 06/DSST ngày 28-9-2004, Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu quyết định:

+ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Kim Hạnh về việc “Đòi lại tài sản”.

+ Huỷ một phần hợp đồng mua bán nhà giữa bà Lê Khắc Ngọc Luyện (uỷ quyền cho con gái là Tôn Nữ Ngọc An) với ông Tăng Vĩnh Ký và bà Nguyễn Thị Thông lập ngày 02-4-1977. Chấp nhận hợp đồng mua bán nền móng nhà, vật kiến trúc giữa ông Nguyễn Kim Hạnh với bà Nguyễn Thị Nga lập ngày 11-4-1984.

+ Ông Nguyễn Kim Hạnh được sử dụng diện tích đất ngang 8m x sâu 35m (phía mặt tiền) tại 244 đường Ba Cu, phường 3, thành phố Vũng Tàu (kèm theo sơ đồ vị trí của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thuộc Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu lập ngày 02-6-2004, phần đất thuộc quyền sử dụng của ông Hạnh Hội đồng xét xử ký hiệu là A), có tứ cận:

- Đông: giáp lối đi thuộc quyền sử dụng của ông Hân, bà Nghĩa.

- Tây: giáp tường xây của Trung tâp xúc tiến việc làm tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu (số 242)

- Nam: giáp đất nhà ông Hân, bà Nghĩa.

- Bắc giáp đường Ba Cu.

Và được sở hữu toàn bộ tài sản có trên đất nói trên.

+ Ông Nguyễn Đình Hân và Nguyễn Thị Nghĩa được quyền sử dụng diện tích đất phía bên hông diện tích thuộc quyền sử dụng của ông Hạnh nói trên (phía bên trái nhìn từ đường Ba Cu vào) làm lối đi (lối đi thuộc quyền sử dụng của ông Hân bà Nghĩa Hội đồng xét xử ký hiệu là B theo sơ đồ vị trí lập ngày 02-6-2004 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thuộc Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Bà Rịa  -  Vũng Tàu kèm theo), có tứ cận:

- Đông: giáp nhà số 246 đường Ba Cu, phường 3, thành phố Vũng Tàu.

- Tây: giáp đất thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Kim Hạnh nêu trên.

- Nam: giáp nhà đất của ông Hân, bà Nghĩa.

- Bắc: giáp đường Ba Cu.

+ Ông Tăng Vĩnh Ký và Nguyễn Thị Thông có trách nhiệm thanh toán giá trị quyền sử dụng diện tích 8m x 35m tại 57B (cũ) nay là 244 đường Ba Cu, phường 3, thành phố Vũng Tàu tại thời điểm xét xử sơ thẩm theo định giá là 3.360.000.000 đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo.

Theo thời hạn luật định, ông Ký, bà Thông và ông Lưu Hướng Dương (đại diện theo uỷ quyền của ông Hân) có đơn kháng cáo và đề nghị bác yêu cầu khởi kiện của ông Hạnh; trong đó, vợ chồng ông Ký còn yêu cầu được miễn nộp án phí.

Ngày 11-10-2004, ông Hạnh có đơn kháng cáo, yêu cầu ông Hân trả lại cho ông phần đất có chiều rộng 10m, sâu 35m; nếu ông Hân muốn sử dụng lối đi ra đường Ba Cu thì ông nhượng lại cho ông Hân phần đất rộng 1,5m, dài 35m, nhưng ông Hân phải trả tiền giá trị quyền sử dụng đất theo giá thị trường.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 77/DSPT ngày 21-3-2005, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

- Bác yêu cầu đòi sở hữu tài sản nền đất có diện tích 350m2 toạ lạc tại số 57B đường Ba Cu, phường 3, thành phố Vũng Tàu của ông Nguyễn Kim Hạnh.

- Ông Nguyễn Kim Hạnh có quyền khởi kiện đòi tài sản (nền đất) đối với bà Nguyễn Thị Nga, anh Trần Hưng Quốc bằng một quan hệ pháp luật dân sự khác.

- Ông Nguyễn Kim Hạnh phải chịu 206.800 đồng chi phí vẽ và chi phí  định giá hai lần là 1.000.000đồng; 50.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Ông Tăng Vĩnh Ký, ông Nguyễn Đình Hân không phải nộp án phí.

Sau khi xét xử phúc thẩm, ông Hạnh có đơn khiếu nại cho rằng ông đã nhận chuyển nhượng hợp pháp nền móng nhà và quyền sử dụng đất của bà Nga, nhưng Toà án cấp phúc thẩm không công nhận quyền sử dụng đất diện tích 10m x 35m giáp mặt đường 57B Ba Cu cho ông là không đúng.

Văn phòng Chủ tịch nước, Uỷ ban Pháp luật của Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, ông Lê Huy Luyện - Đại biểu Quốc hội có công văn chuyển đơn khiếu nại của ông Nguyễn Kim Hạnh đến Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao xem xét, giải quyết theo thẩm quyền. Hội đồng nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị giám đốc thẩm đối với bản án phúc thẩm số 77/DSPT ngày 21-3-2005 của Toà phúc thẩm.

Tại Quyết định số 84/QĐ-KNGĐT-V5 ngày 14-8-2007, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm số 77/DSPT ngày 21-3-2005 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm huỷ bản án dân sự phúc thẩm và bản án dân sự sơ thẩm số 06/DSST ngày 28-9-2004 của Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm lại theo quy định với nhận định như sau:

“….Phần đất hiện đang có tranh chấp giữa ông Nguyễn Kim Hạnh với ông Tăng Vĩnh Ký có diện tích 10m x 35m, toạ lạc tại 57B đường Nguyễn Thái Học nay là đường Ba Cu, phường 3, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (phía giáp mặt đường) nguyên trước đây thuộc quyền sử dụng của bà Lê Khắc Ngọc Luyện. Ngày 07-6-1968 bà Luyện bán cho ông Lê Văn Liên 175m2. Ngày 09-7-1968 bà Luyện bán cho bà Nga 175m2. Tháng 7-1968 ông Liên bán lại diện tích đất này cho bà Nga. Việc chuyển nhượng diện tích nêu trên đã được chế độ cũ đồng ý. Bà Nga đã đứng tên trong sổ địa bộ và được chính quyền chế độ cũ cấp giấy phép xây cất sân trượt patin. Như vậy, có đủ cơ sở công nhận diện tích đất đang có tranh chấp thuộc quyền sử dụng của bà Nguyễn Thị Nga. Phần đất còn lại của bà Luyện chỉ còn 490m2 trên có 1 căn nhà cấp 4; giữa phất đất phía trước nhà 57B của bà Nga và phần đất phía trong nhà 57B của bà Luyện được bà Luyện xây ngăn bức tường cao 2m để phân định ranh giới giữa hai nhà.

Năm 1976, bà Luyện vỡ hụi. Tại quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự số 11 ngày 30-12-1996 của Toà án nhân dân thị xã Vũng Tàu thì bà Luyện phải bán căn nhà 57B đường Ba Cu để lấy tiền trả nợ. Tại hồ sơ mua bán nhà đất do Toà án tiến hành chỉ thể hiện ông Tăng Vĩnh Ký đồng ý mua căn nhà 57B của bà Luyện với giá 2.000 đồng không thể hiện diện tích đất. Tại giấy bán nhà cũng như xác nhận của khóm Bàu Sen, phường Thắng Tam và UBND thị xã Vũng Tàu cũng không đề cập đến diện tích đất. Nhưng tại giấy bán nhà lập ngày 02-4-1997 giữa bà Luyện với ông Ký lại ghi diện tích đất mua bán là 14m x 70m = 980m2; giấy bán này lại do chị Tôn Nữ Ngọc An (con gái bà Luyện) ký trong đó bao gồm cả diện tích đất của bà Nga. Ông Ký đã được UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà còn về đất chưa được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 1992, ông Ký đã bán toàn bộ nhà đất tại 57B cho vợ chồng bà Đinh Thị Dung và ông Mai Văn Tâm với giá 90 lượng vàng. Năm 1993, vợ chồng bà Dung, ông Tâm đã bán toàn bộ diện tích đất nêu trên cho vợ chồng ông Nguyễn Đình Hân, bà Nguyễn Thị Nghĩa với giá 205 lượng vàng. Việc mua bán nhà đã hoàn tất về thủ tục theo quy định của pháp luật. Nhà đất tại số 57B hiện nay do vợ chồng ông Hân, bà Nghĩa quản lý.

Xét hợp đồng chuyển nhượng nền móng nhà trên 350m2 đất (phía giáp mặt đường) nhà 57B Ba Cu giữa bà Nga với ông Hạnh năm 1984 tuy chưa hoàn tất về thủ tục mua bán theo quy định của pháp luật nhưng bà Nga đã nhận đủ tiền và giao toàn bộ giấy tờ cho ông Hạnh, giữa hai bên không có tranh chấp.

Xét hợp đồng chuyển nhượng nhà đất giữa bà Luyện với ông Ký năm 1977 nhận thấy tại thời điểm chuyển nhượng nhà đất giữa hai bên, sau khi trừ đi diện tích đất bà Luyện đã chuyển nhượng cho bà Liên, bà Nga 350m2 (phía ngoài mặt đường) thì diện tích đất của bà Luyện còn lại chỉ là 140m2 ngõ đi (4m x 35m) và diện tích đất ở là 490m2 (14m x 35m) ở phía trong. Việc bà Luyện uỷ quyền cho con gái là chị An ký vào hợp đồng chuyển nhượng nhà đất cho ông Ký với diện tích 980m2, trong đó có cả 350m2 đất của bà Nga đã chuyển nhượng cho ông Hạnh là không đúng. Khi phát sinh tranh chấp bà Luyện và chị An trước sau đều khi chỉ bán căn nhà trên diện tích đất 14 x 35m ở phía sau, còn lại diện tích đất ở phía trước thuộc quyền sử dụng của bà Nga. Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Toà án các cấp không yêu cầu các đương sự cung cấp hoặc tiến hành xác minh việc kê khai đăng ký diện tích nhà và đất tại số 57B của cơ quan quản lý nhà đất ở địa phương tại thời điểm 1976, trước khi bà Luyện bán nhà đất cho ông Ký là bao nhiêu? mà chỉ căn cứ vào hợp đồng chuyển nhượng nhà đất do chị An ký giấy bán nhà đất ngày 02-4-1977 để giải quyết là không chính xác. Ngày 14-12-2006, Phòng quản lý đô thị thành phố Vũng Tàu đã sao lục và cung cấp mẫu kê khai biển số nhà 57B Nguyễn Thái Học (đường phố cũ) nay là 57B đường Ba Cu, ngày 09-9-1976 bà Lê Khắc Ngọc Luyện là chủ hộ nhà 57B kê khai diện tích nhà: 51m2, diện tích đất 370m2. Sau khi mua căn nhà trên của bà Luyện ngày 29-12-1977 tại bản kê khai đăng ký nhà cửa của ông Tăng Vĩnh Ký cũng chỉ kê khai diện tích nhà là 85m2, diện tích đất là 400m2. Nhưng đến năm 1991, ông Ký tiến hành hợp thức hoá nhà đất, sau đó đến năm 1992 đem chuyển nhượng toàn bộ nhà và 980m2 đất cho vợ chồng ông Tâm và bà Dung. Việc Toà án cấp sơ thẩm chưa xác minh làm rõ những tài liệu này song vẫn tuyên huỷ một phần hợp đồng giữa bà Luyện với ông Ký (phần diện tích đất mà bà Luyện đã bán cho bà Nga). Đồng thời buộc ông Hân phải giao lại đất cho ông Hạnh có trừ lối đi (rộng 2m dài 35m) là chưa đủ căn cứ vững chắc. Toà án cấp phúc thẩm bác yêu cầu của ông Hạnh là sai. Mặt khác, khi giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, lẽ ra Toà án cấp sơ thẩm phải buộc bà Dung phải thanh toán giá trị quyền sử dụng đất cho ông Hân và ông Ký phải thanh toán giá trị quyền sử dụng đất cho bà Dung tại thời điểm xét xử sơ thẩm. Song Toà án cấp sơ thẩm lại xử buộc vợ chồng ông Ký, bà Thông phải thanh toán giá trị quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Hân, bà Nghĩa là không đúng.”

Tại phiên toà giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao để nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao chấp nhận kháng nghị 84/QĐ-KNGĐT ngày 14-8-2007 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

XÉT THẤY

    Lô đất số 9, tờ bản đồ số 10, ấp Bàu Sen, xã Thắng Tam, đường Nguyễn Thái Học, thị xã Vũng Tàu (nay là đường Ba Cu, phường 3, thành phố Vũng Tàu) rộng 14m, dài 70m thuộc quyền khai thác của cụ Hoàng Thị Mơ. Ngày 10-11-1964, cụ Mơ ký giấy nhượng lô đất này cho ông Nguyễn Trọng Lân. Ngày 24-7-1967, ông Lân lập giấy uỷ quyền cho bà Lê Khắc Ngọc Luyện bán lô đất nêu trên. Ngày 07-6-1968, bà Luyện nhượng cho ông Lê Văn Liên phần đất giáp mặt đường Nguyễn Thái Học có chiều rộng 5m, dài 35m; ngày 09-7-1968, bà Luyện nhượng cho bà Nguyễn Thị Nga một phần đất (liền kề phần đất đã bán cho ông Liên) giáp mặt đường Nguyễn Thái Học có chiều rộng 5m, dài 35m (việc chuyện nhượng đất nêu trên đều được chính quyền chế độ cũ chứng thực). Tháng 7 năm 1968, ông Liên nhượng lại phần đất của mình cho bà Nga. Tại “Giấy phép xây cất” số 12VI/HC/IB ngày 13-6-1973, Toà Thị Chánh Vũng Tàu cho phép bà Nguyễn Thị Nga xây cất một ngôi nhà ở đường Nguyễn Thái Học, kích thước ngang 8,5m, dài 22m; toạ lạc trên đất Quốc gia, đường Nguyễn Thái Học, thuộc khóm Bàu Sen, phường Thắng Tam, với điều kiện: “tạm thời, khi Chánh-Phủ cần mở rộng đường hoặc lấy đất vào việc công ích phải dời nhà đi nơi khác trong thời hạn một tháng không được bồi thường”. Như vậy, diện tích đất mà bà Nga đã mua của bà Luyện và ông Liên là đất công thổ.

Trước giải phóng, bà Luyện bị vỡ hụi và bị những người chơi hụi kiện đòi tiền hụi; Toà án chế độ cũ đã xét xử buộc bà Luyện phải trả cho bà Nguyễn Thị Nga (người mua lô đất 350m2 nêu trên) và 3 nguyên đơn khác số tiền nợ hụi là 1.130.000 đồng (tiền Sài Gòn), nhưng chưa thi hành án thì miền Nam được giải phóng. Sau đó, bà Nga và 3 nguyên đơn khác tiếp tục kiện bà Luyện đòi tiền hụi. Tại Quyết định công nhận việc hoà giải thành số 11/TA ngày 30-12-1976 của Toà án nhân dân thị xã Vũng Tàu có nội dung là: bà Luyện “đồng ý thoả thuận bán căn nhà 57B đường Nguyễn Thái Học; phường Thắng Tam, trị giá 1.000.000 đồng (tiền Sài Gòn) bằng 2.000 đồng tiền ngân hàng trả cho 4 nguyên đơn là 1000 đồng (tiền ngân hàng), còn 1000 đồng tiền ngân hàng cho bà Luyện”. Bà Luyện đã uỷ quyền cho con gái là chị Tôn Nữ Ngọc An ký giấy bán nhà.

Ngày 02-4-1977 tại Toà án nhân dân thị xã Vũng Tàu, chị An ký “Giấy bán nhà” 57B đường Nguyễn Thái Học cho vợ chồng ông Ký, bà Thông với “diện tích ngang 14m x sâu 70m” số tiền là 2.000đồng (“Giấy bán nhà” có chứng thực của Đại diện khóm Bàu Sen và UBND phường Thắng Tam); do đó, việc mua nhà là hợp pháp về thủ tục. Sau khi mua nhà, vợ chồng ông Ký đã nhận nhà đất để sử dụng, đã xây cất 3 kiốt giáp đường Ba Cu và năm 1991 được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà đất. Năm 1992 vợ chồng ông Ký đã bán toàn bộ nhà đất cho vợ chồng ông Tâm, bà Dung (vợ chồng ông Tâm cũng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà đất năm 1992), sau đó vợ chồng ông Tâm, bà Dung bán lại cho vợ chồng ông Hân, bà Nghĩa (vợ chồng ông Hân, bà Nghĩa cũng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà đất).

Trong khi đó, “Giấy bán nhà” đề ngày 11-4-1984 giữa bà Nguyễn Thị Nga và ông Nguyễn Kim Hạnh có nội dung: bà Nga bán cho ông Hạnh một căn nhà xây dở trên diện tích đất 10m x 35m xung quanh có hàng rào bằng gạch thẻ (tại lô đất số 9, tờ bản đồ số 10 ấp Bàu Sen, xã Thắng Tam) với giá 80.000đồng; bà Nga gửi kèm theo toàn bộ giấy tờ, hồ sơ liên quan đến nhà đất để làm thủ tục và bằng chứng; kể từ khi ông Hạnh trao đủ số tiền nói trên và sau khi mọi thủ tục hợp lệ về mặt Nhà nước, chủ quyền toàn bộ sẽ thuộc về ông Hạnh (“Giấy bán nhà” này không có xác nhận của công chứng và chứng thực của chính quyền địa phương). Theo “Giấy uỷ quyền” của bà Nga cho anh Trần Hưng Quốc (là con trai bà Nga) ngày 21-01-1988 (trước khi bà Nga xuất cảnh) thì bà Nga đã nhận của ông Hạnh 80.000đồng. Như vậy, thoả thuận mua bán “căn nhà xây dở” giữa bà Nga với ông Hạnh được tiến hành sau 7 năm, kể từ khi chị An (được bà Luyện uỷ quyền) bán nhà đất cho vợ chồng ông Ký. Trên thực tế, ông Hạnh chưa nhận nền nhà; chưa quản lý, sử dụng nền nhà ngày nào; chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trước khi bà Nga xuất cảnh thì bà Nga chỉ uỷ quyền cho anh Quốc tiếp tục theo vụ kiện đòi ông Ký trả nền nhà và nếu không đòi được nền nhà thì anh Quốc sẽ hoàn trả lại số tiền 80.000 đồng (tương đường với 8,5 chỉ vàng) cho ông Hạnh, chứ bà Nga không uỷ quyền cho ông Hạnh tiếp tục vụ kiện đòi nền nhà hoặc khởi kiện ông Ký để đòi nền nhà; trong khi đó, anh Quốc đã đi khỏi địa phương từ năm 1990 đến nay không rõ địa chỉ.

Như vậy, nếu chỉ căn cứ chủ yếu vào “Giấy bán nhà” giữa bà Nga với ông Hạnh và “Giấy uỷ quyền” của bà Nga cho anh Quốc tiếp tục làm nguyên đơn theo vụ kiện đòi ông Ký trả nền nhà và anh Quốc trả lại 80.000đ (tương đương với 8,5 chỉ vàng) cho ông Hạnh nếu không đòi được nhà, thì ông Nguyễn Kim Hạnh không đủ tư cách khởi kiện ông Tăng Vĩnh Ký đòi nền nhà ở 57B Ba Cu.

Ngoài ra, trước khi Toà án thụ lý, giải quyết vụ án, khiếu nại của ông Nguyễn Kim Hạnh về quyền sử dụng đất tại 57B Ba Cu, phường 3, thành phố Vũng Tàu đã được Chánh Thanh tra tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (tại Báo cáo số 37/XKT ngày 15-01-1992) và UBND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (tại Thông báo số 17/TB ngày 23-01-1992 và Quyết định số 416/QĐ-UBT ngày 29-02-1996) xem xét, giải quyết; trong đó, Quyết định số 416/QĐ-UBT ngày 29-02-1996 của UBND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã ghi rõ: “Không chấp nhận việc khiếu nại của ông Nguyễn Kim Hạnh xin công nhận quyền sử dụng đất (phía trước) nhà số 57B Ba Cu, phường 3, thành phố Vũng Tàu. Lý do: ông Nguyễn Kim Hạnh không có giấy tờ hợp lệ về quyền sử dụng lô đất nói trên; trường hợp ông Nguyễn Kim Hạnh khiếu nại về việc chuyển nhượng đất giữa ông và bà Nguyễn Thị Nga thì có quyền đưa ra Toà án để giải quyết theo vụ kiện dân sự…” Khi ông Hạnh khởi kiện ông Ký tại Toà án nhân dân thị xã Vũng Tàu thì ông Hạnh cũng không xuất trình được giấy tờ hợp lệ về quyền sử dụng nền nhà đang tranh chấp.

Toà án cấp sơ thẩm huỷ một phần hợp đồng mua bán nhà đất giữa bà Luyện (uỷ quyền cho chị An) với ông Ký và chấp nhận hợp đồng mua bán nền móng nhà giữa bà Nga và ông Hạnh để buộc vợ chồng ông Ký phải thanh toán cho ông Hạnh giá trị quyền sử dụng đất (8m x 35m) là 3.360.000.000 đồng là sai. Toà án cấp phúc thẩm bác yêu cầu của ông Hạnh đòi quyền sở hữu tài sản nền đất có diện tích 350m2 là chưa chính xác và quyết định ông Hạnh có quyền khởi kiện đòi tài sản (nền đất) với bà Nga, anh Quốc bằng một quan hệ pháp luật dân sự khác cũng là không đúng (trường hợp này ông Hạnh chỉ có quyền khởi kiện bà Nga bằng quan hệ pháp luật dân sự khác nếu có yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng mua bán nền móng nhà, chứ không có quyền khởi kiện đòi tài sản là nền đất).

Do đó, cần huỷ bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm nêu trên để xét xử sơ thẩm lại, nếu ông Hạnh không xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng minh về quyền sử dụng đất hợp pháp của ông Hạnh đối với nền nhà và tính hợp pháp của hợp đồng mua bán căn nhà xây dở trên diện tích 350m2 đất tại 57B Ba Cu giữa ông Hạnh và bà Nga và Toà án cũng không thu thập thêm được tài liệu chứng cứ gì khác thì phải trả lại đơn khởi kiện cho ông Nguyễn Kim Hạnh và đình chỉ giải quyết vụ án.

Bởi các lẽ trên;

Căn cứ vào khoản 3 Điều 291, khoản 3 Điều 297 và Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH

1. Huỷ bản án dân sự phúc thẩm số 77/DSPT ngày 21-3-2005 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và bản án dân sự sơ thẩm số 06/DSST ngày 28-9-2004 của Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về vụ án “Đòi tài sản” giữa nguyên đơn là ông Nguyễn Kim Hạnh với bị đơn là ông Tăng Vĩnh Ký; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Thông, ông Nguyễn Đình Hân và bà Nguyễn Thị Nghĩa.

2. Giao hồ sơ cho Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Lý do bản án phúc thẩm và bản án sơ thẩm bị hủy:

Chưa có tài liệu, chứng cứ chứng minh về quyền sử dụng đất hợp pháp của nguyên đơn đối với nền nhà và đất đang tranh chấp.


92
  • Tên bản án:
    Quyết định giám đốc thẩm 38/2007/DS-GĐT ngày 13/12/2007 về vụ án đòi tài sản
  • Số hiệu:
    38/2007/DS-GĐT
  • Cấp xét xử:
    Giám đốc thẩm
  • Lĩnh vực:
    Dân sự
  • Ngày ban hành:
    13/12/2007
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về