Quyết định giám đốc thẩm 102/2013/DS-GĐT ngày 14/08/2013 về tranh chấp hợp đồng gửi giữ tài sản giữa nguyên đơn ông Lê Văn Dũng và bị đơn bà Nguyễn Thị Thùy Mỹ

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 102/2013/DS-GĐT NGÀY 14/08/2013 VỀ VỤ ÁN DÂN SỰ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG GỬI GIỮ TÀI SẢN GIỮA NGUYÊN ĐƠN ÔNG LÊ VĂN DŨNG VÀ BỊ ĐƠN BÀ NGUYỄN THỊ THÙY MỸ 

Ngày 14/8/2013, tại trụ sở Toà án nhân dân tối cao mở phiên toà giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng gửi giữ tài sản” giữa các đương sự là:

Nguyên đơn: Ông Lê Văn Dũng sinh năm 1955; trú tại: tổ dân phố phường An Lạc, thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lăk;

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thuỳ Mỹ sinh năm 1961; trú tại: 268 Trần Hưng Đạo, thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lăk;

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hoàng Trọng Như Sơn sinh nám 1957; trú tại: 268 Trần Hưng Đạo, thị xã Buồn Hồ, tỉnh Đăk Lăk.

NHẬN THẤY

Tại đơn khởi kiện ngày 09/5/2008 và quá trình tố tụng, nguyên đơn là ông Lê Văn Dũng trình bày:

Vào ngày 07/02/2001, ông có gửi đại lý của bà Nguyễn Thị Thùy Mỹ 3.225kg cà phê nhân xô, bà Mỹ có ghi giấy nhận cà phê và đưa cho ông giữ để làm tin. Hai bên thoả thuận khi nào giá cà phê lên thì chốt giá lấy tiền. Theo thoả thuận trên, tháng 4/2007 giá cà phê lên 9.700đ/kg thì ông điện thoại cho bà Mỹ chốt giá là 9.700đ/kg, quy thành tiền là 31.285.000đ, nhưng bà Mỹ khất lần mãi không trả. Vì vậy, ông khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng bà Mỹ, ông Sơn phải trả cho ông số cà phê đã gửi hay thanh toán tiền cà phê theo giá hiện hành hoặc trả tiền cà phê như tại thời điểm chốt giá và tiền lãi phát sinh.

Bị đơn là bà Nguyễn Thị Thuỳ Mỹ và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Hoàng Trọng Như Sơn (chồng của bà Mỹ do bà Mỹ đại diện theo uỷ quyền) trình bày:

Vào năm 2001 và năm 2002 cà phê hạ giá, bà có nợ ông Lê Văn Dũng 3.225kg cà phê nhân. Do gặp khó khăn về kinh tế, bà thỏa thuận trả nợ cho Dũng băng cà phê hoặc bằng tiền theo giá tại thời điểm đó, nhưng khi nào bà bán đất được thì sẽ thanh toán một lần luôn. Khi giá cà phê lên 9.700đ/kg thì ông Dũng gọi điện thoại và sai con gái mang giấy gửi cà phê đến nhà bà yêu cầu bà chốt giá 9.700đ/kg. Khi chốt giá, bà không có tiền nên đề nghị ông Dũng lấy đất để trừ nợ, nhưng ông Dũng không đồng ý, ông Dũng chỉ yêu cầu chốt giá 9.700đ/kg và khi nào có tiền thì trả cho ông Dũng. Vì đã chốt giá cà phê rồi, nên nếu cà phê có xuống hoặc lên giá thì bà chỉ trả 31.285.000đ. Nay ông Dũng khởi kiện, bà chấp nhận trả cho ông Dũng cà phê theo giá đã chốt 9.700đ/kg và lãi phát sinh.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 02/2009/DSST ngày 01/10/2009, Toà án nhân dân tỉnh Đăk Lăk quyết định:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn Dũng.

Buộc bà Nguyễn Thị Thuỳ Mỹ và ông Hoàng Trọng Như Sơn phải trả cho ông Lê Văn Dũng 31.285.000đ tiền gốc chốt giá bán cà phê gửi giữ và 23.380.000đ tiền bồi thường thiệt hai do chậm trả tiền. Tổng cộng là 54.665.000đ.

Ngày 14/10/2009, bị đơn là bà Mỹ có đơn kháng cáo yêu cầu xem xét lại toàn bộ án sơ thẩm.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 22/2010/DSPT ngày 11/3/2010, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng đã quyết định:

Sửa một phần bản án sơ thẩm về phương thức thanh toán của các đương sự.

Buộc bà Nguyễn Thị Thuỳ Mỹ và ông Hoàng Trọng Như Sơn phải trả cho ông Lê Văn Dũng 3.225kg cà phê nhân xô. Trong trường hợp bà Mỹ và ông Sơn không có khả năng trả bằng cà phê thì phải trả bằng tiền theo giả tại thời điểm thi hành án.

Ngày 12/4/2010, bà Mỹ, ông Sơn có đơn khiếu nại.

Tại Công văn số 97/2010/CV-TA ngày 11/5/2010, Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk kiến nghị Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án phúc thẩm trên.

Tại Quyết định số 43/2013/KN-DS ngày 25/01/2013, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm số 22/2010/DSPT ngày 11/3/2010 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng; đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm; hủy bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và bản án sơ thẩm số 02/2009/DSST ngày 01/10/2009 của Toà án nhân dân tỉnh Đăk Lăk; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí với kháng nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao.

XÉT THẤY

Ngày 07/02/2001, ông Lê Văn Dũng gửi đại lý của bà Nguyễn Thị Thùy Mỹ 3.225kg cà phê nhân xô, bà Mỹ có viết giấy biên nhận đưa cho ông Dũng. Khoảng tháng 7/2004, khi giá cà phê là 9.700đ/kg thì ông Dũng gọi điện thoại cho bà Mỹ chốt giá, quy thành tiền là 31.282.500đ. Do bà Mỹ không trả tiền nên ông Dũng khởi kiện yêu cầu vợ chồng bà Mỹ, ông Sơn phải trả cho ông số cà phê đã gửi hay thanh toán tiền cà phê theo giá hiện hành hoặc trả tiền cà phê như tại thời điểm chốt giá và tiền lãi phát sinh.

Tại biên bản hòa giải ngày 18/5/2009, ông Dũng và bà Mỹ thống nhất bà Mỹ sẽ trả tiền cà phê như khi chốt giá 9.700đ/lkg là 31.285.000đ, nhưng ông Dũng yêu cầu bà Mỹ thanh toán tiền lãi từ tháng 5 năm 2009, còn bà Mỹ chỉ đồng ý thanh toán tiền lãi từ tháng 12 năm 2009. Tòa án cấp sơ thẩm xác định giá cà phê ngày xét xử sơ thẩm là 24.200đ/lkg, thành tiền là 78.045.000đ. Do hai bên cùng có lỗi như nhau nên mỗi bên phải chịu 50% thiệt hại xảy ra nên vợ chồng bà Mỹ phải trả cho ông Dũng tổng cộng là 54.665.000đ. Còn Tòa án cấp phúc thẩm buộc vợ chồng bà Mỹ phải trả cho ông Dũng 3.225kg cà phê, nếu vợ chồng bà Mỹ không có khả năng trả bằng cà phê thi phải trả bằng tiền theo giá tại thời điểm thi hành án. Lẽ ra, Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm buộc vợ chồng bà Mỹ phải trả ông Dũng 31.285.000đ và tính lãi từ thời điểm ông Dũng có yêu cầu đòi tiền mới đúng.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 14/10/2009, bà Mỹ có đơn kháng cáo yêu cầu xem xét lại toàn bộ án sơ thẩm. Quá trình xét xử phúc thẩm, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2, nhưng bà Mỹ và ông Sơn đều vắng mặt không có lý do. Lẽ ra, Tòa án cấp phúc thẩm phải ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm, bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật, nhưng Tòa án cấp phúc thẩm lại xét xử vắng mặt bị đơn (người kháng cáo) là vi phạm thủ tục tố tụng theo khoản 2 Đieu 266 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Vì các lẽ trên, căn cứ khoản 3 Điều 297 và Điều 299 của Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011,

QUYẾT ĐỊNH

1. Hủy toàn bộ bản án dân sự phúc thẩm số 22/2010/DSPT ngày 11/3/2010 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng về vụ án “Tranh chấp hợp đồng gửi giữ tài sản” giữa nguyên đơn là ông Lê Văn Dũng với bị đơn là bà Nguyễn Thị Thùy Mỹ; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Hoàng Trọng Như Sơn.

2. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.


143
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 102/2013/DS-GĐT ngày 14/08/2013 về tranh chấp hợp đồng gửi giữ tài sản giữa nguyên đơn ông Lê Văn Dũng và bị đơn bà Nguyễn Thị Thùy Mỹ

Số hiệu:102/2013/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:14/08/2013
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về