Quyết định giám đốc thẩm 12/2006/DS-GĐT ngày 05/06/2006 về tranh chấp quyền sở hữu tài sản

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 12/2006/DS-GĐT NGÀY 05/06/2006 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP 
QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN

Ngày 5 tháng 6 năm 2006, tại trụ sở Toà án nhân dân tối cao đã mở phiên toà giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự tranh chấp về quyền sở hữu tài sản giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Tăng Thành Phát, sinh năm 1924.

Trú tại: ấp Phú Xuân, xã Phú Mỹ, huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang;

Bị đơn: Anh Tăng Thành Tâm, sinh năm 1962.

Trú tại: ấp Phú Hữu, xã Phú Mỹ, huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang;

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Lê Thị Kim Loan, sinh năm 1960;

2. Chị Tăng Thị Tuyết, sinh năm 1979;

3. Chị Tăng Thị Mai, sinh năm 1981;

4. Chị Tăng Thị Trinh, sinh năm 1983;

NHẬN THẤY

Theo đơn khởi kiện đề ngày 10-12-1999 và tại Toà án ông Tăng Thành Phát trình bày:

Căn nhà lợp ngói có diện tích 80m2 (dài 20m ngang 4m) là của vợ chồng ông (Tăng Thành Phát) và bà Nguyễn Thị Diệp. (Theo tờ bán đứt căn nhà đề ngày 16-8-1974 thì bà Diệp là người đứng tên mua nhà của vợ chồng bà Huỳnh Thị Ba và ông Lữ Thăng). Sau khi mua vợ chồng ông cho con gái là Tăng Thị Nâu ở và quản lý sử dụng. Năm 1976 vợ chồng ông cho Hợp tác xã Phú Mỹ mượn, năm 1977 Hợp tác xã trả nhà và ông bà giao cho chị Nâu tiếp tục sử dụng. Từ năm 1982 vợ chồng anh Tâm về ở cùng chị Nâu, đến năm 1985 chị Nâu đi ở nơi khác thì vợ chồng anh Tâm ở và quản lý sử dụng căn nhà này.

Năm 1991 anh Tâm tự kê khai chủ quyền nhà đất mà không được vợ chồng ông Phát, bà Diệp đồng ý.

Ngày 11-3-1991 Uỷ ban nhân dân huyện Châu Thành (cũ) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên anh Tâm với diện tích 80m2 tại thửa đất số 471 tờ bản đồ số 1.

Sau khi biết việc vợ chồng anh Tâm tự ý kê khai đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, từ năm 1999 vợ chồng ông Phát đã họp gia đình giải quyết, yêu cầu anh Tâm trả lại nhà đất cho vợ chồng ông, ông tự nguyện cho vợ chồng anh Tâm 50.000.000 đồng để tạo lập chỗ ở mới, nhưng anh Tâm không đồng ý. Do đó, ông khởi kiện yêu cầu vợ chồng anh Tâm trả lại nhà đất cho vợ chồng ông và đề nghị huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 11-3-1991 đứng tên anh Tâm.

Phía anh Tâm thừa nhận nhà đất đang tranh chấp là của cha mẹ, nhưng do cha mẹ chưa sử dụng nên mẹ anh (bà Diệp) đã cho vợ chồng anh (vì lúc đó bố anh có dự định bán nhà để đi nước ngoài và chia tiền cho các con), việc cho không có giấy tờ. Thời điểm anh kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, anh Tâm khai không thống nhất (có lúc khai bố anh không biết, có lúc khai là bố anh biết và đã nói cho anh nhà đất để ở, có lúc lại cho rằng vợ chồng anh đã ở ổn định lâu dài nên không đồng ý trả lại).

Chị Lê Thị Kim Loan (vợ anh Tâm) yêu cầu ông Phát trả lại giấy tờ nhà đất cho anh Tâm, yêu cầu được ở tại căn nhà, vì không có khả năng mua nhà khác, gia đình chị đã ở ổn định lâu dài nên không đồng ý trả lại nhà cho ông Phát.

Các cháu Tăng Thị Mai, Tăng Thị Tuyết và Tăng Thị Trinh (con anh Tâm, chị Loan) đang có hộ khẩu tại căn nhà cũng không đồng ý trả lại nhà cho ông Phát.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 02/DSST ngày 12-1-2001, Toà án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang đã quyết định:

Buộc vợ chồng anh Tâm và các con phải giao trả lại căn nhà trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật; huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 923/GCN do Uỷ ban nhân dân huyện Châu Thành (cũ) cấp cho anh Tâm ngày 11-3-1991.

Ngày 15-1-2001 anh Tăng Thành Tâm kháng cáo có nội dung cha mẹ anh đã cho anh nhà đất nên anh không đồng ý trả, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xét xử lại.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 176/DSPT ngày 7-6-2001 Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang đã quyết định:

Huỷ bản án sơ thẩm số 02/DSST ngày 12-1-2001 của Toà án nhân dân huyện Tân Phước; giao hồ sơ vụ án về Toà án nhân dân huyện Tân Phước xét xử lại theo luật định.

(Vụ án đã được Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang lấy hồ sơ để xét xử sơ thẩm theo đề nghị của Toà án nhân dân huyện Tân Phước, tại công văn số 13/LV-TĐ ngày 22-5-2002).

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 28/DSST ngày 2-10-2002, Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang đã quyết định:

- Buộc vợ chồng anh Tâm, chị Loan và các con phải giao trả cho vợ chồng ông Phát căn nhà, đất diện tích 80m2 (dài 20m, ngang 4m) tại phố chợ Phú Mỹ thuộc ấp Phú Hữu, xã Phú Mỹ.

- Gia đình anh Tâm được lưu cư trong thời gian 6 tháng, tính từ ngày án có hiệu lực.

- Ghi nhận ông Phát giao cho gia đình anh Tâm 50.000.000 đồng để ổn định chỗ ở, giao 1 lần khi hết thời hạn lưu cư.

- Huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời số 923/GCN-DĐ do Uỷ ban nhân dân huyện Châu Thành (cũ) cấp ngày 11-3-1991 cho anh Tâm.

- Ghi nhận tự nguyện của chị Hoa người được ông Phát uỷ quyền hoàn lại cho vợ chồng anh Tâm chi phí sửa chữa nhà là 10.000.000 đồng. Giao một lần khi hết thời hạn lưu cư.

- Ngày 3-10-2002 anh Tâm kháng cáo không đồng ý việc trả lại nhà và cho rằng ông Phát uỷ quyền cho chị Hoa là không hợp lệ nên đề nghị huỷ bỏ việc uỷ quyền.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 39/DSPT ngày 6-3-2003, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh quyết định sửa một phần bản án sơ thẩm, xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Tăng Thành Phát.

2. Công nhận vợ chồng ông Tăng Thành Phát và bà Nguyễn Thị Diệp là chủ sở hữu đối với căn nhà, đất có diện tích (4m ´ 20m) = 80m2; nhà lợp ngói, không có gác, nền gạch tàu, vách tường; toạ lạc tại phố chợ Phú Mỹ, thuộc ấp Phú Hữu, xã Phú Mỹ, huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang.

3. Buộc anh Tăng Thành Tâm cùng gia đình (vợ là Lê Thị Loan và 3 con là Tăng Thị Tuyết, Tăng Thị Mai và Tăng Thị Trinh) có trách nhiệm hoàn trả cho vợ chồng ông Tăng Thành Phát căn nhà, đất có diện tích, đặc điểm và vị trí như đã nêu ở điểm 2 của quyết định bản án phúc thẩm này.

4. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Tăng Thành Phát hỗ trợ cho gia đình ông Tăng Thành Tâm 50 (năm chục) triệu đồng để ổn định chổ ở mới và hoàn trả tiền chi phí sửa chữa nhà là: 10 (mười) triệu đồng.

- Giao nhà và tiền cùng một lúc.

5. Thời gian lưu cư là 02 (hai) năm, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm hôm nay (06-3-2003).

6. Huỷ bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 923/GCN-ĐĐ do Uỷ ban nhân dân huyện Châu Thành cấp ngày 11-3-1991 cho ông Tăng Thành Tâm.

7. Án phí phúc thẩm dân sự, ông Tâm không phải chịu.

8. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm, đã có hiệu lực pháp luật.

Ngày 26-4-2004 anh Tăng Thành Tâm khiếu nại bản án phúc thẩm có nội dung như sau:

Việc mẹ anh là bà Nguyễn Thị Diệp bị Toà án tuyên mất năng lực hành vi dân sự nên phần sở hữu nhà đất của mẹ anh là 1/2 nhưng Toà án chưa xác định mẹ anh có kiện hay không mà Toà án đã xử giao cả nhà đất cho bố mẹ anh.

Nội dung thứ 2 anh Tâm khiếu nại là vào ngày 12-4-2004 mẹ anh chết cũng không thể xác định được ý chí của mẹ anh và 1/2 tài sản của mẹ anh đã trở thành di sản thừa kế, vì vậy đề nghị Toà án nhân dân tối cao xem xét lại vụ án.

Ngày 31-10-2005 cơ quan thi hành án tỉnh Tiền Giang có công văn số 302/CV-THA đề nghị Chánh án Toà án nhân dân tối cao kháng nghị bản án phúc thẩm với lý do: Cơ quan thi hành án đã tiến hàng đo đạc và xác minh diện tích thực tế căn nhà đang tranh chấp có diện tích 110,25m2 (chiều ngang 4,5m, chiều dài 24,5m), trong khi theo quyết định của bản án phúc thẩm thì diện tích căn nhà, đất đang tranh chấp là 80m2 do đó không thi hành được việc giao nhà đất cho người được thi hành án.

Tại quyết định số 32/2006/DS-KN ngày 3-3-2006, Chánh án Toà án nhân dân tối cao đã kháng nghị bản án phúc thẩm trên với nhận định:

Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm xác định nhà, đất đang có tranh chấp thuộc quyền sở hữu của ông Phát, bà Diệp đã cho anh Tâm vào ở từ khoảng năm 1978, 1979 và đã quyết định buộc vợ chồng anh Tâm, chị Loan cùng các con phải có trách nhiệm giao trả lại nhà, đất nói trên cho vợ chồng ông Phát và bà Diệp là có căn cứ.

Tuy nhiên, việc xác định diện tích nhà đất của ông Phát, bà Diệp chưa rõ ràng (căn cứ vào giấy mua bán giữa vợ chồng bà Huỳnh Thị Ba và ông Lữ Thăng với bà Nguyễn Thị Diệp và lời khai của ông Phát, căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời mà Uỷ ban nhân dân huyện Châu Thành (cũ) cấp đứng tên anh Tâm ngày 11-3-1991 thì diện tích đất trên đó có căn nhà thuộc sở hữu của vợ chồng ông Phát là 80m2; tại biên bản xác minh hiện trạng nhà và đất đề ngày 26-10-2000 của Toà án nhân dân huyện Tân Phước có sự tham gia của Phòng địa chính và địa chính xã Phú Mỹ xác định diện tích nhà, đất là 108,83m2. Trong khi đó, trong quá trình giải quyết vụ án cả Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm không xác minh làm rõ nguồn gốc của phần đất chênh lệch.

Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm quyết định gia đình anh Tâm, chị Loan và các con phải trả căn nhà, đất diện tích 80m2(ngang 4m, dài 20m) cho vợ chồng ông Phát, bà Diệp, nhưng khi thi hành án cơ quan thi hành án tỉnh Tiền Giang đã đo đạc lại và xác định diện tích thực tế của căn nhà, đất mà gia đình anh Tâm đang quản lý là 110,25m2, nên không có cơ sở để thi hành bản án phúc thẩm.

Do đó, Chánh án Toà án nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xét xử vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm, huỷ bản án dân sự phúc thẩm số 39/DSPT ngày 6-3-2003 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và bản án dân sự sơ thẩm số 28/DSST ngày 2-10-2002 của Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang để xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên toà giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí với kháng nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao và đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao chấp nhận kháng nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao huỷ bản án phúc thẩm và sơ thẩm nêu trên, giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang, xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

XÉT THẤY

Nguồn gốc căn nhà lợp ngói tại ấp Phú Hữu, xã Phú Mỹ, huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang (đang có tranh chấp) do bà Nguyễn Thị Diệp đứng tên mua của vợ chồng bà Huỳnh Thị Ba và ông Lữ Thăng từ năm 1974 (Theo tờ bán đứt căn nhà lập ngày 16-8-1974 thì căn nhà có diện tích 4m ´ 20m). Tuy bà Diệp đứng tên riêng để mua nhưng là tài sản được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân giữa ông Tăng Thành Phát với bà Nguyễn Thị Diệp nên là tài sản chung của vợ chồng ông Phát, bà Diệp.

Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm xác định nhà, đất có tranh chấp thuộc quyền sở hữu của ông Phát, bà Diệp đã cho anh Tâm vào ở từ khoảng năm 1978, 1979 và đã quyết định buộc vợ chồng anh Tâm, chị Loan cùng các con phải có trách nhiệm giao trả lại nhà, đất nói trên cho vợ chồng ông Phát và bà Diệp là có căn cứ.

Tuy nhiên, việc xác định diện tích nhà, đất của ông Phát, bà Diệp chưa rõ ràng.

Trong quá trình giải quyết vụ án ông Phát yêu cầu vợ chồng anh Tâm trả lại diện tích nhà, đất là 80m2 (ngang 4m dài 20m). Nhưng có lúc ông Phát yêu cầu vợ chồng anh Tâm chị Loan trả lại cho vợ chồng ông căn nhà mà vợ chồng anh Tâm đang sử dụng. Tại Toà án phía anh Tâm và chị Loan cũng xác định diện tích nhà đất là 80m2 (ngang 4m, dài 20m); theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà Uỷ ban nhân dân huyện Châu Thành (cũ) cấp đứng tên anh Tâm ngày 11-3-1991 thì diện tích đất trên đó có căn nhà thuộc sở hữu của vợ chồng ông Phát, bà Diệp là 80m2; nhưng tại biên bản xác minh hiện trạng nhà đất đang có tranh chấp đề ngày 26-12-2000 của Toà án nhân dân huyện Tân Phước có sự tham gia của Phòng địa chính huyện và địa chính xã Phú Mỹ xác định diện tích nhà, đất là 108,83m(chiều ngang phía trước 4,49m, bề ngang phía sau 4,42m, chiều dài 24,23m). Trong khi đó, trong quá trình giải quyết vụ án cả Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm không xác minh làm rõ vì sao có sự chênh lệch về diện tích đất. Khi thi hành án thì cơ quan Thi hành án tỉnh Tiền Giang đã đo đạc lại và xác định diện tích đất trên đó có căn nhà mà gia đình anh Tâm đang quản lý sử dụng đo thực tế là 110,25m2 (ngang 4,5m dài 24,5m).

Trong trường hợp này lẽ ra phải kiểm tra, đo vẽ chính xác diện tích nhà đất đang có tranh chấp, từ đó mới giải quyết đúng vụ án. Toà án cấp sơ thẩm và phúc thẩm chỉ căn cứ vào một số lời khai của các đương sự, giấy mua bán nhà, và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên anh Tâm để buộc vợ chồng anh Tâm trả lại cho vợ chồng ông Phát căn nhà có diện tích 80m2 là không đúng với diện tích thực tế, gây khó khăn cho việc thi hành án.

Về tố tụng: Như đã nêu trên, tuy khi mua nhà chỉ mình bà Diệp đứng tên, nhưng tài sản được tạo lập trong quá trình hôn nhân hợp pháp nên là tài sản chung của vợ chồng bà Diệp, ông Phát. Lẽ ra, phải xác định nguyên đơn trong vụ án là ông Phát, bà Diệp (bà Diệp bị mất năng lực hành vi dân sự thì ông Phát là đại diện đương nhiên theo pháp luật), Toà án cấp sơ thẩm, phúc thẩm chỉ xác định ông Phát là nguyên đơn là không đầy đủ.

Đối với anh Tâm, chị Loan thì trong thực tế anh Tâm và chị Loan là vợ chồng, anh Tâm chị Loan đang sử dụng nhà đất của ông Phát, bà Diệp nhưng Toà án 2 cấp chỉ xác định anh Tâm là bị đơn, còn chị Loan là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là không chính xác.

Ngoài ra, khi khiếu nại anh Tâm cho rằng bà Nguyễn Thị Diệp đã chết ngày 12-4-2004 và anh Tâm nêu có yêu cầu chia thừa kế di sản của bà Diệp. Vì vậy, nếu xác định bà Diệp đã chết và các đương sự có yêu cầu thì phải xem xét việc yêu cầu chia thừa kế theo quy định chung của pháp luật.

Vì các lẽ trên và căn cứ vào khoản 3 Điều 291, khoản 3 Điều 297 và khoản 3 Điều 299 của Bộ luật tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH

1. Huỷ bản án dân sự phúc thẩm số 39/DSPT ngày 06/03/2003 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và bản án dân sự sơ thẩm số 28/DSST ngày 02/10/2002 của Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang đã xét xử vụ án dân sự tranh chấp về quyền sở hữu tài sản giữa nguyên đơn là ông Tăng Thành Phát với bị đơn là anh Tăng Thành Tâm.

2. Giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang để giải quyết, xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

____________________________________________

- Lý do huỷ bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm:

1. Cần xác minh lại diện tích nhà, đất có tranh chấp;

2. Cần xác định lại tư cách của những người tham gia tố tụng.

- Nguyên nhân dẫn đến việc huỷ các bản án sơ thẩm và phúc thẩm:

1. Thiếu sót trong việc áp dụng pháp luật để xác định tư cách của những người tham gia tố tụng;

2. Thiếu sót trong việc xác minh, đánh giá chứng cứ.


162
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 12/2006/DS-GĐT ngày 05/06/2006 về tranh chấp quyền sở hữu tài sản

Số hiệu:12/2006/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:05/06/2006
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
          Bản án/Quyết định phúc thẩm
            Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về