Quyết định 03/2003/HĐTP-DS ngày 25/02/2003 về vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán nhà, đất

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH 03/2003/HĐTP-DS NGÀY 25/02/2003 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN NHÀ, ĐẤT

Tại phiên toà ngày 25-02-2003 xét xử giám đốc thẩm vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán nhà, đất giữa các đương sự:

Nguyên đơn: 1. Ông Nguyễn Phi Long, sinh năm 1956.

                       2. Bà Ngô Thị Bé Ba, sinh năm 1957.

Cùng trú tại số 2/1A Ấp 3, xã Tân Thới Hiệp, huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Nguyễn Tôn Văn, sinh năm 1951

Trú tại số 143A/6 Xô Viết Nghệ Tĩnh, phường 25, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh, hiện đang bị tạm giam.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Thái Văn Tuấn, sinh năm 1958, hiện đang bị tạm giam tại trại giam T16.

2. Bà Nguyễn Thị Hiếu, sinh năm 1955; trú tại số 718F Hùng Vương, phường 13, quận 6, thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN THẤY

Ngày 07 tháng 09 năm 1994, ông Nguyễn Phi Long và ông Nguyễn Tôn Văn ký hợp đồng bán nhà, đất tại số 2/1A Ấp 3, xã Tân Thới Hiệp, huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh, có diện tích 9.500m2 (trong đó có 9300mđất nông nghiệp và 200m2 đất thổ cư). Trên đất thổ cư có căn nhà cấp 3, diện tích 460m(gồm một trệt, một lầu) và các công trình phụ, dẫy nhà kho và chuồng heo. Căn nhà hợp thức hoá mang tên ông Long, giá 850 cây vàng.

Tại Điều 2, hợp đồng có ghi: Ông Long chịu trách nhiệm hoàn tất thủ tục sang tên để ông Văn đứng tên, đến Uỷ ban nhân dân xã Tân Thới Hiệp và Uỷ ban nhân dân huyện Hóc Môn đồng thời chuyển xuống kiến trúc sư trưởng thành phố, khi ra phiếu chuyển thì ông Long không chịu trách nhiệm về phần mua bán. Ông Văn phải chịu trách nhiệm đóng tiền chuyển mục đích sử dụng và trước bạ đất.

Khi có phiếu chuyển, ông Văn phải giao cho vợ chồng ông Long 100 cây vàng SJC. Sau khi chuyển phần đất cho ông Văn tại xã thì ông Văn có trách nhiệm giao 100 cây vàng SJC và trừ vào 100.000.000 đồng tiền mặt đã ứng trước và tiến hành uỷ quyền căn nhà cấp 3 theo hiện trạng 2/1A, Ấp 3, xã Tân Thới Hiệp, huyện Hóc Môn. Sau 90 ngày, ông Long tiến hành xong các thủ tục sang tên cho ông Văn, ông Văn phải thanh toán số tiền còn lại là 650 cây vàng SJC. Nếu các bên không thực hiện đầy đủ các điều kiện trong hợp đồng thì bị phạt cọc theo quy định pháp luật.

Thực hiện hợp đồng, ngày 20-09-1994, Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại Quốc Bình (TNHHTM) do ông Văn làm Giám đốc có công văn đề nghị Uỷ ban nhân dân huyện Hóc Môn chấp thuận cho Công ty chuyển nhượng lô đất 499, 505, 506 tại xã Tân Thới Hiệp (theo hợp đồng ngày 07-09-1994). Ngày 23-09-1994, Uỷ ban nhân dân huyện Hóc Môn chuyển công văn này cho Văn phòng kiến trúc sư trưởng.

Tại Công văn số 4195/UB-QLĐT ngày 21-10-1994, Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh chấp thuận cho Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại Quốc Bình được sử dụng khu đất tại 2/1A, Ấp 3, xã Tân Thới Hiệp, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 16-11-1994, phiếu chuyển của Văn phòng kiến trúc sư trưởng thành phố Hồ Chí Minh gửi Sở Địa chính, để Sở Địa chính phối hợp cắm mốc ranh giới khu đất tại 2/1A, Ấp 3, xã Tân Thới Hiệp, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh cho Công ty TNHHTM Quốc Bình. Ngày 08-12-1994, các cơ quan chức năng bao gồm: Đại diện Sở Địa chính, Văn phòng kiến trúc sư trưởng, UBND huyện Hóc Môn, UBND xã Tân Thới Hiệp tiến hành cắm mốc, xác định ranh giới khu đất, tại 2/1A, Ấp 3, xã Tân Thới Hiệp, huyện Hóc Môn cho Công ty TNHHTM Quốc Bình.

Tại Quyết định số 3759/QĐ-UB-QLĐT ngày 24-05-1995, Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh công nhận quyền sử dụng đất tại 2/1A, Ấp 3, xã Tân Thới Hiệp, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh, với diện tích 4157mcho Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại Quốc Bình.

Phía ông Văn đã giao vàng cho ông Long nhiều đợt, tính đến ngày 18-10-1994, ông Long đã nhận tổng số là 260 lượng vàng SJC và tính đến ngày 20-07-1995ông Long đã nhận tổng số là 356,6 lượng vàng SJC.

Do ông Văn không tiếp tục giao đủ số vàng 850 lượng như cam kết trong hợp đồng ngày 07-09-1994, nên ông Long có đơn đề nghị huỷ hợp đồng và buộc ông Văn phải bồi thường thiệt hại.

Ngày 31-08-1995, Toà án nhân dân huyện Hóc Môn lập biên bản hoà giải thành, giữa ông Long cùng vợ là bà Bé Ba và ông Văn, hai bên cùng thống nhất một số nội dung sau:

Huỷ hợp đồng mua bán nhà đất ngày 07-09-1994; vợ chồng ông Long trả tiền cọc cho ông Văn 356 cây vàng SJC. Sau khi nhận tiền cọc hoàn tất, ông Văn có trách nhiệm giao trả toàn bộ hồ sơ nhà cho ông Long. Hạn chót giao nhận là ngày 30-11-1995, không lý do gì để gia hạn thêm.

Trong quá trình chờ thực hiện trả tiền cọc, nếu bên ông Long có thoả thuận thuê mướn, mua bán đối với các đương sự khác, phải báo cho ông Văn biết và có sự chấp thuận.

Ngày 15-09-1995, Toà án nhân dân huyện Hóc Môn ra Quyết định số 102/QĐ-HGT, công nhận sự thoả thuận nêu trên. Sau hơn 6 tháng kể từ ngày ra quyết định công nhận hoà giải thành, ngày 08-04-1996, bà Bé Ba vợ của ông Long có đơn khiếu nại với nội dung: Do Toà án nhân dân không đưa bà vào tham gia chính thức tố tụng nên đã gây thiệt hại cho bà rất nhiều. Tại Toà án, chồng bà đồng ý huỷ hợp đồng, mà không có sự đồng ý của bà.

Tại Quyết định số 05/KNGĐ ngày 30-05-1996, Chánh án Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị Quyết định hoà giải số 102/QĐ-HGT ngày 15-09-1995 của Toà án nhân dân huyện Hóc Môn.

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 12/GĐ-DS ngày 29-07-1996, Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Huỷ quyết định hoà giải thành nêu trên; giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh thụ lý xét xử lại từ sơ thẩm.

Trong thời gian đang có kháng nghị của Chánh án Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, ngày 04-07-1996, vợ chồng ông Long bán nhà, đất tại 2/1A, Ấp 3, xã Tân Thới Hiệp, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh cho ông Thái Văn Tuấn và vợ là bà Nguyễn Thị Hiếu với giá 6.000.000.000 đồng. Vợ chồng ông Tuấn đã giao cho vợ chồng ông Long 2.900.000.000 đồng.

Do vợ chồng ông Long bán nhà, đất cho 2 chủ, nên ông Tuấn đề nghị Cơ quan điều tra giải quyết và vợ chồng ông Long bị Công an Thành phố Hồ Chí Minh khởi tố vụ án hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân, bắt tạm giam ông Long, bà Bé Ba.

Tại Quyết định số 21/DSST ngày 22-03-1996, Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tạm đình chỉ giải quyết vụ án chờ kết quả của vụ án hình sự.

Đang trong quá trình điều tra, ngày 12-05-1997, tại Phòng cảnh sát điều tra Công an thành phố Hồ Chí Minh, ông Long, bà Bé Ba, ông Tuấn, ông Văn có biên bản thoả thuận, với nội dung: Ông Tuấn mua nhà, đất tại 2/1A, Ấp 3, xã Tân Thới Hiệp, huyện Hóc Môn, TP Hồ Chí Minh của vợ chồng ông Long giá 5.070.000.000 đồng. Ông Tuấn đã giao cho vợ chồng ông Long 2.900.000.000 đồng theo hợp đồng ngày 04-07-1996, ông Tuấn giao tiếp số tiền 2.170.000.000 đồng cho ông Văn (bao gồm 356 lượng vàng và số tiền lãi của 356 lượng vàng là 370.000.000 đồng).

Tại Quyết định số 93 ngày 24-03-1998, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh quyết định đình chỉ điều tra đối với ông Nguyễn Phi Long và Ngô Thị Bé Ba, vì cho rằng, trong quá trình điều tra, vợ chồng ông Long đã khắc phục được thiệt hại, tức là hoàn trả lại đầy đủ trị giá tiền, vàng cho ông Văn, ông Tuấn.

Ngày 13-04-1999, vợ chồng ông Long có đơn yêu cầu Toà án tiếp tục giải quyết vụ án.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 44/DSST ngày 08-01-2001, Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

Xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

1/ Huỷ hợp đồng mua bán nhà, đất tại 2/1A, Ấp 3, xã Tân Thới Hiệp, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là ấp 3 phường Thới An, Quận 12).

2/ Bác yêu cầu của ông Nguyễn Tôn Văn đòi tiếp tục thực hiện hợp đồng mua bán nhà ngày 07-09-1994, đồng thời, bác yêu cầu của ông Văn đòi phía vợ chồng ông Long phải trả lại 356 lượng vàng SJC về việc mua bán căn nhà trên.

3/ Huỷ hợp đồng mua bán nhà ngày 26-10-1996 giữa vợ chồng ông Nguyễn Phi Long và vợ Ngô Thị Bé Ba với ông Thái Văn Tuấn và bà Nguyễn Thị Hiếu tại 2/1A, Ấp 3, xã Tân Thới Hiệp, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là ấp 3 phường Thới An, Quận 12).

4/ Buộc vợ chồng ông Nguyễn Phi Long và vợ Ngô Thị Bé Ba hoàn trả cho ông Thái Văn Tuấn và bà Nguyễn Thị Hiếu 2.900.000.000 đồng (hai tỷ chín trăm triệu đồng) đã nhận trong việc mua bán căn nhà trên.

Kể từ ngày ông Tuấn, bà Hiếu có đơn xin thi hành án, nếu bà Bé Ba và ông Long chưa thanh toán số tiền trên thì hàng tháng, ông, bà còn phải trả thêm lãi theo mức lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian thi hành án.

5/ Buộc ông Thái Văn Tuấn và bà Nguyễn Thị Hiếu cùng gia đình có trách nhiệm giao trả lại toàn bộ căn nhà và đất tại 2/1A, Ấp 3, xã Tân Thới Hiệp, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là ấp 3 phường Thới An, Quận 12) cho ông Nguyễn Phi Long và vợ Ngô Thị Bé Ba.

6/ Buộc ông Thái Văn Tuấn và bà Nguyễn Thị Hiếu có trách nhiệm giao trả toàn bộ giấy tờ nhà tại 2/1A, Ấp 3, xã Tân Thới Hiệp, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là ấp 3 phường Thới An, Quận 12) cho ông Nguyễn Phi Long và vợ Ngô Thị Bé Ba.

7/ Tiếp tục duy trì cho thi hành Quyết định số 41/QĐ-KBTA ngày 04-10-1999 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.

Việc giao nhận giấy tờ nhà, đất và tiền được tiến hành cùng một lúc, trong thời hạn 3 tháng ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Thi hành tại Phòng Thi hành án Thành phố Hồ Chí Minh

Án phí dân sự sơ thẩm bà Bé Ba và ông Long chịu 29.900.000 đồng được trừ vào số tiền tạm ứng 14.000.000 đồng theo biên lai thu số 125 ngày 15-06-1995 còn phải chịu 15.900.000 đồng; ông Văn chịu 28.708.800 đồng; ông Tuấn, bà Hiếu chịu 29.270.000 đồng.

Ngày 13-01-2001, ông Nguyễn Tôn Văn có đơn kháng cáo.

Ngày 12-0l-2001, ông Thái Văn Tuấn có đơn kháng cáo.

Tại Quyết định số 234/QĐ-KNDS ngày 22-01-2001, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị Bản án số 44/DSST ngày 08-01 - 2001 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.

Tại Bản án số 116/PTDS ngày 21-05-2001, Toà Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định: Y án sơ thẩm.

Ngày 29-05-2001, ông Tuấn có đơn khiếu nại.

Tại Công văn số 634 ngày 14-08-2001, Viện Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại thành phố Hồ Chí Minh kiến nghị Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị Bản án phúc thẩm số 116/PTDS ngày 21-05-2001 của Toà Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh.

Tại Quyết định số 75/KN-VKSTC-KSXXDS ngày 19-09-2002, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị Bản án phúc thẩm số 116/ PTDS ngày 21-05-2001 của Toà Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh nêu trên, đề nghị Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao xét xử giám đốc thẩm theo hướng huỷ Bản án sơ thẩm số 44/DSST ngày 08-01-2001 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và Bản án phúc thẩm số 116/PTDS ngày 21-05- 2001 của Toà Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh; Giao hồ sơ cho Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh điều tra xét xử sơ thẩm theo thủ tục chung.

XÉT THẤY

Tại Điều 2 hợp đồng mua bán ngày 07-09-1994 có ghi: Vợ chồng ông Long chịu trách nhiệm hoàn tất thủ tục sang tên nhà đất cho ông Văn, đến Uỷ ban nhân dân xã Tân Thới Hiệp và Uỷ ban nhân dân huyện Hóc Môn, đồng thời chuyển xuống kiến trúc sư trưởng thành phố, khi ra phiếu chuyển thì vợ chồng ông Long không còn trách nhiệm về phần mua bán. Sau 90 ngày, bên vợ chồng ông Long tiến hành xong các thủ tục sang tên cho ông Văn, tính đến ngày 14-01-1995 (ngày gia hạn hợp đồng) các bên phải hoàn thành nghĩa vụ nêu trong hợp đồng.

Thực tế ngày 16-11-1994, Văn phòng kiến trúc sư trưởng thành phố Hồ Chí Minh đã có phiếu chuyển cắm mốc gửi Sở Địa chính, để Sở Địa chính phối hợp cắm mốc ranh giới khu đất, tại 2/1A, Ấp 3, xã Tân Thới Hiệp, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh cho Công ty TNHHTM Quốc Bình và ngày 24-05-1995,Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định số 3759 giao đất cho Công ty TNHHTM Quốc Bình. Đối chiếu với cam kết trên thì tuy hoàn thành về thủ tục có chậm nhưng không phải do lỗi của ông Long. Do vậy, ông Long không vi phạm những cam kết trong hợp đồng. Trong khi đó, phía ông Văn tính đến ngày 14-01-1995 (ngày gia hạn hợp đồng), thì ông Văn mới giao cho vợ chồng ông Long được 260 lượng vàng, sau đó, ông Văn giao tiếp nhiều đợt, tính đến ngày 20-07-1995, thì tổng số vàng ông Văn đã giao cho ông Long 356,6 lượng vàng. Như vậy, phía ông Văn đã vi phạm cam kết trong hợp đồng ngày 07-09-1994 và bản cam kết ngày 14-10-1994, nên việc ông Long đề nghị huỷ hợp đồng mua bán nêu trên là hợp pháp. Theo cam kết của các bên, bên nào vi phạm thì phải chịu phạt cọc. Tuy nhiên, tại các lời khai của hai bên không thống nhất về khoản tiền đặt cọc, đồng thời không xuất trình được tài liệu chứng minh số tiền đặt cọc là bao nhiêu? Nếu căn cứ vào giấy biên nhận ngày 26-08-1994, thì số tiền đặt cọc ít nhất cũng là 100.000.000 đồng. Song, để có căn cứ chắc chắn kết luận về số tiền cọc thì cần xác minh làm rõ thêm.

Theo hợp đồng mua bán ngày 04-07-1996 thì vợ chồng ông Long bán cho vợ chồng ông Tuấn nhà, đất tại 2/1A, Ấp 3, xã Tân Thới Hiệp, với giá 6.000.000.000 đồng. Ông Tuấn đã giao cho vợ chồng ông Long 2.900.000.000 đồng và cam kết giữa vợ chồng ông Long, ông Tuấn, ông Văn tại cơ quan điều tra ngày 12-05-1997, về việc vợ chồng ông Long bán nhà, đất tại 2/1A, Ấp 3, xã Tân Thới Hiệp, huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh cho ông Tuấn, với giá 5.070.000.000 đồng. Trong khi đó, nhà, đất này đang có tranh chấp giữa vợ chồng ông Long và ông Văn, đang được Toà án nhân dân các cấp giải quyết.

Mặt khác, theo hợp đồng mua bán nhà, đất lập ngày 04-07-1996 thì giá 6.000.000.000 đồng, nhưng khi lập cam kết ngày 12-05-1997 thì giá nhà đất chỉ có 5.070.000.000đồng. Biên bản cam kết được lập sẵn theo ý ông Tuấn, ông Văn, còn vợ chồng ông Long lúc đó đang bị tạm giam muốn nhanh chóng để được ra tù. Vì vậy, Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm huỷ hợp đồng và cam kết nói trên và buộc vợ chồng ông Long trả cho vợ chồng ông Tuấn 2.900.000.000 đồng là đúng.

Theo ông Tuấn khai, sau khi ký hợp đồng mua bán ngày 04-07-1996, ông Tuấn đã giao cho vợ chồng ông Long 2.900.000.000 đồng, tiếp đó, thực hiện cam kết ngày 12-05- 1997, ông Tuấn giao tiếp cho ông Văn 2.170.000.000 đồng cho ông Văn qua Ngân hàng Nam Đô. Trong hồ sơ chỉ có 2 lời khai của ông Văn cho rằng, ông Tuấn đã chuyển cho ông số tiền này qua Ngân hàng Nam Đô. Tại Công văn số 634 ngày 14-08-2001 của Viện kiểm sát xét xử phúc thẩm tại thành phố Hồ Chí Minh thì có biên bản lập vào ngày 29-07-1997, với nội dung: ông Tuấn thế chấp cho Ngân hàng Nam Đô căn nhà tại 2/1A, Ấp 3, xã Tân Thới Hiệp, huyện Hóc Môn để đảm bảo số nợ 2. 170.000.000đồng thay cho ông Văn, nhưng trong hồ sơ không thấy có biên bản này. Toà án cấp sơ thẩm, Toà án cấp phúc thẩm chưa xác minh các tình tiết nói trên và chưa đề cập đến số tiền 2.170.000.000 đồng là chưa xem xét vụ án một cách toàn diện. Vì vậy, cần huỷ Bản án số 44/ DSST ngày 08-01-2001 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và Bản án phúc thẩm số 116/ DSPT ngày 21-05-2001 của Toà Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh, để điều tra, xét xử lại từ giai đoạn sơ thẩm theo hướng giải quyết đồng thời số tiền 2. 170.000.000đồng mà ông Tuấn đang khiếu nại và số tiền đặt cọc mà vợ chồng ông Long với ông Tuấn thoả thuận là bao nhiêu.

Bởi các lẽ trên và căn cứ vào khoản 4 Điều 77 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự,

QUYẾT ĐỊNH

1. Huỷ Bản án dân sự sơ thẩm số 44/DSST ngày 08-01-2001 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và Bản án phúc thẩm số 116/PTDS ngày 21-05-2001 của Toà Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh.

2. Giao hồ sơ vụ án trên cho Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh điều tra, xét xử sơ thẩm theo thủ tục chung.

Lý do Bản án sơ thẩm và Bản án phúc thẩm bị huỷ:

Trong vụ án cụ thể này, việc chấp nhận yêu cầu huỷ hợp đồng mua bán nhà, đất giữa vợ chồng ông Nguyễn Phi Long với ông Nguyễn Tôn Văn là có căn cứ. Tuy nhiên Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm đã không xác định rõ số tiền đặt cọc là bao nhiêu để Quyết định số tiền đặt cọc mà bên vi phạm hợp đồng phải chịu.

Các Toà án cũng chưa xác minh và chưa giải quyết số tiền 2.170.000.000 đồng mà ông Thái Văn Tuấn nêu đã chuyển cho ông Nguyễn Tôn Văn trong việc ông cam kết mua nhà của vợ chồng ông Nguyễn Phi Long là chưa giải quyết vụ án một cách toàn diện theo yêu cầu của các đương sự trong vụ án.


104
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định 03/2003/HĐTP-DS ngày 25/02/2003 về vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán nhà, đất

Số hiệu:03/2003/HĐTP-DS
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:25/02/2003
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về