Bản án 94/2019/HNGĐ-ST ngày 12/09/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình - ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH A 

BẢN ÁN 94/2019/HNGĐ-ST NGÀY 12/09/2019 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH - LY HÔN

Ngày 12 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh A xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 207/2019/TLST-HNGĐ ngày 10/5/2019 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình - ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 177/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 01/8/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 123/2019/QĐST-HNGĐ ngày 22/8/2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: ông Hồ Văn T, sinh năm 1980 (có mặt). Địa chỉ: ấp S, xã V, huyện T, tỉnh A.

2. Bị đơn: bà Trần Thị Tuyết M, sinh năm 1981 (vắng mặt). Địa chỉ: ấp S, xã V, huyện T, tỉnh A.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai ngày 26/6/2019 và tại phiên tòa nguyên đơn ông Hồ Văn T trình bày: ông T với bà Trần Thị Tuyết M tiến đến hôn nhân vào năm 2000, tuy không tổ chức lễ cưới nhưng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh A vào ngày 22/10/2003. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc và sinh được 03 con chung tên Hồ Thái B, sinh ngày 21/10/2001; Hồ Thái X, sinh ngày 30/8/2003 và Hồ Thị N, sinh ngày 29/6/2009.

Đến tháng 10 năm 2017, bà M nói là đi nuôi em dâu sinh con ở Bệnh viện và sau đó bỏ đi đâu không rõ. Mặc dù ông T đã nhiều lần đi tìm nhưng không gặp được bà M. Khoảng 04 tháng sau kể từ ngày bỏ đi, bà M có về nhà một lần. Ông T yêu cầu bà M quay về chung sống để lo cho gia đình và nuôi dạy con chung nhưng bà M không đồng ý mà lại bỏ đi luôn cho đến nay.

Quá trình chung sống, ông T và bà M không có tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nay mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể duy trì hôn nhân nên ông T yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: ông Hồ Văn T yêu cầu ly hôn với bà Trần Thị Tuyết M.

- Về quan hệ con chung: do các con đang sống chung với ông T nên ông yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 03 con chung, không yêu cầu bà M cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: không có.

Bị đơn bà Trần Thị Tuyết M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bà M.

Đi diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng và ý kiến việc giải quyết vụ án: Thẩm phán xác định đúng quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết. Quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, riêng bị đơn bà Trần Thị Tuyết M vắng mặt nên xem như từ bỏ quyền của mình. Ý kiến về việc giải quyết vụ án: qua xem xét toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Về hôn nhân: cho ông T được ly hôn với bà M;

- Về con chung: giao 03 con chung cho ông T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà M không cấp dưỡng nuôi con;

- Về tài sản chung và nợ chung: không đặt ra xem xét;

- Về án phí: ông T yêu cầu ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: đây là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình - ly hôn, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn bà Trần Thị Tuyết M đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp S, xã V, huyện T, tỉnh A , nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ bà Trần Thị Tuyết M đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa. Tuy nhiên, các lần triệu tập, bà M đều vắng mặt. Do vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bà M.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Về hôn nhân: ông Hồ Văn T với bà Trần Thị Tuyết M chung sống với nhau từ năm 2000. Tuy nhiên, đến năm 2003 ông T và bà M mới làm thủ tục đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh A cấp Giấy chứng nhận kết hôn số: 22, ngày 22/10/2003. Vì vậy, quan hệ hôn nhân của ông, bà phù hợp với quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật công nhận là vợ chồng.

[3.2] Xét, yêu cầu ly hôn của ông Hồ Văn T thấy rằng, ông T với bà M chung sống với nhau hạnh phúc thời gian đầu. Đến năm 2017 thì xảy ra mâu thuẫn, ông T cho rằng bà M tự ý bỏ nhà đi, từ đó không còn tình cảm vợ chồng và đã sống ly thân từ tháng 10 năm 2017 cho đến nay.

[3.3] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành xác minh về tình trạng hôn nhân của ông Tvà bà M. Qua xác minh, được chính quyền địa phương cung cấp như sau: ông Hồ Văn T và bà Trần Thị Tuyết M cùng cư ngụ tại ấp S, xã V, huyện T, tỉnh A. Mâu thuẫn giữa ông T và bà M như thế nào thì địa phương không rõ. Bà M đã không còn sống chung với ông T gần 03 năm nay. Được biết bà M đã có chồng và sinh con.

[3.4] Xét thấy, Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà Trần Thị Tuyết M, tạo điều kiện cho bà M và ông T hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tuy nhiên, bà M không đến tham gia các phiên hòa giải và cũng không có văn bản nào thể hiện nguyện vọng muốn được chung sống với ông T. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa ông T và bà M mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Văn T.

[4] Về quan hệ con chung: ông T và bà M có 03 con chung tên: Hồ Thái B, sinh ngày 21/10/2001; Hồ Thái X, sinh ngày 30/8/2003 và Hồ Thị N, sinh ngày 29/6/2009. Ông T yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu bà M cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, các cháu Bình, Xuyên và Ý đang sống ổn định với ông T. Đồng thời, tại biên bản ghi nguyện vọng của các cháu Bình, Xuyên và Ý ngày 25/6/2019 thì các cháu muốn được sống với ba. Do vậy, để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển bình thường về thể chất và tinh thần của các cháu, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu của ông T ; giao các cháu Bình, Xuyên và Ý cho ông T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ông T không yêu cầu bà M cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Ông T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở bà M trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: ông T xác định không có.

[6] Về án phí: do ông Hồ Văn T yêu cầu giải quyết ly hôn nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các điều 9, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 24 và khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Văn T.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: ông Hồ Văn T được ly hôn với bà Trần Thị Tuyết M.

Giấy chứng nhận kết hôn số 22, ngày 22/10/2003 của Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh A không còn giá trị pháp lý.

1.2. Về quan hệ con chung: ông T với bà M có 03 con chung tên Hồ Thái B, sinh ngày 21/10/2001; Hồ Thái X, sinh ngày 30/8/2003 và Hồ Thị N, sinh ngày 29/6/2009.

Giao các cháu Hồ Thái B, Hồ Thái X và Hồ Thị N cho ông Hồ Văn T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục (các cháu Bình, Xuyên, Ý đang sống chung với ông T). Bà Trần Thị Tuyết M không cấp dưỡng nuôi con.

Ông Hồ Văn T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở bà Trần Thị Tuyết M trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, của cơ quan có thẩm quyền thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

1.3. Về quan hệ tài sản: không có.

1.4. Về nợ chung: ghi nhận ông Hồ Văn T xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì ông T và bà M vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: ông Hồ Văn T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000187 ngày 10/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh A.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


23
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 94/2019/HNGĐ-ST ngày 12/09/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình - ly hôn

Số hiệu:94/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tân Châu - An Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 12/09/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về