Quyết định giám đốc thẩm 23/2013/GĐT-DS ngày 17/04/2013 về tranh chấp quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn cụ Phạm Thị Báu và bị đơn bà Phan Kim Hạnh

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 23/2013/GĐT-DS NGÀY 17/4/2013 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU NHÀ VÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT GIỮA NGUYÊN ĐƠN CỤ PHẠM THỊ BÁU VÀ BỊ ĐƠN BÀ PHAN KIM HẠNH

Ngày 17/4/2013, tại trụ sở Toà án nhân dân tối cao, mở phiên toà giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự “Tranh chấp quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất” giữa:

Nguyên đơn: Cụ Phạm Thị Báu sinh năm 1928; định cư tại Mỹ, địa chỉ: 4Swan Stream CT, Gaithersbusg, MD 20877- USA; tạm trú tại 205 Đỗ Xuân Hợp, phường Phước Long B, quận 9, thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Bà Phan Kim Hạnh (Phan Mariann Hạnh) sinh 1946 (con cụ Báu); định cư tại Mỹ; địa chỉ 4Swan Stream CT, Gaithersbusg, MD 20877- USA.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1.Bà Trần Thị Minh, sinh năm 1960;

2.Ông Trần Hùng Bình, sinh năm 1957;

3.Chị Trần Thị Chinh, sinh năm 1985;

Bà Minh, ông Bình, chị Chinh trú cùng địa chỉ số 27 A Kỳ Đồng, phường 9, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.

4.Bà Phan Thị Từ Minh, sinh năm 1943; địa chỉ: 30E1 Chu Văn An, phường 26, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN THẤY

Theo đơn khởi kiện ngày 22/7/2009, nguyên đơn là cụ Phạm Thị Báu trình bày:

Năm 1971 cụ mua căn nhà số 135/3 Lê Văn Duyệt (nay là 112/3 Trần Phú), phường 5, thành phố Vũng Tàu, nhưng để con gái là bà Phan Kim Hạnh đứng tên trên giấy tờ. Năm 1989, cụ và bà Hạnh xuất cảnh sang Mỹ. Trước khi xuất cảnh, bà Hạnh ủy quyền cho bà Nguyễn Thi Biên quản lý nhà. Sau đó, do bà Biên đã tự làm thủ tục đứng tên sở hữu nhà và bán cho người khác. Năm 2006, bà Hạnh đã khởi kiện bà Biên đòi lại nhà. Theo Bản án dân sự phúc thẩm số 177/2007/DSPT ngày 11/6/2007 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã công nhận nhà của bà Hạnh. Ngày 15/7/2007, bà Hạnh lập giấy cho cụ căn nhà đó, văn bản được hợp pháp hóa lãnh sự Việt Nam tại Mỹ, nên nhà trên đã thuộc quyền sở hữu của cụ kể từ thời điểm tặng cho. Cụ đã nhiều lần yêu cầu bà Hạnh hỗ trợ để cụ làm thủ tục sang tên sở hữu và bàn giao nhà, nhưng bà Hạnh không thực hiện. Ngày 11/7/2008, bà Hạnh lập giấy ủy quyền cho chị Trần Thi Chinh làm thủ tục tặng cho căn nhà trên cho bà Trần Thi Minh là xâm phạm quyền lợi của cụ, yêu cầu công nhận là chủ sở hữu nhà theo hợp đồng bà Hạnh đã tặng cho.

Lời khai người đại diện theo ủy quyền của cụ Báu là bà Dương Thi Thu Hương trình bày: Năm 1971, cụ Báu mua nhà đất (tranh chấp) của vợ chồng ông Vũ Ngọc Ban và Hoàng Thị Thịnh, giá bao nhiêu bà không biết. Mục đích mua nhà là để cho con gái là bà Phan Kim Hạnh ở và đứng tên, cụ Báu sống ở Sài Gòn thỉnh thoảng xuống Vũng Tàu nghỉ mát. Sau đó cụ Báu cùng bà Hạnh sang Mỹ định cư năm 1989, bà Hạnh đã giao nhà cho bà Biên trông coi, nhưng bà Biên tự ý hợp thức hóa nhà và bán cho người khác khi nào không biết. Khi biết bà Biên bán nhà, cụ Báu và bà Hạnh bàn nhau để bà Hạnh về Việt Nam kiện bà Biên và Tòa án đã công nhận nhà của bà Hạnh. Sau đó, bà Hạnh làm giấy cho cụ Báu nhà và cụ Báu ủy quyền cho bà liên hộ với cơ quan chức năng giải quyết. Tại cơ quan Thi hành án thì bà mới biết bà Hạnh đã ủy quyền cho bà Trần Thị Minh để thi hành án và bà Hạnh ủy quyền cho chị Chinh tặng cho nhà cho bà Minh là mẹ ruột chị Chinh từ 11/7/2008. Sau khi ký hợp đồng tặng cho thì bà Hạnh chưa giao nhà cho cụ Báu, vì chưa thi hành án xong và chưa sang tên. Nhà hiện đã sập, chỉ còn tường bao và đất trống. Hiện đất không ai quản lý. Nay cụ Báu yêu cầu được sử dụng đất tranh chấp.

Tại phiên hòa giải ngày 30/6/2010, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày nếu Tòa án xác định căn nhà của bà Phan Thị Từ Minh thì rút đơn kiện.

Ngày 17/8/2010, cụ Báu ủy quyền cho anh Nguyễn Văn Tài là đại diện và anh Tài đề nghị Tòa án công nhận hợp đồng tặng cho nhà giữa bà Hạnh và cụ Báu.

Theo lời khai bị đơn bà Phan Kim Hạnh trình bày:

Cụ Báu là người mua căn nhà, bà chỉ đứng tên dùm vì thời gian này bà vừa học xong đi làm và sống tại đây. Năm 1987, bà cho bà Biên ở nhờ vì bà Biên lớn tuổi không nơi nương tựa. Trước khi xuất cảnh, bà làm văn bản cho người dì là Phan Thi Từ Minh nhà này, được Ủy ban nhân dân phường 2 quận 5 thành phố Hồ Chí Minh xác nhận. Bà cũng cam kết với nhà nước Việt Nam là không còn tài sản ở Việt Nam. Năm 1990, bà xuất cảnh sang Mỹ. Năm 2007, biết bà Biên tự ý xin cấp chủ quyền nhà và bán cho người khác nên bà thống nhất với mẹ là cụ Báu, bà về Việt Nam đòi nhà; bà không thông báo cho bà Từ Minh biết. Sau khi được Tòa án giải quyết bà Biên trả nhà, bà làm văn bản tặng cho cụ Báu nhà, ví trước chỉ đứng tên hộ. Bà chỉ ủy quyền cho bà Trần Thị Minh quản lý sử dụng, không tặng cho, đề nghị công nhận nhà cho cụ Báu.

Lời khai của người đại diện theo ủy quyền của bà Hạnh là ông Phạm Ngọc Hưng trình bày: Sau khi ký văn bản xong, bà Hạnh điện thoại cho ông nói là bị cụ Báu ép buộc viết văn bản ngày 18/9/2009, bà Hạnh biết thủ tục tặng cho bà Trần Thị Minh là hợp pháp, nhà đất là do bà Hạnh mua. Năm 2006, bà Hạnh ủy quyền cho bà Trần Thị Minh khởi kiện đòi bà Biên nhà. Nay đổng ý cho bà Trần Thị Minh, thủ tục đã xong, đã giao nhà cho bà Trần Thị Minh.

Sau đó bà Hạnh hủy bỏ việc ủy quyền cho anh Hưng và có văn bản ủy quyền cho anh Nguyễn Văn Tuấn. Anh Tuấn trình bày: Bà Hạnh và cụ Báu chỉ nhờ bà Trần Thị Minh đứng tên hộ, khi cụ Báu về Việt Nam thì trả, không cho bà Trần Thị Minh nhà. Nhà tranh chấp là của cụ Báu cho bà Hạnh đứng tên. Đề nghị công nhận nhà cho cụ Báu.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị Minh có đơn yêu cầu độc lập ngày 11/11/2009 và các lời khai trình bày:

Năm 2004, cháu bà là bà Hạnh ủy quyền cho bà bán nhà đất (đang tranh chấp), nhưng trước khi đi xuất cảnh năm 1987 bà Hạnh đã ủy quyền cho bà Biên quản lý. Khi bà Hạnh ở Mỹ, bà Biên đã bán nhà trái phép. Ngày 22/3/2006, bà Hạnh đã lập giấy ủy quyền cho bà kiện bà Biên và đã được Tòa án chấp nhận yêu cầu đòi nhà. Theo bản án năm 2007 bà Hạnh là chủ sở hữu nhà. Bà biết nguồn gốc nhà này của bà Hạnh mua năm 1971 của ông Ban, sau đó bà Hạnh cho bộ đội thuê. Khi bộ đội trả nhà, bà Hạnh cho bà Biên ờ nhờ. Vì bà Hạnh là người nước ngoài không được đứng tên nhà đất ở Việt Nam và cũng là thực hiện cam kết từ trước nên ngày 17/5/2007 bà Hạnh đã ủy quyền cho bà đứng tên sở hữu nhà và nhận nhà tại cơ quan Thi hành án. Ngày 31/7/2007, bà Hạnh lại viết cam kết khẳng định lại giấy ủy quyền cho bà viết ngày 17/5/2007 vẫn giữ nguyên giá trị pháp lý. Ngày 19/9/2007, cơ quan Thi hành án đã giao nhà đất cho bà. Sau đó bà liên hệ để làm thủ tục sang tên thì văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất trả lời việc ủy quyền của bà Hạnh không có nội dung tặng cho nên chưa sang tên được.

Ngày 12/6/2008, bà Hạnh ủy quyền cho chị Chinh ký hợp đồng và tiến hành thủ tục tặng cho bà nhà đất của bà Hạnh. Ngày 11/7/2008, chị Chinh đã nhân danh bà Hạnh ký hợp đồng tặng cho bà nhà đất này tại Phòng công chứng số 1 tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Trong khi chờ cấp giấy chứng nhận cho bà thì cụ Báu khởi kiện. Sau khi thi hành án xong, cụ Báu ép bà Hạnh tặng cho cụ Báu nhà đất, bà biết được là do bà Hạnh nói. Cụ Báu là người nước ngoài nên hợp đồng tặng cho nhà đất giữa bà Hạnh và cụ Báu bị vô hiệu. Trong suốt quá trình tranh chấp đòi nhà với bà Biên không thấy bà Phan Thị Từ Minh tham gia. Mọi chi phí khởi kiện đòi nhà cho bà Hạnh do bà bỏ ra toàn bộ. Bà Hạnh cần tiền có đề nghị bà đưa trước cho bà Hạnh, nên bà Hạnh mới đồng ý giao nhà cho bà thay vì phải trả tiền đó cho bà. Yêu cầu hủy bỏ văn bản tặng cho giữa bà Hạnh với cụ Báu và bà Từ Minh, công nhận việc tặng cho giữa bà Hạnh với bà.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Phan Thị Từ Minh có đơn yêu cầu độc lập ngày 28/3/2010 và các lời khai trình bày:

Nhà tranh chấp có nguồn gốc của cụ Báu mua và giao cho bà Hạnh đứng tên. Năm 1990, bà Hạnh đi xuất cảnh. Trước khi đi, bà Hạnh làm văn bản ngày 9/10/1989 cho bà nhà đất tranh chấp, có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường 2, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, cụ Báu và bà Hạnh có đơn gửi Sở Nhà đất Vũng Tàu sang tên cho bà, có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường 2, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh nơi cụ Báu cư trú. Bà cũng đã đến sở xây dựng Vũng Tàu liên hệ làm thủ tục, nhưng lúc đó do đường xa và cũng nghĩ việc tặng cho đã hoấn tất nên bà cho bà Biên ở nhờ và trông coi. Sau khi có bản án phúc thẩm năm 2007 giải quyết nhà của bà Hạnh bà mới biết bà Biên bán nhà cho người khác. Bà không biết bà Hạnh kiện bà Biên đòi nhà. Sau khi được cho nhà bà có nghé qua, vẫn cho bà Biên ở, chưa sang tên, bà không biết nhà sập năm nào. Nay bà Hạnh lại cho cụ Báu nhà đất, bà không biết. Yêu cầu công nhận quyền sở hữu nhà cho bà, các hợp đồng sau đều vô hiệu.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Từ Minh xin rút yêu cầu độc lập.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 04/2010/DSST ngày 02/8/2010, Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu quyết định:

1.Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thi Báu đối với bà Phan Kim Hạnh.

2.Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Phan Thị Từ Minh.

3.Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Trần Thị Minh

4.Tuyên bố:

Văn bản cho nhà ngày 15/7/2007 giữa bà Phan Kim Hạnh với bà Phạm Thị Báu vô hiệu.

Văn bản tặng cho nhà ngày 09/10/1989 giữa bà Phan Kim Hạnh với bà Phan Thị Từ Minh và Đơn xin sang tên cho nhà có xác nhận ngày 06/11/1989 của Ủy ban nhân dân phường 2, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh vô hiệu.

Hủy bỏ các văn bản, đơn xin cho nhà đã nêu ở trên.

5.Công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 11/7/2008 giữa bà Phan Kim Hạnh - do chị Trần Thị Chinh đại diện - ký với bà Trần Thị Minh.

Công nhận bà Trần Thị Minh được quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp đối với nhà, đất tọa lạc tại 112/3 Trần Phú (số cũ 136/3 Lê Văn Duyệt), phường 5, thành phố Vũng Tàu theo hợp đồng tặng cho nêu trên. Vị trí đất có sơ đồ do Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất đo vẽ ngày 05/01/2010.

Bà Trần Thị Minh chịu trách nhiệm liên hệ với cơ quan có thẩm quyền về quản lý nhà đất để thực hiện các nghiã vụ tài chính và làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.

Bản án còn quyết định về án phí và chi phí tố tụng khác

Ngày 15/8/2010, cụ Báu kháng cáo.

Ngày 17/8/2010, bà Phan Thị Từ Minh kháng cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Phan Thi Từ Minh rút yêu cầu độc lập, đề nghị công nhận quyền sở hữu nhà cho cụ Báu.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 307/2010/DSPT ngày 30/12/2010, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh quyết định: Sửa án sơ thẩm.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ Phạm Thị Báu đối với bà Phan Kim Hạnh.

Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Trần Thị Minh.

Công nhận hợp đồng tặng cho nhà ngày 15/7/2007 giữa bà Phan Kim Hạnh và cụ Phạm Thị Báu. Cụ Phạm Thị Báu được quyền sở hữu, quyền sử dụng nhà và đất tọa lạc tại số 112/3 đường Trần Phu (số cũ 136/3 Lê Văn Duyệt), phường 5, thành phố Vũng Tàu. Vị trí đất theo sơ đồ đo vẽ ngày 05/01/2010.

Cụ Báu được liên hệ vói các cơ quan chức năng có thẩm quyền làm thủ tục sở hữu nhà quyền sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật.

-  Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 11/7/2008 giữa bà Phan Kim Hạnh - do bà Trần Thị Chinh đại diện ký với bà Trần Thị Minh vô hiệu.

-  Chấp nhận việc rút đơn yêu cầu độc lập và rút kháng cáo của bà Phan Thị Từ Minh. Hủy một phần bản án sơ thẩm và đình chỉ việc giải quyết vụ án đối với yêu cầu độc lập của bà Phan Thi Từ Minh.

Bản án còn quyết định về án phí.

Sau khi xét xử phúc thẩm, bà Trần Thi Minh có đơn khiếu nại.

Tại quyết định số 113/QĐ-KNGĐT-V5 ngày 26/8/2011, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm số 307/2010/DSPT ngày 30/12/2010 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh, đề nghị Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hủy bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và giao hổ sơ cho Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Sau khi có quyết định kháng nghị, bà Đỗ Thị Lượng có đơn kiến nghị đề nghị bảo vệ quyền lợi. Bà Lượng cho rằng ngày 23/2/2011, cụ Báu đã bán nhà và chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà và bà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà, sau đó bà đã chuyển nhượng cho bà Đào Thị Thanh Hà và bà Hà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu nhà ở.

Tại phiên toà giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; huỷ bản án dân sự phúc thẩm số 307/2010/DSPT ngày 30/12/2010 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2010/DSST ngày 02/8/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; giao hồ sơ cho Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu xét xử sơ thẩm lại theo đúng qui định của pháp luật.

XÉT THẤY

Các đương sự tranh chấp nhà đất (diện tích 394,6m2) tại số nhà 112/3 Trần Phú, phường 5, thành phố Vũng Tàu. Theo bản án dân sự phúc thẩm số 177/2007/DSPT ngày 11/6/2007 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh giải quyết tranh chấp việc kiện “Đòi nhà” giữa bà Phan Kim Hạnh với bị đơn là bà Nguyên Thị Kim Biên đã quyết định công nhận bà Hạnh được quyền sở hữu và sử dụng nhà đất tranh chấp; bà Hạnh có quyền đăng ký kê khai quyền sở hữu nhà và quyên sử dụng đất. Ngày 17/5/2007, bà Hạnh ký “Giấy ủy quyền” cho bà Trần Thị Minh (được hợp pháp hóa lãnh sự cùng ngày) với nội dung, bà Trần Thị Minh thay mặt bà Hạnh xin thi hành án và nhận lại nhà đất đứng tên sở hữu nhà đất theo pháp luật Việt Nam trong phạm vi được ủy quyền. Ngày 31/7/2007, bà Hạnh ký “Bản cam kết” với bà Trần Thị Minh khẳng định vẫn giữ nguyên ủy quyền ngày 17/5/2007. Văn bản này cũng được hợp pháp hóa lãnh sự ngày 31/7/2007. Nhưng ngày 15/7/2007 tại Mỹ, bà Hạnh lại ký “Văn bản cho nhà” để tặng cho cụ Phạm Thị Báu nhà đất tranh chấp và văn bản này tới ngày 21/9/2007 mới được hợp pháp hóa lãnh sự. Ngày 19/9/2007, cơ quan thi hành án đã giao nhà đất tranh chấp cho bà Trần Thị Minh. Ngày 12/6/2008, bà Hạnh ký “Hợp đồng ủy quyền” cho chị Trần Thị Chinh với nội dung, ủy quyền cho chị Chinh ký kết hợp đồng tặng cho và tiến hành thủ tục tặng cho bà Trần Thị Minh toàn bộ nhà đất tranh chấp. Ngày 11/7/2008, chị Chinh căn cứ ủy quyền ngày 12/6/2008 của bà Hạnh đã ký Hợp đồng tặng cho bà Trần Thị Minh nhà đất tranh chấp.

Theo bản án dân sự phúc thẩm số 177/2007/DSPT ngày 11/6/2007 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã có hiệu lực pháp luật thì bà Hạnh được pháp luật công nhận là chủ sở hữu nhà đất tranh chấp. Ngày 22/7/2009, cụ Báu mới có đơn khởi kiện bà Hạnh cho rằng căn nhà là cụ mua và cho bà Hạnh đứng tên trên giấy tờ, được bà Hạnh thừa nhận, nhưng việc thừa nhận này của bà Hạnh lại mâu thuẫn với các giấy tờ về nguồn gốc nhà đất và các văn bản bà đã ký trước đây. Bà Hanh cho rằng chỉ ủy quyền cho bà Trần Thị Minh quản lý, không ủy quyền tặng cho nhà nên cần làm rõ vể nội dung ủy quyền này cũng như việc thực hiện trên thực tế có đúng không? Nếu có căn cứ xác định bà Minh đã thực hiện đúng nội dung bà Hạnh ủy quyền thì phải xác định việc tặng cho nhà là hợp pháp. Việc bà Hạnh ký tặng cho bà Trần Thị Minh nhà đất này thì văn bản sau phủ định văn bản trước, đối tượng tranh chấp giữa cụ Báu và bà Hạnh không còn là của bà Hạnh nên bà Hạnh không có quyền thay đổi việc tặng cho bà Trần Thị Minh. Mặt khác, cụ Báu đang sống tại Mỹ và không thuộc đoi tượng được áp dụng Điều 126 Luật Nhà ở sửa đổi năm 2009 để được quyền sở hữu nhà. Theo Điều 24 Pháp lệnh Lãnh sự năm 1990 thì cơ quan Lãnh sự không có thẩm quyền hợp pháp hóa lãnh sự đối với giao dịch về bất động sản giữa bà Hạnh với cụ Báu thực hiện tại Việt Nam. Vì vậy, hợp đổng tặng cho nhà đất giữa bà Hạnh và cụ Báu không tuân thủ quy đinh về hình thức và vi phạm về nội dung, nên vô hiệu. Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ Báu là chưa đủ cơ sở.

Xem xét lời khai của cụ Báu và bà Hạnh thì thực chất quyền lợi của cụ Báu với bà Hạnh là không đối lập nhau. Vì vậy, khi giải quyết lại vụ án cần xác định lại rõ quan hệ tranh chấp để xác định đúng địa vị tố tụng, hướng dẫn đương sự làm lại đơn khởi kiện cho phù hợp với yêu cầu của các bên. Mặt khác cũng cần làm rõ tại sao khi bà Hạnh khởi kiện vụ án tranh chấp đòi nhà đối với bà Biên, cụ Báu lại không tham gia. Khi đó cụ Báu có biết không, tại sao không có ý kiến gì mà sau này mới khỏti kiện đòi nhà bà Hạnh dưới hình thức hợp đồng bà Hạnh tặng cho nhà.

Sau khi Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có Quyết định kháng nghị, bà Lượng có đơn kiến nghị về việc đã mua nhà do cụ Báu bán, nên khi giải quyết lại vụ án cần kiểm tra xem xét, nếu có việc mua bán nhà này thì đưa người mua nhà vào tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.

Bà Phan Thi Từ Minh là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yếu cầu độc lập nhưng tại phiên tòa phúc thẩm đã rút yêu cầu nên Tòa án cấp phúc thẩm đã hủy một phần bản án sơ thẩm và đình chỉ việc giải quyết vụ án đối với yêu cầu độc lập của bà Phan Thị Từ Minh và giải quyết về án phí đối với bà Từ Minh là đúng và không cần thiết phải xem xét lại.

Vì các lẽ trên, căn cứ vào khoản 3 Điều 297 và Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH

1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị số 113/QĐ-KNGĐT-V5 ngày 26/8/2011 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đối với bản án dân sự phúc thẩm số 307/2010/DSPT ngày 30/12/2010 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh giải quyết tranh chấp quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn là cụ Phạm Thị Báu, bị đơn là bà Phan Kim Hạnh, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị Minh, ông Trần Hung Bình, chị Trần Thị Chinh.

2. Huỷ một phần bản án dân sự phúc thẩm số 307/2010/DSPT ngày 30/12/2010 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và bản án dân sự sơ thẩm số 04/2010/DSST ngày 02/08/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giải quyết về tranh chấp quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn là cụ Phạm Thị Báu với bị đơn là bà Phan Kim Hạnh, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thi Minh, ông Trần Hung Bình, chị Trần Thị Chinh.

3.Phần quyết định khác của bản án phúc thẩm giải quyết yêu cầu của bà Phan Thi Từ Minh và phần án phí đối với yêu cầu của bà Phan Thị Từ Minh có hiệu lực pháp luật.

4. Giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để xét xử sơ thẩm lại vụ án theo đúng qui định của pháp luật.


160
  • Tên bản án:
    Quyết định giám đốc thẩm 23/2013/GĐT-DS ngày 17/04/2013 về tranh chấp quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn cụ Phạm Thị Báu và bị đơn bà Phan Kim Hạnh
  • Số hiệu:
    23/2013/GĐT-DS
  • Cấp xét xử:
    Giám đốc thẩm
  • Lĩnh vực:
    Dân sự
  • Ngày ban hành:
    17/04/2013
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 23/2013/GĐT-DS ngày 17/04/2013 về tranh chấp quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn cụ Phạm Thị Báu và bị đơn bà Phan Kim Hạnh

Số hiệu:23/2013/GĐT-DS
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:17/04/2013
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về