Quyết định giám đốc thẩm 30/2007/DS-GĐT ngày 08/08/2007 về vụ án tranh chấp quyền sở hữu tài sản (nhà ở)

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 30/2007/DS-GĐT NGÀY 08/08/2007 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN NHÀ Ở

Ngày 08 tháng 8 năm 2007, tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao đã mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự “tranh chấp về quyền sở hữu tài sản” (nhà ở) giữa:

Nguyên đơn: Ông Trần Hán Tuấn sinh năm 1948 (thực tế sinh năm 1953); trú tại nhà số 70/3 Trần Tuấn Khải, phường 5, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh; ủy quyền cho ông Quản Đức Nguyên (Quản Thanh Tùng) sinh năm 1955; tạm trú tại số 2 đường Thống Nhất, phường Tân Thành, quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh đại diện (văn bản ủy quyền ngày 12-9-2005).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là luật sư Phạm Tất Thắng thuộc Văn phòng luật sư Phạm Tất Thắng có địa chỉ tại số 26A Út Tịch, phường 4, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Bà Trần Loan Anh sinh năm 1952, trú tại nhà số 523/20 (số cũ: 523/499/120) Nguyễn Tri Phương, phường 8, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Trần Muối sinh năm 1960; trú tại số 29, phường 6, hẻm 26, Vĩnh Lạc, Tô Châu, huyện Đài Bắc, Đài Loan; ủy quyền cho bà Trần Loan Anh đại diện (văn bản ủy quyền ngày 08-12-2004);

2. Bà Trần Kim Hương sinh năm 1958;

3. Bà Trần Thị Lăng sinh năm 1956;

4. Ông Trần Hán Phong sinh năm 1962;

Bà Hương, bà Lăng và ông Phong cùng trú tại nhà số 523/20 Nguyễn Tri Phương, phường 8, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN THẤY

Tại đơn khởi kiện đề ngày 17-4-2003 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, ông Trần Hán Tuấn khai:

Căn nhà số 523/499/120 (số mới là 523/20) Nguyễn Tri Phương, phường 8, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh do ông bỏ tiền mua năm 1977 của ông Mã Ghết Khung để làm nơi xay cà phê và cho bà Loan Anh cùng các em ruột của ông và bà Loan Anh vào ở. Do không có hộ khẩu ở thành phố nên ông để cho chị gái là bà Trần Loan Anh đứng tên giúp ông trên giấy tờ mua bán. Do mâu thuẫn với bà Loan Anh nêu ông đã đồng ý cho bà 1/2 căn nhà, nhưng bà Loan Anh lại yêu cầu chia ba, ông không nhất trí và khởi kiện yêu cầu bà Loan Anh phải trả lại ông toàn bộ căn nhà vì chính ông là người mua nhà.

Bà Trần Loan Anh khai: Năm 1977, bà mua nhà của ông Mã Ghết Khung có giấy tờ mua bán (nay đã bị thất lạc). Năm 1979, hai bên lập lại giấy tờ mua bán và làm thủ tục mua bán sang tên trước bạ tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Bà là người bỏ tiền mua và trực tiếp quản lý nhà cho đến nay. Do bà Trinh (là mẹ của bà và ông Tuấn) khuyên giải chia cho ông Tuấn 1/2 nhà nên bà đã viết giấy xác nhận đồng ý chia nhà làm 3 phần (cho bà, ông Tuấn và em gái là bà Muối). Bà không đồng ý yêu cầu của ông Tuấn và rút lại việc đã đồng ý chia ba căn nhà.

Ông Trần Hán Phong, bà Trần Thị Hương và bà Trần Thị Lăng đều khai căn nhà do chị ruột là bà Loan Anh mua và cho các em vào ở cùng đến nay.

Bà Thu khai bà thuê một phần nhà (mặt đường) của bà Trần Loan Anh đến hết tháng 11 năm 2005 và yêu cầu được tiếp tục thuê đến hết hợp đồng.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 2543/2005/DSST ngày 30-11-2005, Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

Áp dụng khoản 2 Điều 45, điểm a khoản 1 Điều 34, Điều 131 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 254 Bộ luật dân sự; không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Tuấn đòi bà Trần Loan Anh trả lại căn nhà số 523/20 đường Nguyễn Tri Phương, phường 8, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh.

Ngoài ra, bản án còn quyết định về án phí và tuyên bố quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 01-12-2005, ông Trần Hán Tuấn có đơn kháng cáo cho rằng ông là người bỏ tiền mua nhà nhưng nhờ bà Trần Loan Anh đứng tên.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 65/2006/DS-PT ngày 06-3-2006, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh sửa bản án sơ thẩm và quyết định:

Áp dụng các điều 164, 167, 169 và 170 Bộ luật dân sự 2005, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Hán Tuấn và công nhận nhà đất số 523/20 Nguyễn Tri Phương thuộc quyền sở hữu của ông Tuấn.

Buộc bà Loan Anh, bà Lăng, bà Hương, ông Phong và bà Thu phải trả lại nhà cho ông Tuấn.  Bà Loan Anh, bà Lăng, bà Hương, ông Phong được lưu cư 6 tháng tính từ ngày 06-3-2006.

Ghi nhận sự tự nguyện của ông Tuấn cho bà Loan Anh 70,92 lượng vàng 9999. Thời hạn giao nhà và vàng cùng một thời điểm.

Ông Tuấn có quyền và nghĩa vụ đến các cơ quan có thẩm quyền đăng ký quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, bản án còn quyết định về án phí.

Sau khi xét xử phúc thẩm, bà Trần Loan Anh có đơn khiếu nại.

Tại Quyết định số 60/QĐ-KNGĐT-V5 ngày 18-6-2007, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hủy bản án dân sự phúc thẩm số 65/2006/DS-PT ngày 06-3-2006 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và bản án dân sự sơ thẩm số 2543/2005/DSST ngày 30-11-2005 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh; giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật với nhận định như sau:

Căn cứ các giấy tờ về chuyển nhượng nhà lập năm 1979 đã hoàn tất thủ tục sang tên trước bạ thì người mua là bà Trần Loan Anh và người bán là ông Mã Ghết Khung. Bà Loan Anh đã nhận nhà và trực tiếp quản lý sử dụng đến nay.

Các giấy xác nhận ngày 04-4-2003, ngày 09-4-2003 của bà Lâm Tích Trinh (là mẹ của bà Loan Anh và ông Tuấn) và của các anh chị em ruột của ông Tuấn, bà Loan Anh không đủ căn cứ để xác định ông Tuấn bỏ tiền ra mua nhà. Lời khai của bà Mã Thị Giang (con ông Mã Ghết Khung) cho rằng ông Tuấn là người xem nhà, thỏa thuận giá, bà là người nhận tiền do ông Tuấn trả, nhưng trong các giấy tờ mua bán nhà lập năm 1979 chỉ thể hiện ông Khung bán nhà cho bà Loan Anh, ngày giao tiền có mặt bà Loan Anh mà không thể hiện bà Giang nhận tiền của ông Tuấn. Các lời khai của ông Hồ Văn Thiêm (là người coi hướng nhà cho ông Tuấn), ông Bùi Anh Dũng và bà Lê Ngọc Nữ xác nhận đã có lần nhìn thấy ông Tuấn trả tiền nhà cho bà Giang cũng không đủ cơ sở để xác định ông Tuấn là người mua nhà của ông Khung. Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm xác định căn nhà số 523/20 Nguyễn Tri Phương thuộc quyền sở hữu và quyền sử dụng của ông Tuấn là không đúng.

Tuy nhiên, bà Nguyễn Phước Lộc và ông Tuấn sống chung với nhau từ năm 1977 nhưng đến năm 1978 mới đăng ký kết hôn và sau đó ông Tuấn, bà Lộc có mua căn nhà khác (mang số 70/3 đường Trần Tuấn Khải, phường 5, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh) nhưng khi ly hôn (năm 1987) ông Tuấn và bà Lộc đều không khai tài sản chung của ông bà bao gồm cả căn nhà hiện nay ông Tuấn đang kiện đòi. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử bác yêu cầu đòi căn nhà số 523/20 Nguyễn Tri Phương phường 8, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh của ông Trần Hán Tuấn đối với bà Trần Loan Anh là chưa đủ căn cứ vững chắc.

Khi gửi đơn khiếu nại đối với bản án phúc thẩm, bà Loan Anh mới xuất trình được “Tờ cam kết” (bản gốc) đề ngày 20-11-1977 và cho rằng đó là giấy viết tay bán nhà. Tài liệu này tuy bà Loan Anh đã có lời khai tại Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm nhưng bà chưa xuất trình được để Tòa án xem xét, đánh giá.

Việc Tòa án cấp phúc thẩm chỉ dựa vào hai giấy xác nhận ngày 04-4-2003 và ngày 09-4-2003 cũng như lời khai của một số nhân chứng để xác định căn nhà và đất tại số 523/20 Nguyễn Tri Phương, phường 8, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sở hữu và quyền sử dụng của ông Trần Hán Tuấn cũng là không đúng.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao giữ nguyên ý kiến đã nêu trong kháng nghị.

XÉT THẤY

Ông Trần Hán Tuấn và bà Trần Loan Anh đều khai mình là người bỏ tiền mua căn nhà và đất tại số 523/20 Nguyễn Tri Phương vào năm 1977, nhưng giấy tờ mua bán đã bị thất lạc. Bà Mã Thị Giang (con gái ông Mã Ghết Khung và cũng là người đại diện cho ông Khung tham gia giao dịch) khai lúc giao dịch mua bán và trả tiền có mặt cả bà Loan Anh và ông Tuấn.

Ông Tuấn có xuất trình các chứng cứ về việc ông trả tiền mua nhà cho bên bán, nhưng bà Loan Anh lại khai là bà đưa tiền cho ông Tuấn trả. Thực tế ngay sau khi mua nhà, bà Loan Anh trực tiếp quản lý, còn ông Tuấn tuy không ở nhưng có đặt máy xay cà phê và làm nơi giao hàng. Khi bà Loan Anh và ông Tuấn mâu thuẫn thì cả hai đều đã có ý kiến đồng ý chia nhà, nhưng không thống nhất được cách chia: Bà Loan Anh yêu cầu chia thành ba phần, còn ông Tuấn yêu cầu chia thành hai phần. Về nội dung các “Giấy chứng nhận chữ ký” đề ngày 04-4-2003 và ngày 09-4-2003 với lời khai của bà Trinh (là mẹ bà Loan Anh và ông Tuấn), ông Tỷ, ông Hải, bà Lăng, ông Huy, bà Loán...(là các anh em ruột của bà Loan Anh, ông Tuấn) lại có mâu thuẫn và trái ngược với nhau (lúc cho là bà Loan Anh mua, lúc cho là ông Tuấn mua). Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chưa làm rõ được ông Tuấn và bà Loan Anh ai là người bỏ tiền ra mua nhà và bỏ bao nhiêu tiền, nguồn tiền mua nhà do đâu... mà chỉ dựa vào lời khai của một số nhân chứng, người liên quan để xác định nhà thuộc sở hữu của bà Loan Anh (như cấp sơ thẩm) hay của ông Tuấn (như cấp phúc thẩm) đều chưa có đầy đủ cơ sở. Ở giai đoạn giám đốc thẩm, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thu thập được chứng cứ do bà Loan Anh xuất trình là “Giấy cam kết bán nhà” đề ngày 20-11-1977, phù hợp với lời khai của các bên là giao dịch mua bán nhà diễn ra năm 1977. Tuy nhiên, phần đầu giấy này lại ghi là đại diện bên mua là ông Trần Thâm (là cha của bà Loan Anh và ông Tuấn), bên bán đại diện là ông Mã Ghết Khung nhưng phần dưới người mua ký lại là bà Loan Anh và người bán ký lại là bà Mã Thị Giang; còn chữ ký làm chứng là của hai người gồm ông Trần Hán Tuấn và ông Trần Văn Lược. Mặt khác “Giấy cam kết bán nhà” thể hiện giá mua bán là 1.000 đồng và bên mua mới trả được 1.000 đồng tiền cọc, số tiền còn lại khi nào trả và ai trả cũng không được thể hiện rõ.

Do vậy, cần phải yêu cầu bà Loan Anh, ông Tuấn cung cấp chứng cứ để có căn cứ kết luận ai là người mua nhà. Nếu các bên không chứng minh được ai là người bỏ tiền mua nhà thì căn cứ vào thỏa thuận giữa bà Loan Anh và ông Tuấn để xác định nhà thuộc sở hữu chung của bà Loan Anh và ông Tuấn và phân chia mỗi bên là 1/2 theo quy định của Bộ luật dân sự về chia tài sản thuộc sở hữu chung.

Bởi các lẽ trên, căn cứ vào khoản 3 Điều 297 và Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự,

QUYẾT ĐỊNH

1. Hủy bản án dân sự phúc thẩm số 65/2006/DS-PT ngày 06-3-2006 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và bản án dân sự sơ thẩm số 2543/2005/DSST ngày 30-11-2005 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về vụ án “tranh chấp quyền sở hữu nhà” giữa nguyên đơn là ông Trần Hán Tuấn với bị đơn là bà Trần Loan Anh; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là các ông, bà Trần Muối, Trần Kim Hương, Trần Thị Lăng và Trần Hán Phong.

2. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Lý do bản án phúc thẩm và bản án sơ thẩm bị hủy:

Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chưa làm rõ giữa nguyên đơn và bị đơn ai là người bỏ tiền ra mua nhà, số tiền là bao nhiêu, nguồn tiền là ở đâu... mà đã quyết định nhà thuộc sở hữu của một bên là chưa có cơ sở.


119
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 30/2007/DS-GĐT ngày 08/08/2007 về vụ án tranh chấp quyền sở hữu tài sản (nhà ở)

Số hiệu:30/2007/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:08/08/2007
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về