Bản án 89/2019/HNGĐ-ST ngày 08/05/2019 về tranh chấp hôn nhân gia đình

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH NA

BẢN ÁN 89/2019/HNGĐ-ST NGÀY 08/05/2019 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN GIA ĐÌNH

Ngày 08 tháng 5 năm 2019. tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện TC xét xử công khai vụ án thụ lý số 46/2019/TLST-HNGĐ, ngày 28 tháng 02 năm 2019 về việc Tranh chấp Hôn nhân gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2019/QĐST-HNGĐ, ngày 26 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: Anh Hồ S.T, sinh năm 1987; Địa chỉ: Xóm 12, xã TT, huyện TC, tỉnh NA.

Có mặt tại phiên tòa.

* Bị đơn: Chị Phan T.H, sinh năm 1990; Địa chỉ: Xóm 12, xã TT, huyện TC, tỉnh NA.

Chỗ ở hiện nay: Xóm 9, xã TT, huyện TC, tỉnh NA Vắng mặt tại phiên tòa. Có đơn xin xử vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, trong bản tự khai và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn Anh Hồ S.T trình bày:

Anh và chị Phan T.H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện có được tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TT, huyện TC, tỉnh NA vào ngày 15 tháng 5 năm 2015. Sau khi kết hôn xong vợ chồng về làm ăn sinh sống tại xóm 12, xã TL, huyện TC, tỉnh NA. Cuộc sống chung của hai người hạnh phúc không được bao lâu thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn.

Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị là do tính tình vợ chồng sống không hợp nhau. Nay anh xét thấy tình cảm không còn nữa nên nguyện vọng của anh là muốn được ly hôn với chị Phan T.H.

Về nuôi con chung: Vợ chồng anh có 1 con chung Hồ Q.Đ, sinh ngày 07 tháng 9 năm 2016. Nay ly hôn nguyện vọng của anh là muốn được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hồ Quốc Đạt và không yêu cầu chị Phan T.H góp cấp dưỡng nuoui con cho anh Về phân chia tài sản: Anh không yêu cầu giải quyết.

Về nợ: Vợ chồng anh không nợ gì ai và cũng không ai nợ gì vợ chồng. Ý kiến của bị đơn chị Phan T.H.

Tại phiên tòa hôm nay cũng như trong quá trình giải quyết vụ án chị Phan T.H vắng mặt. Nhưng trong đơn xin xử vắng mặt chị thừa nhận: Chị và anh Hồ S.T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện có được tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TT, huyện TC, tỉnh NA vào ngày 15 tháng 5 năm 2015. Sau khi kết hôn xong vợ chồng về làm ăn sinh sống tại xóm 12, xã TT, huyện TC, tỉnh NA. Cuộc sống chung của hai người hạnh phúc không được bao lâu thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn.

Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị là do tính tình vợ chồng sống không hợp nhau. Nay chị xét thấy tình cảm không còn nữa nhưng việc anh Hỗ S.T xin ly hôn với chị thì chị hoàn toàn nhất trí.

Về trách nhiệm nuôi con chung: Chị thừa nhận vợ chồng anh có 1 con chung Hồ Q.Đ, sinh ngày 07 tháng 9 năm 2016. Nay ly hôn nguyện vọng của chị mà muốn để cho anh Hỗ S.T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hồ Q.Đ và tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Về phân chia tài sản: Chị không yêu cầu giải quyết.

Về nợ: Vợ chồng chị không nợ gì ai và cũng không ai nợ gì vợ chồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, tỉnh NA phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý giải quyết cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án hoàn toàn tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình, xử về tình cảm: anh Hồ S.T được ly hôn với chị Phan T.H Về con chung: Giao cháu Hồ Q.Đ sinh ngày 07 tháng 9 năm 2016 cho anh Hồ S.T trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Phan T.H.

Về tài sản chung và nợ: Không có yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Buộc anh Hỗ S.T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp Hôn nhân gia đình được quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Cho nên việc thụ lý, giải quyết thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh NA. Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn chị Phan T.H đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án. Nhưng chị đều vắng mặt. Đây là vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được. sau khi nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử chị Phan T.H đã có đơn xin xử vắng măt. Cho nên xét thấy việc xét xử vắng mặt chị Phan T.H là hoàn toàn đúng quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án: Cuộc hôn nhân giữa anh Hồ S.T và chị Phan T.H là hôn nhân hợp pháp. Hai bên kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện có được tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TT, huyện TC, tỉnh NA vào ngày 15 tháng 5 năm 2015 theo quy định. Sau khi kết hôn xong cuộc sống chung vợ chồng hạnh phúc không được bao lâu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do tính tình không hợp nhau. Nay cả anh T và chi H xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên đều nhất trí ly hôn nhau, nên việc xử cho anh Hồ S.T được ly hôn chị Phan T.H là phù hợp.

Về trách nhiệm nuôi con: Hai bên thống nhất vợ chồng có 1 con chung là Hồ Q.Đ, sinh ngày 07 tháng 9 năm 2016. Nay ly hôn cả hai đều thống nhất giao cháu Hồ Q.Đ cho anh Hồ S.T trực tiếp nuôi dưỡng và tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Phan T.H. Xét sự thỏa thuận này là tự nguyện, không trái đạo đức xã hội và đúng quy định của pháp luật cho nên cần chấp nhận Về phân chia tài sản chung: Hai bên không ai có yêu cầu nên không xem xét.

[3] Về án phí: Nguyên đơn anh Hồ S.T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

[4] Về ý kiến phát biểu của Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện TC, tỉnh NA tại phiên tòa. Xét thấy việc tuân theo quy định pháp luật và các nội dung liên quan đến việc giải quyết vụ án là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:

Về hôn nhân: Anh Hỗ S.T được ly hôn với chị Phan T.H.

Về trách nhiệm nuôi con: Giao con chung của vợ chồng là cháu Hồ Q.Đ, sinh ngày 07 tháng 9 năm 2016 cho anh Hỗ S.T trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Phan T.H Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghÜa vô thăm nom con mà không ai được quyền cản trở người đó thực hiện quyền này.

Về chia tài sản chung và nợ: Không có yêu cầu nên không xem xét Về án phí: Anh Hồ S.T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001417 ngày 21 tháng 02 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện TC, tỉnh NA. Anh T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

Nguyên đơn, có quyền kháng cáo bản trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.


22
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 89/2019/HNGĐ-ST ngày 08/05/2019 về tranh chấp hôn nhân gia đình

Số hiệu:89/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thanh Chương - Nghệ An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:08/05/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về