Bản án 90/2018/HS-ST ngày 15/10/2018 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH 

BẢN ÁN 90/2018/HS-ST NGÀY 15/10/2018 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 15 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 93/2018/TLST – HS ngày 14 tháng 9 năm 2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2018/QĐXXST ngày 02 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo :

Khúc Ngọc T, sinh ngày 02 tháng 8 năm 1958

Nơi cư trú: Số nhà xx, khu a, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình

Nghề nghiệp: Lao động tự do ; Trình độ văn hóa : 7/10 ; Dân tộc: Kinh

Giới tính: Nam ; Tôn giáo : Không ; Quốc tịch: Việt Nam

Con ông Khúc Ngọc Đ, sinh năm 1930 con bà Lã Thị C ( đã chết )

Bị cáo có vợ là Trịnh Thị K, sinh năm 1962, bị cáo có 03, con lớn sinh năm 1982, con nhỏ sinh năm 1987

Tiền án: Không; Tiền sự: Không

Nhân thân: Còn nhỏ được gia đình nuôi cho ăn học hết lớp 7/10. Từ năm 1977 tham gia nghĩa vụ quân sự đóng quân tại vùng 4 quân chủng Hải quân, đến năm 1981 xuất ngũ về địa phương lao động tự do. Năm 1982, bị Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xử phạt 18 tháng tù về tội phá hủy công trình phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 56 ngày 21/5/2002 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xử phạt 5 năm tù về tội vận chuyển trái phép chất ma túy. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 79 ngày 31/7/2012 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xử phạt bị cáo 03 năm 06 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Đến ngày 19/5/2016 bị cáo chấp hành xong hình phạt về địa phương.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/6/2018 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh Thái Bình. ( Có mặt )

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Anh : Trần Huy T, sinh năm 1973 ( Vắng mặt ) Nơi cư trú: Số nhà XY, khu b, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình

Những người chứng kiến

Ông : Trần Thủy L, sinh năm 1954 ( Vắng mặt ) Nơi cư trú: Khu c, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình

Bà : Đào Thị R, sinh năm 1948  ( Vắng mặt )

Nơi cư trú : Khu d, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nghiện ma túy nên Khúc Ngọc T thường đi mua ma túy của nhiều người không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể về sử dụng. Ngày 07/6/2018, T bắt xe khách lên cầu Bo thuộc địa phận thành phố Thái Bình mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi, không biết tên, địa chỉ cụ thể 01 gói ma túy loại Hêrôin với giá 2.000.000 đồng, T mang ma túy về nhà lấy một ít ra sử dụng, số ma túy còn lại T lấy ra một ít gói thành gói nhỏ. Đến khoảng 10 giờ 20 phút ngày 08/6/2018 T đang ở nhà thì Trần Huy U gọi điện hỏi “ Anh còn ma túy không để cho em 01 quả 200.000 đồng ”. Sẵn có ma túy, T đồng ý và hẹn U đến ngõ gần nhà T để mua bán ma túy. Sau đó T lấy gói ma túy nhỏ đem ra ngõ hẻm gần nhà đứng đợi một lúc thì U đến đưa cho T 200.000 đồng, T đưa cho U 01 gói ma túy thì bị tổ công tác đồn Biên phòng cửa khẩu Diêm Điền và công an huyện Thái Thụy phát hiện, bắt quả tang. Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra người T đã thu giữ trong túi quần đang mặc của T 200.000 đồng, T khai đó là tiền vừa bán 01 gói ma túy cho U. Kiểm tra người U cơ quan điều tra thu giữ trong tay trái U đang cầm 01 gói được gói bằng giấy tráng kim loại màu trắng, bên trong có chất bột màu trắng dạng cục, U khai đó là ma túy mua vừa mua được của T với giá 200.000 đồng về để sử dụng. Cơ quan điều tra tiến hành khám xét nơi ở của T đã thu giữ 01 túi nilon bên trong có chứa chất bột dạng cục do T tự giác giao nộp, T khai nhận đó là ma túy mua về sử dụng cho bản thân có ai hỏi mua thì bán kiếm lời và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel T dùng liên lạc bán ma túy cho anh Trần Huy U.

Cơ quan công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, quản lý và niêm phong vật chứng.

Tại bản kết luận giám định số 227/KLGĐ – PC 54 ngày 08/6/2018 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận “ Mẫu M1 gửi giám định thu giữ của Trần Huy U là ma túy, loại Hêrôin, có khối lượng là 0,0628 gam; Mẫu M2 gửi giám định thu giữ của Khúc Ngọc T là ma túy, loại Hêrôin, có khối lượng là 3,4538 gam

Bản cáo trạng số 92/CT- VKSTT ngày 12 tháng 9 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy truy tố bị cáo Khúc Ngọc T về tội " Mua bán trái phép chất ma túy " quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo T khai nhận do nghiện ma túy nên T thường đi mua ma túy của nhiều người không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể về sử dụng. Ngày 07/6/2018, T đi xe khách lên cầu Bo thành phố Thái Bình mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi, không biết tên, địa chỉ cụ thể 01 gói ma túy loại Hêrôin với giá 2.000.000 đồng, T mang ma túy về nhà lấy một ít ra sử dụng, số ma túy còn lại T lấy ra một ít gói thành gói nhỏ. Đến khoảng 10 giờ 20 phút ngày 08/6/2018 T đang ở nhà thì U gọi điện hỏi mua ma túy. T đồng ý và lấy 01 gói ma túy nhỏ đem ra ngõ hẻm gần nhà đứng đợi một lúc thì U đến đưa cho T 200.000 đồng, T đưa cho U 01 gói ma túy thì bị tổ công tác đồn Biên phòng cửa khẩu Diêm Điền và Công an huyện Thái Thụy phát hiện bắt quả tang. Cơ quan điều tra đã quản lý của T 200.000 đồng là tiền vừa bán ma túy cho U; 01 túi nilon bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục T tự giác giao nộp và 01 chiếc điện thoại di động vừa liên lạc bán ma túy cho U.

Luận tội của kiểm sát viên:Vẫn giữ nguyên quan điểm như đã truy tố với bị cáo về tội danh và điều luật được viện dẫn trong bản cáo trạng. Căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử : Tuyên bố bị cáo Khúc Ngọc T phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy ” đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251, Điều 38, khoản 1 Điều 47, Điều 50, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự ; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự : Xử phạt bị cáo Khúc Ngọc T từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù; không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền do bị cáo không có thu nhập và tài sản riêng; đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 200.000 đồng thu giữ của Khúc Ngọc T do phạm tội mà có; tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại của Khúc Ngọc T do dùng vào việc phạm tội; tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi đã lấy mẫu giám định là loại Heroin thu giữ của bị cáo Khúc Ngọc T và của anh Trần Huy U; buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác vắng mặt được công bố tại phiên tòa .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau :

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện Thái Thụy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dan huyện Thái Thụy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, những người chứng kiến đã được Tòa án T tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Xét thấy tại giai đoạn điều tra họ đã có lời khai đầy đủ lưu trong hồ sơ vụ án nên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử, căn cứ khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293 của bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3]. Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Lời khai của bị cáo Khúc Ngọc T tại phiên tòa và trong quá trình điều tra, truy tố phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, các biên bản quản lý niêm phong vật chứng, bản kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

[4]. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Hồi 10 giờ 50 phút, ngày 08/6/2018, tại địa phận thuộc khu 5, thị trấn Diêm Điền, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, Đồn biên phòng cửa khẩu cảng Diêm Điền và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thái Thụy phát hiện bắt quả tang Khúc Ngọc T có hành bán trái phép 01 gói ma túy loại Heroin có khối lượng 0,0628 gam cho Trần Huy U lấy 200.000 đồng. Ngoài ra khám xét khẩn cấp tại nơi ở của T còn thu giữ 01 túi ma túy, loại Heroin có khối lượng 3,4538 gam, bị cáo khai để sử dụng và bán khi có người mua. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội " Mua bán trái phép chất ma túy " quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy truy tố bị cáo hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[5]. Về tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội, gây ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của nòi giống, làm khánh kiệt về kinh tế, là nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn cho xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị kết án về tội phạm ma túy nên bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện, thể hiện sự coi thường pháp luật. Do đó cần phải quyết định một hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi cân nhắc hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy tại giai đoạn điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, bị cáo có thời gian tham gia quân đội nhân dân Việt Nam nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo phấn đấu trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

[6]. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo bản thân là đối tượng nghiện ma túy, lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.

[7]. Đối với anh Trần Huy U là người mua ma túy của Khúc Ngọc T để sử dụng cho bản thân nhưng U chưa có tiền án, tiền sự, lượng ma túy thu giữ của U chưa đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự nên Đồn biên phòng cửa khẩu cảng Diêm Điền đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với U là phù hợp.

[8]. Về nguồn gốc số ma túy, bị cáo Khúc Ngọc T khai mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi, không biết tên, đặc điểm nhận dạng, địa chỉ cụ thể ở khu vực cầu Bo, thành phố Thái Bình nên cơ quan công an huyện Thái Thụy không có căn cứ để xác minh xử lý.

[9]. Về xử lý vật chứng của vụ án:

Số ma túy cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo Khúc Ngọc T sau khi lấy mẫu giám định còn lại có khối lượng là 3,3351 gam và số ma túy cơ quan điều tra đã thu giữ của anh Trần Huy U sau khi lấy mẫu giám định còn lại có khối lượng là 0,0573 gam. Đây là vật nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy Cơ quan điều tra đã quản lý của bị cáo Khúc Ngọc T 200.000 đồng là số tiền bị cáo bán ma túy cho anh Trần Huy U mà có và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel bị cáo dùng liên lạc để bán ma túy cho anh Trần Huy U, đây là tiền và phương tiện dùng vào việc phạm tội cần tịch thu, hóa giá sung công quỹ nhà nước.

[10]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1.Tuyên bố: Bị cáo Khúc Ngọc T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy"

2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 251, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Khúc Ngọc T 04 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08 tháng 6 năm 2018.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo

3.Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ 3,3351 gam (M2) và 0,0573 gam (M1) Hêrôin còn lại sau khi đã lấy mẫu giám định thu giữ của bị cáo Khúc Ngọc T và của anh Trần Huy U.

Tịch thu, hóa giá sung công quỹ nhà nước số tiền 200.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel thu giữ của bị cáo Khúc Ngọc T.

( Tất cả vật chứng như trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan công an và Chi cục thi hành án huyện Thái Thụy ngày 14 tháng 9 năm 2018 )

4.Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 về Án phí, Lệ phí Tòa án

Bị cáo Khúc Ngọc T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm .

5. Về quyền kháng cáo bản án: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.


90
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 90/2018/HS-ST ngày 15/10/2018 về tội mua bán trái phép chất ma túy

Số hiệu:90/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thái Thụy - Thái Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:15/10/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về