Bản án 82/2018/HNGĐ-ST ngày 29/11/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 82/2018/HNGĐ-ST NGÀY 29/11/2018 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 29 tháng 11 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận Lê Chân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý 498/2018/TLST- HNGĐ ngày 28 tháng 9 năm 2018 về tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 11 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thanh H; nơi đăng ký thường trú: Số 34/2 P, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: Số 65/37/18 L, phường H, Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Ông Hà Xuân H; nơi đăng ký thường trú: Xã T, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương; nơi ở: Số 65/37/18 L, phường H, Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ghi ngày 07 tháng 9 năm 2018 và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn là bà Trần Thị Thanh H trình bày:

Bà Trần Thị Thanh H và ông Hà Xuân H xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện vào năm 2003, thực hiện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Q, Quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng ngày 30 tháng 9 năm 2003.

Đến nay có 01 con chung.

Quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2014 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông H có quan hệ với người phụ nữ khác về nhà thường xuyên ngược đãi, đánh đập vợ con. Từ năm 2014 đến năm 2016 bà H về sống tại nhà bố mẹ đẻ. Nhưng sau đó ông H hứa thay đổi nên bà đã quay trở về chung sống. Tuy nhiên chỉ được một thời gian ngắn lại tiếp tục nảy sinh mâu thuẫn như cũ. Đến nay ông bà đã sống ly thân, không ai quan tâm đến ai về mọi mặt. Bà H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, không còn khả năng đoàn tụ bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Hà Xuân H.

Về con chung: Bà H và ông H có một con chung là Hà Xuân Đ, sinh ngày 28/6/200A. Bà H đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được nuôi con đến khi thành niên và yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con hàng tháng là 2.000.000 đồng, tuy nhiên tại phiên tòa bà H rút yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con để tự thỏa thuận với ông H. Cháu Hà Xuân Đ cũng có đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho cháu được sống với mẹ.

Về tài sản chung: Bà H trình bày tự thỏa thuận với ông H, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết, ông Hà Xuân H vắng mặt. Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông H nhưng đều từ chối nhận Giấy triệu tập cũng như các Thông báo của Tòa án. Tại biên bản xác minh nơi cư trú và đơn của gia đình nguyên đơn cho thấy ông Huynh thường say xỉn và đánh đập bà H gây mất trật tự an ninh khu phố, thực tế mâu thuẫn giữa bà H và ông H đã thực sự trầm trọng.

Kiểm sát viên tham gia phát biểu ý kiến tại phiên tòa: Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định về trình tự thủ tục về pháp luật tố tụng tại phiên tòa; nguyên đơn chấp hành đúng các quy định về tố tụng, bị đơn không chấp hành các quy định về pháp luật tố tụng.

Về nội dung vụ án: Bà Trần Thị Thanh H và ông Hà Xuân H kết hôn từ năm 2003 và thực hiện việc đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Q, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng 31/12/2004 nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp.

Trong quá trình chung sống do hai bên bất đồng quan điểm sống, cách sống, thường xuyên cãi vã xô xát, cuộc sống chung không có hạnh phúc. Đến nay mâu thuẫn đã trầm trọng, không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần xử cho bà H và ông H ly hôn theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Bà Trần Thị Thanh H và ông Hà Xuân H có một con chung là Hà Xuân Đ, sinh ngày 28/6/200A. Bà H đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, cháu Hà Xuân Đ cũng có đơn đề nghị được sống với mẹ. Do vậy cần giao cháu Đ cho bà H nuôi là phù hợp. Việc cấp dưỡng nuôi con chung bà Hoa không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về tài sản chung: Các đương sự không có yêu cầu về tài sản chung nên không xem xét.

Về án phí: Bà Trần Thị Thanh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

 [1] Đây là vụ án tranh chấp ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; theo đơn khởi kiện và xác nhận nơi cư trú thể hiện: Ông Hà Xuân H, sinh năm 197B; nơi đăng ký thường trú: Xã T, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương; nơi ở hiện tại: Số 65/37/18 L, phường H, Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng. Căn cứ các điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án khởi kiện xin ly hôn giữa nguyên đơn là bà Trần Thị Thanh H và ông Hà Xuân H thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

 [2] Tại phiên tòa, bị đơn là ông Hà Xuân H vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai. Bởi vậy, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Hà Xuân H.

Về nội dung:

 [3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Thanh H và ông Hà Xuân H kết hôn từ năm 2003 và thực hiện việc đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Q, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng ngày 30/9/2003 nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp.

 [4] Quá trình chung sống: Thời gian đầu vợ chồng hòa thuận hạnh phúc, đến năm 2014 thì nảy sinh mâu thuẫn. Theo trình bày của bà H và qua xác minh tại nơi cư trú, đại diện gia đình cho thấy nguyên nhân do hai bên bất đồng quan điểm sống, cách sống. Ông H thường say xỉn, chửi bới đánh đập bà H. Ngoài ra bà H còn nghi ngờ ông H có mối quan hệ với người phụ nữ khác không có trách nhiệm với gia đình, vợ con. Mặc dù hai bên gia đình nhiều lần khuyên giải nhưng vợ chồng không hòa giải được. Bà H nhiều lần bỏ về sống nhà bố mẹ đẻ. Từ tháng 5/2018 đến nay hai bên đã thực sự sống ly thân, mỗi người một nơi, không ai quan tâm đến ai về mọi mặt. Nay xét thấy mâu thuẫn giữa ông bà đã thực sự trầm trọng, quan hệ vợ chồng trên thực tế đã không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được, bà H yêu cầu được ly hôn ông H là phù hợp với thực tế, cần được chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

 [5] Về nuôi con chung: Bà Trần Thị Thanh H và ông Hà Xuân H có một con chung là Hà Xuân Đ, sinh ngày 28/6/200A. Bà H đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được nuôi con đến khi thành niên. Quá trình giải quyết vụ án ông H không có mặt, đồng thời từ chối nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và không có ý kiến gì về việc nuôi con. Điều đó cho thấy ông H tự từ bỏ quyền của mình trong việc thể hiện quan điểm về việc nuôi con chung. Hiện nay cháu Đ đang sống với bà H và có đơn trình bày nguyện vọng đề nghị Tòa án giải quyết cho cháu được tiếp tục sống với mẹ. Do vậy, đề nghị của bà H về việc nuôi con là có cơ sở nên được chấp nhận. Việc cấp dưỡng nuôi con chung bà H rút yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.

 [6] Về tài sản chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

 [7] Về án phí: Bà H phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Trần Thị Thanh H được ly hôn ông Hà Xuân H.

- Về nuôi con chung: Giao con chung là Hà Xuân Đ, sinh ngày 28/6/200A cho bà Trần Thị Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi c đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con chung hai bên tự thỏa thuận.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm con mà không ai được cản trở.

- Về án phí: Bà Trần Thị Thanh H phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Bà H đã nộp đủ số tiền án phí là 300.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0012803 ngày 28 tháng 9 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận Lê Chân.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.


61
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 82/2018/HNGĐ-ST ngày 29/11/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:82/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Lê Chân - Hải Phòng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:29/11/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về