Quyết định giám đốc thẩm 11/2007/DS-GĐT ngày 05/04/2007 về vụ án tranh chấp quyền sở hữu tài sản và tranh chấp thừa kế tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 11/2007/DS-GĐT NGÀY 05/04/2007 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN VÀ TRANH CHẤP THỪA KẾ TÀI SẢN 

Ngày 05 tháng 04 năm 2007, tại trụ sở Toà án nhân dân tối cao đã mở phiên toà giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự tranh chấp về quyền sở hữu tài sản và tranh chấp về thừa kế tài sản giữa các đương sự :                                                             

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Bảy, sinh năm 1920;

Bị đơn:

1. Anh Võ Văn Tư, sinh năm 1962;

2. Chị Phạm Thị Xuân Duyên (vợ anh Tư­), sinh năm 1962;

Các đ­ương sự cùng trú tại: nhà số 54/1, đường Trần Hưng Đạo, khu vực 1, phường Châu Văn Liêm, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ;

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn Nhung (con ông Bảy), sinh năm 1946; hiện đang định cư­­ tại Mỹ.

NHẬN THẤY

Tại đơn khởi kiện đề ngày 02-4-2003 và các lời khai tại Toà án trong quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Văn Bảy trình bày: Vợ chồng ông Bảy và bà Nguyễn Thị Hoá có một con chung là anh Nguyễn Văn Nhung. Năm 1952, ông Bảy, bà Hoá xây dựng nhà trên phần đất thuê của ông Bùi Quang Đạo. Sau khi xây nhà xong, bà Hoá bỏ sang Campuchia sinh sống. Sau đó, ông Bảy chung sống với bà Nguyễn Thị Tư­­. Do không có con, nên năm 1959 bà Tư­­ làm thủ tục nhận anh Nhung là con.

Năm 1962, bà Tư nhận anh Võ Văn Tư là cháu ruột về nuôi, khi đó anh Tư­­ mới được 10 tháng tuổi. Anh Tư sống cùng ông Bảy, bà Tư­­  kể từ đó.

Năm 1970, bà Tư­­ đứng tên mua căn nhà của bà Trần Thị Hay có vị trí giáp với căn nhà mà ông Bảy, bà Hoá xây dựng trư­­ớc đây. Căn nhà mới mua được xây dựng trên phần đất thuê của ông Bùi Quang Vạng. Sau khi mua nhà, ông Bảy, bà Tư­ tiến hành sửa nhà (việc sửa nhà đư­ợc chính quyền khi đó cho phép). Hiện căn nhà do ông Bảy, bà Hoá tạo lập và căn nhà do ông Bảy, bà Tư tạo lập đều mang chung số 54/1 đường Trần H­ưng Đạo, phường Châu Văn Liêm, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.

Năm 1982, anh Nhung sang định cư­­ tại Mỹ.

Năm 1992, bà Tư­­ chết. Trư­ớc khi chết bà Tư có ý nguyện để lại tài sản cho anh Tư­ là một phần căn nhà số 54/1 đường Trần Hư­ng Đạo.

Ngày 12-8-1993, ông Bảy lập di chúc với nội dung cho anh Tư­ một phần nhà phía bên trái theo ý nguyện của bà Tư­ (phần nhà do bà T­ư đứng tên mua).

Năm 1994, bà Hoá từ Campuchia về tiếp tục chung sống cùng ông Bảy.

Ngày 17-4-2001, ông Bảy lập di chúc mới với nội dung giao lại cho anh Tư­ quyền sở hữu, sử dụng toàn bộ nhà, đất số 54/1 đường Trần H­ưng Đạo với điều kiện “...nhà thờ cúng không đ­ược sang bán; có nhiệm vụ bảo quản, chăm sóc nhà...”

Ngày 24-02-2003, ông Bảy lập tờ uỷ quyền cho anh Tư­ nhà với nội dung “…Do con tôi đã lớn muốn sống riêng tư nên tôi uỷ quyền cho nửa căn nhà nói trên để con tôi ra riêng sống và xin tách hộ khẩu…”. 

Ngày 02-4-2003, ông Bảy lập tờ tuyên bố huỷ bỏ di chúc ngày 12-8-1993, đồng thời khởi kiện yêu cầu anh Tư trả lại nhà đất (nộp tạm ứng án phí 15-5-2003) vì cho rằng anh Tư­ làm thủ tục hợp thức hoá nhà đã để vợ là chị Phạm Thị Xuân Duyên đứng tên sở hữu, sử dụng toàn bộ nhà đất số 54/1 đư­ờng Trần Hưng Đạo. Cụ thể, yêu cầu vợ chồng anh Tư­­, chị Duyên trả lại toàn bộ căn nhà do vợ chồng anh đang quản lý, sử dụng.

Ngày 08-4-2004, ông Bảy lập tờ tuyên bố huỷ bỏ di chúc ngày 17-4-2001 và tuyên bố huỷ bỏ tờ uỷ quyền cho nhà ở ngày 24-02-2003.

Anh Võ Văn Tư  thừa nhận lời trình bày của ông Bảy về nguồn gốc căn nhà số 54/1 đường Trần Hưng Đạo và trình bày thêm: anh được ông Bảy, bà Tư­ nuôi từ nhỏ nên đề nghị Toà án xác định anh là con nuôi của ông Bảy, bà Tư­. Ngoài ra, trước khi chết bà Tư­ có di chúc miệng cho anh hưởng thừa kế phần nhà, đất của bà Tư­ tạo lập năm 1970, nên anh yêu cầu được h­ưởng thừa kế tài sản theo di chúc miệng của bà Tư­ là 1/2 căn nhà số 54/1 đường Trần Hưng Đạo hiện gia đình anh đang quản lý, sử dụng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn Nhung (con ông Bảy) có đơn tự nguyện nhường phần thừa kế được hư­­ởng theo pháp luật cho ông Bảy.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 11/DSST ngày 19-4-2004, Toà án nhân dân thành phố Cần Thơ quyết định:

- Không chấp nhận yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật của anh T­ư về con nuôi.

- Công nhận toàn bộ căn nhà mang số 54/1 đường Trần Hưng Đạo, ph­ường Châu Văn Liêm, quận Ô Môn là sở hữu của ông Nguyễn Văn Bảy, bà Nguyễn Thị Hoá. Nay ông Bảy, bà Hoá uỷ quyền cho bà Nguyễn Thị Hui được sở hữu căn nhà nói trên.

- Buộc vợ chồng anh Võ Văn Tư­­ và chị Phạm Thị Xuân Duyên phải giao trả một phần căn nhà 54/1 đường Trần Hưng Đạo, ph­ường Châu Văn Liêm, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ, hiện vợ chồng anh Tư­ đang sử dụng mua bán trang trí nội thất cho ông Nguyễn Văn Bảy, để ông Bảy, bà Hoá chuyển quyền sở hữu cho bà Nguyễn Thị Hui.

- Ông Nguyễn Văn Bảy có trách nhiệm giao lại cho anh Võ Văn Tư­­ số tiền 22.512.976 đồng.

- Riêng về phần đất của căn nhà là đất thuê của địa chủ, Nhà nước chưa công nhận cho bà Nguyễn Thị Tư­­, nên không phải là di sản thừa kế.

- Huỷ tờ di chúc của ông Bảy lập ngày 12-8-1993 và di chúc ngày 17-4-2001.

- Huỷ tờ uỷ quyền cho nhà của ông Bảy lập vào ngày 24-02-2003.

Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 03-5-2004, ông Nguyễn Văn Bảy kháng cáo không đồng ý trả cho anh Tư­­ số tiền 22.512.976 đồng.

Ngày 26-4-2004, anh Võ Văn Tư, chị Phạm Thị Xuân Duyên kháng cáo đề nghị được hưởng 1/2 căn nhà số 54/1 đường Trần Hưng Đạo như­­ hiện trạng đang quản lý, sử dụng.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 233/DSPT ngày 30-7-2004, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

 Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, bác kháng cáo của nguyên đơn sửa án dân sự sơ thẩm nh­ư sau:

1. Bác yêu cầu của ông Võ Văn Tư­­ và bà Phạm Thị Xuân Duyên đòi chia di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị Tư­­­ theo diện con nuôi, bác yêu cầu của ông Nguyễn Văn Bảy và ông Nguyễn Văn Nhung không thừa nhận chuyển giao một phần căn nhà 54/1 thuộc diện tài sản của bà Nguyễn Thị Tư­­ đã có di chúc miệng cho ông Võ Văn Tư và bà Phạm Thị Xuân Duyên.

2. Công nhận 1/3 căn nhà 54/1 đường Trần Hưng Đạo, phường Châu Văn Liêm, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ là di sản của bà Nguyễn Thị Tư­­ đã có di chúc miệng (trước khi chết) giao cho cháu ruột là ông Võ Văn T­ư và bà Phạm Thị Xuân Duyên sở hữu.

Ông Nguyễn Văn Bảy, ông Nguyễn Văn Nhung và bà Nguyễn Thị Hoá phải có trách nhiệm giao phần nhà nêu trên cho ông Võ Văn Tư và bà Phạm Thị Xuân Duyên nhận sở hữu.

Ông Võ Văn Tư và bà Phạm Thị Xuân Duyên được nhận sở hữu phần nhà, tính từ ngoài đường nhìn vào phía trái nhà số 54/1. Tính từ vách tường nhà ông Mười Lý về phía nhà ông Bảy đo ra 4,7m (phía tr­ước) 4,55m phía sau và sâu vào phía trong là 12,7m tính từ tầng trệt lên gác gỗ ở phía trên vách ngăn giữa hai nhà do hai bên cùng chịu. Không bên nào phải hoàn tiền chênh lệch cho bên nào.

Ông Võ Văn T­ư và bà Phạm Thị Xuân Duyên giao trả lại cho ông Nguyễn Văn Bảy, bà Nguyễn Thị Hoá phần nhà sau khi đo đạc chia còn d­ư ra để thuộc quyền sở hữu của ông Bảy, bà Hoá.

Phần nhà còn lại thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Văn Bảy, bà Nguyễn Thị Hoá và ông Nguyễn Văn Nhung.

3. Ông Võ Văn Tư và bà Phạm Thị Xuân Duyên có trách nhiệm đến cơ quan có thẩm quyền để hợp thức hoá sử dụng đất ở phần nhà đã đ­ược giao sở hữu.

4. Huỷ bỏ các tờ di chúc, giấy uỷ quyền nhà do ông Nguyễn Văn Bảy lập vào các ngày 12-8-1993, 17-4-2001 và ngày 24-02-2003.

5. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật.

Ngoài ra, Toà án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí.

Tại Quyết định số 609/QĐĐC ngày 24-11-2004, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh quyết định đính chính bổ sung đối với quyết định của bản án phúc thẩm như­­­ sau: “Ông Võ Văn Tư và bà Phạm Thị Xuân Duyên được nhận sở hữu phần nhà tính từ ngoài đường nhìn vào phía trái nhà 54/1. Tính từ vách tường nhà ông Mười Lý về phía nhà ông Bảy đo ra 4,7m (phía tr­ước), 4,55m (phía sau) và sâu phía trong là 12,7m và phần diện tích nhà phía sau nhà của ông Mư­ời Lý có diện tích là 2,2m x 6,7m tính từ tầng trệt lên gác gỗ ở phía trên vách ngăn giữa hai nhà do hai bên cùng chịu. Không bên nào phải hoàn tiền chênh lệch cho bên nào”.

Sau khi xét xử phúc thẩm, ông Nguyễn Văn Bảy, bà Nguyễn Thị Hoá, chị Nguyễn Thị Hui (đ­ược ông Bảy uỷ quyền) khiếu nại với nội dung:

- Việc xác định bà T­­ư có di chúc miệng là không đúng, nay vì tôn trọng ý nguyện của bà Tư­­­ nên đồng ý cho anh T­­ư 1/3 căn nhà của bà Tư­­ bằng giá trị tương đương 13.094.389 đồng (theo biên bản định giá ngày 09-3-2004).

-  Việc công nhận 1/3 căn nhà số 54/1 đường Trần H­ưng Đạo là di sản của bà Tư­­, đồng thời giao cho vợ chồng anh Tư­­ sở hữu, sử dụng toàn bộ nhà, đất mua năm 1970 là không đúng pháp luật.

-  Quyết định đính chính của Toà án cấp phúc thẩm là không đúng pháp luật, ảnh h­ưởng đến quyền lợi của đương sự.

Tại Quyết định số 12/2007/DS-KN ngày 09-02-2007, Chánh án Toà án nhân dân tối cao kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm số 233/DSPT ngày 30-7-2004 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm huỷ bản án dân sự phúc thẩm số 233/DSPT ngày 30-07-2004 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và huỷ bản án dân sự sơ thẩm số 11/DSST ngày 19-04-2004 của Toà án nhân dân thành phố Cần Thơ; giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật, với nhận định:

Nguồn gốc nhà, đất đang có tranh chấp gồm hai phần:

Phần thứ nhất: năm 1952, vợ chồng ông Nguyễn Văn Bảy và bà Nguyễn Thị Hoá xây dựng nhà trên phần đất thuê của ông Bùi Quang Đạo; sau đó, bà Hoá bỏ sang Campuchia sinh sống, còn ông Bảy chung sống với bà Nguyễn Thị T­ư tại nhà, đất nêu trên.

Phần thứ hai: năm 1970, bà Tư­ đứng tên mua căn nhà của bà Trần Thị Hay liền kề với căn nhà mà ông Bảy, bà Hoá xây dựng; căn nhà mới mua này được xây trên phần đất thuê của ông Bùi Quang Vạng.

Hiện tại cả hai phần nhà cùng mang chung số 54/1 đường Trần Hưng Đạo, phường Châu Văn Liêm, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ. 

Như vậy, tài sản chung của ông Bảy, bà Hóa là nhà, đất tạo dựng năm 1952. Khi ông Bảy chung sống với bà Tư­­ thì phần tài sản của ông Bảy là 1/2 nhà, đất nêu trên đ­ược nhập vào khối tài sản chung của ông Bảy và bà Tư­­ (theo Điều 15 Luật hôn nhân và gia đình năm 1959); nên tài sản chung của ông Bảy, bà Tư­­ bao gồm 1/2 giá trị nhà, đất do ông Bảy, bà Hoá tạo lập năm 1952 và toàn bộ giá trị nhà, đất do ông Bảy, bà Tư tạo lập năm 1970.

Năm 1962, bà Tư­ nhận anh Võ Văn Tư là cháu ruột về nuôi (khi đó anh Tư mới được 10 tháng tuổi). Năm 1992, bà Tư­­ chết. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Võ Văn Tư khai: trước khi chết bà Tư có di chúc miệng cho anh thừa kế phần nhà, đất của bà Tư tạo lập năm 1970; còn ông Bảy và anh Nguyễn Văn Nhung (con của ông Bảy) thừa nhận: trư­ớc khi chết bà Tư có ý nguyện để lại tài sản là một phần căn nhà số 54/1 đ­ường Trần Hưng Đạo cho anh T­ư. Tại tờ di chúc lập ngày 12-8-1993, ông Bảy xác nhận: “Tr­ước khi chết vợ tôi Nguyễn Thị Tư­ có trăn trối cho cháu trai của bà là Võ Văn Tư­­ , 31 tuổi (nuôi từ bé) một phần căn nhà đứng ngoài nhìn vào phía bên trái (sát vách nhà ông M­ười Lý) được hưởng phần căn nhà đó”. Vì vậy, có căn cứ xác định bà Tư­­ có di chúc miệng để anh T­ư hưởng thừa kế phần nhà, đất tạo lập năm 1970. Tuy nhiên, di chúc của bà Tư­ chỉ hợp pháp đối với phần tài sản mà bà Tư­ có quyền sở hữu, sử dụng là 1/2 giá trị nhà, đất do ông Bảy, bà Tư­ tạo lập năm 1970. Toà án cấp phúc thẩm không xác định cụ thể giá trị, hiện trạng và diện tích nhà, đất do ông Bảy, bà Tư­ tạo lập năm 1970, đồng thời phân chia cho anh T­ư được hưởng 1/3 nhà, đất tại số 54/1 đường Trần Hưng Đạo tương đương với toàn bộ nhà, đất do ông Bảy, bà T­ư tạo lập năm 1970 là không đúng pháp luật.

Ngoài ra, anh Tư  yêu cầu Toà án xác định anh là con nuôi của ông Bảy, bà Tư vì cho rằng anh đã sống cùng ông Bảy, bà Tư từ nhỏ, đồng thời anh T­ư xuất trình được sổ hộ khẩu có ghi anh Tư­ là con của ông Bảy, bà Tư­. Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm chưa xác minh làm rõ quan hệ giữa ông Bảy, bà Tư với anh Tư nhưng lại xác định anh Tư không phải là con nuôi của ông Bảy, bà T­ư là chưa đủ cơ sở chắc chắn.

Trong quá trình giải quyết vụ án, tuy bà Hoá có lập giấy uỷ quyền cho cho chị Nguyễn Thị Hui đ­­ược sở hữu, sử dụng nhà, đất nhưng lại không uỷ quyền cho chị Hui tham gia tố tụng; vì vậy, việc Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm không đưa bà Hoá tham gia tố tụng với t­ư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là vi phạm thủ tục tố tụng. Mặt khác, việc Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định số 609/QĐĐC ngày 24-11-2004 đính chính, bổ sung quyết định của Bản án phúc thẩm là không đúng theo quy định tại Điều 55 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, vì nội dung đính chính, bổ sung không thuộc trường hợp “...có sai sót rõ ràng về số liệu vì tính toán sai”.

Vì vậy, cần hủy bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm để giải quyết lại vụ án từ giai đoạn sơ thẩm (khi giải quyết lại, Tòa án các cấp cần xem xét cả về thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia thừa kế).

Tại phiên toà giám đốc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao chấp nhận kháng nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao, huỷ bản án dân sự phúc thẩm số 233/DSPT ngày 30-07-2004 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và huỷ bản án dân sự sơ thẩm số 11/DSST ngày 19-04-2004 của Toà án nhân dân thành phố Cần Thơ; giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

XÉT THẤY

Nguồn gốc nhà, đất đang có tranh chấp tại số 54/1 đường Trần Hưng Đạo, phường Châu Văn Liêm, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ gồm hai phần, phần thứ nhất: do ông Nguyễn Văn Bảy và bà Nguyễn Thị Hoá tạo dựng năm 1952; phần thứ hai: do ông Bảy và bà Nguyễn Thị Tư­  tạo dựng năm 1970. Khi giải quyết vụ án, Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm không xác định cụ thể giá trị, hiện trạng và diện tích của từng phần nhà, đất để từ đó xác định chính xác phần tài sản của ông Bảy, bà Hoá, bà Tư trong khối tài sản nêu trên làm cơ sở cho việc giải quyết đúng vụ án là chưa thu thập đầy đủ chứng cứ.

Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Võ Văn Tư cho rằng: trước khi chết bà Tư có di chúc miệng cho anh thừa kế phần nhà, đất của bà Tư tạo lập năm 1970; còn ông Bảy và anh Nguyễn Văn Nhung (con của ông Bảy) thừa nhận: trư­ớc khi chết bà Tư có ý nguyện để lại tài sản là một phần căn nhà số 54/1 đường Trần Hưng Đạo cho anh T­ư. Tại tờ di chúc lập ngày 12-8-1993, ông Bảy xác nhận: “Tr­ước khi chết vợ tôi Nguyễn Thị Tư­ có trăn trối cho cháu trai của bà là Võ Văn Tư­­ , 31 tuổi (nuôi từ bé) một phần căn nhà đứng ngoài nhìn vào phía bên trái (sát vách nhà ông M­ười Lý) được hưởng phần căn nhà đó”. Như vậy, có căn cứ xác định bà Tư­­ đã định đoạt cho anh Tư phần tài sản mà bà Tư­ có quyền sở hữu, sử dụng trong nhà, đất do ông Bảy, bà Tư­ tạo lập năm 1970. Tuy nhiên, khi giải quyết lại vụ án cũng cần phải xác định rõ quan hệ pháp luật trong việc định đoạt tài sản nêu trên là quan hệ cho tặng tài sản hay là quan hệ thừa kế tài sản theo di chúc. Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm chưa xác định rõ quan hệ tranh chấp, nhưng đã giải quyết vụ án là chưa đủ căn cứ vững chắc. 

Thực tế, năm 1962, bà Tư­ nhận anh Võ Văn Tư là cháu ruột về nuôi (khi đó anh Tư mới được 10 tháng tuổi). Anh Tư  yêu cầu Toà án xác định anh là con nuôi của ông Bảy, bà Tư vì cho rằng anh đã sống cùng ông Bảy, bà Tư từ nhỏ, đồng thời anh T­ư xuất trình được sổ hộ khẩu có ghi anh Tư­ là con của ông Bảy, bà Tư­. Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm chưa xác minh làm rõ quan hệ giữa ông Bảy, bà Tư với anh Tư nhưng lại xác định anh Tư không phải là con nuôi của ông Bảy, bà T­ư là chưa đủ cơ sở chắc chắn.

Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ án, việc Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm không đưa bà Hoá tham gia tố tụng với t­ư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, bởi lẽ tuy bà Hoá có lập giấy uỷ quyền cho chị Nguyễn Thị Hui đ­­ược sở hữu, sử dụng nhà, đất nhưng bà Hoá lại không uỷ quyền cho chị Hui tham gia tố tụng. Mặt khác, việc Toà án cấp phúc thẩm có Quyết định số 609/QĐĐC ngày 24-11-2004 đính chính, bổ sung quyết định của Bản án phúc thẩm là không đúng theo quy định tại Điều 55 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, vì nội dung đính chính, bổ sung không thuộc trường hợp “...có sai sót rõ ràng về số liệu vì tính toán sai”.

Vì các lẽ trên, căn cứ vào khoản 3 Điều 291; khoản 3 Điều 297; khoản 1 và 3 Điều 299 của Bộ luật tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH

1. Huỷ bản án dân sự phúc thẩm số 233/DSPT ngày 30-07-2004 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh (đã được đính chính bổ sung theo Quyết định số 609/QĐĐC ngày 24-11-2004 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh) và huỷ bản án dân sự sơ thẩm số 11/DSST ngày 19-04-2004 của Toà án nhân dân thành phố Cần Thơ;

2. Giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân thành phố Cần Thơ giải quyết, xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Lý do bản án phúc thẩm và bản án sơ thẩm bị hủy:

Nguồn gốc tài sản đang tranh chấp có hai phần nhưng Tòa án không xác định rõ từng phần tài sản; các Tòa án cũng chưa xác định rõ quan hệ pháp luật đang tranh chấp là tặng cho tài sản hay thừa kế tài sản theo di chúc; ngoài ra các Tòa án đã không đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng.


189
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 11/2007/DS-GĐT ngày 05/04/2007 về vụ án tranh chấp quyền sở hữu tài sản và tranh chấp thừa kế tài sản

Số hiệu:11/2007/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 05/04/2007
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về