Bản án 96/2017/HSST ngày 20/07/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

BẢN ÁN 96/2017/HSST NGÀY 20/07/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 20 tháng 7 năm 2017, tại Nhà văn hoá thôn P, xã M, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 104/2017/HSST ngày 29 tháng 6 năm 2017 đối với bị cáo:

Nguyễn Trọng T, sinh ngày 05/12/974 tại huyện L, Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn P, xã M, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 8/12; con ông Nguyễn Trọng M và con bà Hoàng Thị I (đều đã chết); bị cáo có vợ tên là Phùng Thị K, sinh năm 1984 hiện nay đang cư trú tại Thôn P, xã M, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; con: Chưa có; tiền sự: Không; tiền án: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/5/2017 cho đến nay; có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Trọng Đ, sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn P, xã M, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.

NHẬN THẤY

Bị cáo Nguyễn Trọng T bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Hồi 14 giờ 30 phút, ngày 23/5/2017, tại đường Ngô Thì V, phường T, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Tổ công tác Công an phường T, thành phố Lạng Sơn đã phát hiện bắt quả tang Nguyễn Trọng T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ gồm 01 gói nhỏ bên trong có chứa chất bột màu trắng, 01 lọ nước cất novocain và 01 xi lanh bơm kim tiêm, 01 xe mô tô biển kiểm soát 12PA-002.04.

Tại bản kết luận giám định số 198/KL-PC54 ngày 26/5/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất bột màu trắng gửi giám định là chất ma túy Heroine, có trọng lượng 0,128 gam (đã trừ bì).

Cáo trạng số 107/KSĐT ngày 28/6/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Trọng T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Trọng T thừa nhận: Bị cáo nghiện ma túy từ năm 2009, mặc dù đã được cai nghiện tại Trung tâm chữa bệnh xã hội tỉnh Lạng Sơn 02 năm nhưng thời gian gần đây bị cáo lại tái nghiện. Khoảng 14 giờ ngày 23/5/2017, bị cáo điều khiển xe máy biển kiểm soát 12PA - 00204 với mục đích tìm mua ma túy về sử dụng. Sau khi mua được 01 xi lanh kim tiêm và 01 lọ nước cất novocain tại hiệu thuốc trên đường Trần Đăng N, phường T, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn, bị cáo điều khiển xe máy đến khu vực đối diện cây xăng D, mua 01 gói ma túy Heroine với nam thanh niên tên H giá 200.000 đồng rồi đi đến khu vực thành nhà M, đường Ngô Thì V, phường T, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn để tìm chỗ sử dụng ma túy, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang. Bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật nhưng do bị bạn bè lôi kéo, dụ dỗ bị cáo đã không làm chủ được bản thân dẫn đến tái nghiện. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về cùng với gia đình.

Anh Nguyễn Trọng Đ trình bày: Thấy anh trai mình là Nguyễn Trọng T đi làm phu hồ mà không có phương tiện, nên cuối năm 2013 anh bỏ tiền ra mua xe máy cho anh T, để anh T có phương tiện đi lại mưu sinh. Do chưa tin tưởng anh T nên anh vẫn giữ toàn bộ giấy tờ đăng ký xe. Bản thân anh và gia đình không biết anh T tái nghiện. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại chiếc xe mô tô mà cơ quan Công an đã thu giữ cho anh.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn giữ nguyên nội dung quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 33 của Bộ luật hình sự 1999; khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249, của Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017Nghị quyết 41/2017/QH14, xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng T từ 15 tháng đến 18 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo vì bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, không có việc làm ổn định, không có tài sản. Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 76 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì đựng mẫu vật sau giám định; 01 xi lanh kim tiêm; 01 ống Novocain và trả lại anh Nguyễn Trọng Đ 01 xe mô tô biển kiểm soát 12PA- 002.04. Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY

Lời khai của bị cáo Nguyễn Trọng T tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên toà.

Như vậy, với hành vi mà bị cáo đã thực hiện, qua kết quả giám định, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nguyễn Trọng T phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma tuý " theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn truy tố bị cáo Nguyễn Trọng T là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Ma túy không chỉ là chất gây nghiện, có tác hại nghiêm trọng đến sức khỏe con người, tiêu tốn về kinh tế mà còn là nguyên nhân làm phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác. Hành vi phạm tội của bị cáo gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội trên cơ sở đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên toà hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo có bố là ông Nguyễn Trọng M và mẹ là bà Hoàng Thị I được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999.

Tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 quy định: Các điều khoản của Bộ luật hình sự 2015 xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng; quy định hình phạt nhẹ hơn… và các quy định khác có lợi cho người phạm tội thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng những quy định có lợi khi quyết định hình phạt đối với bị cáo. Tuy nhiên, việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định là cần thiết, có như vậy mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Do bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có thu nhập và tài sản nên việc áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo không có tính khả thi. Vì vậy, Hội đồng xét xử miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12A.002.04 là tài sản do anh Nguyễn Trọng Đ mua để tạo điều kiện cho bị cáo có phương tiện mưu sinh, đây không phải phương tiện chuyên dùng vào việc phạm tội. Vì vậy

việc trả lại chiếc xe mô tô nói trên cho anh Nguyễn Trọng Đ là hợp tình hợp lý.

Đối với phong bì niêm phong đựng mẫu vật sau giám định và 01 xi lanh kim tiêm, 01 lọ nước cất novocain, cần được tịch thu tiêu hủy.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ, phù hợp với pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử.

Đối với người đàn ông tên H, do bị cáo không biết danh tính và địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ nên không đề cập xử lý trong vụ án này.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định
của pháp luật.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trọng T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
2. Về hình phạt: 
Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999; Khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và Nghị quyết số 41/2017/QH14;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng T 16 (Mười sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ  ngày bắt tạm giữ 23/5/2017.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 41 của Bộ luật hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong đựng mẫu vật sau giám định, 01 kim tiêm xi lanh, 01 lọ nước cất novocain.

- Trả anh Nguyễn Trọng Đ 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12PA- 002.04.

(Các vật chứng nói trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, có đặc điểm như được mô tả trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/6/2017 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Lạng Sơn và Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Lạng Sơn).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Trọng T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, sung công quỹ Nhà nước.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự .


84
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về