Bản án 69/2019/HSST ngày 21/06/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ - TỈNH QUẢNG NINH

BẢN ÁN 69/2019/HSST NGÀY 21/06/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 21/6/2019, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 57/2019/HSST ngày 29/5/2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2019/QĐXXST-HS ngày 06/6/2019 đối với bị cáo:

Phạm Văn C, sinh ngày 10/4/1994 tại huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình; Nơi thường trú và chỗ ở tại: thôn V, xã Thượng Hiền, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình; quc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; nghề nghiệp: lao động tự do; học vấn: 12/12; bố là ông Phạm Văn C, sinh năm 1970 và mẹ là bà Vũ Thị T, sinh năm 1970, cùng trú tại thôn V, xã Thượng Hiền, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình; gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo đầu thú ngày 14/4/2019, bị tạm giữ từ ngày 14/04/2019 đến ngày 19/4/2019, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến khi kết thúc phiên tòa hình sự sơ thẩm. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1993, trú tại thôn 4, xã Vĩnh An, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa, có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: anh Đỗ Văn Q, sinh năm 1994, trú tại thôn V, xã Thượng Hiền, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Những người làm chứng:

+ Anh Vũ Văn Đ, sinh năm 1990, trú tại thôn V, xã Thượng Hiền, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, vắng mặt;

+ Bà Lê Kim L, sinh năm 1957, trú tại tổ 18, khu 3, phường Trưng Vương, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 13 giờ ngày 12/3/2018, tại sân của khu tập thể công ty than Uông Bí ở phường Trưng Vương, thành phố Uông Bí, Quảng Ninh, Phạm Văn C đã trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển kiểm soát 36B3-507.16 có giá trị 29.000.000 đồng của anh Nguyễn Văn L rồi đem đến thành phố Hà Nội bán cho anh Đỗ Văn Q với giá 14.000.000 đồng.

Tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn C khai: Cuối năm 2014 bị cáo vào làm công nhân ở công ty than Uông Bí và có quen bị hại là anh Nguyễn Văn L, bị cáo và bị hại đều sống chung ở khu tập thể của công ty than Uông Bí thuộc phường Trưng Vương, thành phố Uông Bí. Trong thời gian chơi với bị hại, bị cáo thấy bị hại thường đi chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển kiểm soát 36B3-507.16 nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Khoảng tháng 02/2017 bị cáo lên phòng của bị hại là phòng số 513 nhưng không thấy ai trong phòng, bị cáo bèn lục lọi xem có đồ đạc giá trị gì trong phòng không, khi phát hiện giấy đăng ký xe mô tô của bị hại, bị cáo bèn đem về phòng cất giữ để nếu bị hại kêu mất thì bị cáo sẽ cho chuộc lại. Khoảng tháng 03/2018 thấy bị hại thường để xe trước cửa phòng, không để trong nhà xe, bị cáo đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe này. Khoảng mùng 9, mùng 10 tháng 03/2018 bị cáo giả vờ mượn xe của bị hại rồi cầm chìa khóa xe đi đánh thêm một chìa khóa phụ, sau đó đem xe về trả lại cho anh L. Khoảng 13 giờ ngày 12/3/2018, thấy bị hại đi xe mô tô về và dựng trước cửa rồi vào phòng 102 (lúc này anh L đã chuyển xuống phòng này ở), bị cáo bèn cầm chìa khóa phụ ra mở khóa xe và đem xe lên Hà Nội. Bị cáo sử dụng chiếc xe trộm cắp được làm phương tiện đi lại và ở tại phòng trọ của anh Vũ Văn Đ ở phường Cổ Nhuế, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

Khong cuối tháng 03/2018, bị cáo gọi điện cho anh Đỗ Văn Q (bạn cùng quê với bị cáo) đặt vấn đề bán chiếc xe này với giá 14.000.000 đồng. Khi anh Q hỏi nguồn gốc xe thì bị cáo nói là xe của anh bị cáo cầm cố của người khác, xe đầy đủ giấy tờ nhưng do không có khả năng chi trả nên bán xe lấy tiền tiêu. Sau đó, anh Q đưa cho bị cáo hai lần với tổng số tiền 13.700.000 đồng và nợ lại 300.000 đồng.

Sau đó bị cáo bán chiếc xe trộm cắp được cho anh Đỗ Văn Q là bạn cùng quê được số tiền là 13.700.000 đồng.

Đến ngày 14/4/2019, được biết thông tin anh Q bị cơ quan công an tạm giữ chiếc xe mô tô trên nên bị cáo đã đến công an huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình đầu thú.

Bị cáo khai là mình không nói cho Đ và Q biết nguồn gốc xe là do bị cáo phạm tội mà có, đối với số tiền bán xe là 13.700.000 đồng nhận được của Q thì bị cáo đã sử dụng chi tiêu cá nhân và trả nợ hết.

Tại phiên tòa bị cáo rất ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội của mình, bị cáo xin lỗi người bị hại và mong hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại là anh Nguyễn Văn L có mặt tại phiên tòa trình bày: Anh làm công nhân công ty Than Uông Bí từ năm 2015 và được bố trí ăn ở tại khu tập thể công ty ở phường Trưng Vương, thành phố Uông Bí. Trưa ngày 12/3/2018 anh đi chơi về và dựng xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển kiểm soát 36B3-507.16 của anh ở sân trước cửa phòng 102 khu tập thể, anh khóa cổ xe rồi vào phòng, một lúc sau quay lại thì thấy mất xe. Trước đó vào năm 2017 anh đã bị mất trộm giấy tờ đăng ký xe số 223103 và đã đi làm lại giấy chứng nhận mới số 008114. Sau khi sự việc xảy ra do bận rộn và muốn tự tìm xe nên anh không báo công an. Đến ngày 13/4/2019 anh đi chơi ở thành phố Hà Nội thì tình cờ thấy 1 người thanh niên điều khiển chiếc xe mô tô của anh ở đường Cổ Nhuế, phường Cố Nhuế, quận Bắc Từ Liêm nên đã giữ người này lại, đưa đến trụ sở công an phường Cổ Nhuế làm việc. Tại đây, người này khai nhận tên là Đỗ Văn Q, mua lại chiếc xe trên từ Phạm Văn C. Quá trình điều tra anh đã được trả lại chiếc xe bị lấy trộm.

Tại phiên tòa anh đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo C, về phần dân sự anh không yêu cầu bị cáo bồi thường tiền cho mình.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Đỗ Văn Q vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình điều tra có lời khai thể hiện: Anh và bị cáo là bạn cùng thôn chơi với nhau từ bé, khoảng cuối tháng 03/2018 bị cáo gọi điện cho anh nói có mua xe mô tô không, anh không có phương tiện đi lại nên đồng ý, sau đó bị cáo mang xe lên Hà Nội, xe nhãn hiệu Yamaha Exciter biển kiểm soát 36B3-507.16, bị cáo nói là xe của anh bị cáo làm cầm đồ để lại cho, không nói nguồn gốc xe là do bị cáo trộm cắp có được. Hai bên thỏa thuận giá cả là 14.000.000 đồng, nhưng anh mới trả được cho bị cáo 13.700.000 đồng, còn 300.000 đồng chưa trả được. Sau đó đến ngày 13/4/2019 khi anh đang điều khiển chiếc xe nói trên đi ở đường Cổ Nhuế thì bị một người (sau này được biết là bị hại) ra chặn đầu xe và nói là xe của mình, sau đó công an đến mời anh về phường làm việc. Tại cơ quan điều tra anh đã nộp lại chiếc xe là vật chứng vụ án cùng 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 223103 cấp cho chiếc xe trên.

Anh Q được triệu tập hợp lệ nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt tại phiên tòa, về phần dân sự vì bị cáo là bạn của anh nên anh không yêu cầu bị cáo bồi thường cho anh, ngoài ra anh không có bất cứ yêu cầu gì khác.

Nhng người làm chứng Vũ Văn Đ, Lê Kim Loan vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình điều tra có lời khai phù hợp với diễn biến hành vi phạm tội của bị cáo.

Anh Đ không biết nguồn gốc chiếc xe mô tô do trộm cắp mà có.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 13 ngày 18/4/2019, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Uông Bí kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển kiểm soát 36B3-507.16 vào thời điểm ngày 12/3/2018 có giá trị là 29.000.000 đồng.

Tại cáo trạng số 68 ngày 29/5/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí truy tố bị cáo Phạm Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị:

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo Phạm Văn C từ 18 đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 48 tháng. Giao bị cáo C cho Ủy ban nhân dân xã Thượng Hiền, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách, trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Truy thu sung vào ngân sách nhà nước đối với bị cáo C số tiền 13.700.000 đồng.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Cơ quan điều tra thành phố Uông Bí, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[1.2] Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự để xét xử vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

[2] Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay về cơ bản giống với nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí đã truy tố đối với bị cáo, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các chứng cứ cơ quan điều tra đã thu thập được, vì vậy đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ ngày 12/3/2018, tại sân của khu tập thể công ty than Uông Bí ở phường Trưng Vương, thành phố Uông Bí, Quảng Ninh, Phạm Văn C đã trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển kiểm soát 36B3-507.16 có giá trị 29.000.000 đồng của anh Nguyễn Văn L rồi đem đến thành phố Hà Nội bán cho anh Đỗ Văn Q với giá 14.000.000 đồng.

Hành vi của bị cáo C đã vi phạm khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Khon 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm…”

Trong vụ án này, bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ khả năng nhận thức, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng bởi vì lòng tham, muốn kiếm tiền không phải bằng con đường lao động chân chính nên bị cáo đã cố ý làm thêm một chiếc chìa khóa phụ và lợi dụng lúc bị hại sơ hở thiếu cảnh giác để lén lút lấy trộm xe mô tô của bị hại, hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật công nhận và bảo vệ, gây ra sự hoang mang trong quần chúng nhân dân, vì vậy Hội đồng xét xử thấy cần phải lên một mức án tương xứng phù hợp với hành vi của bị cáo để đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung.

Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân tốt. Trong vụ án này bị cáo đã chủ động ra cơ quan công an đầu thú, trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, ngoài ra bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

[3] Về hình phạt:

[3.1] Về hình phạt chính: Sau khi xem xét, đánh giá nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, vì vậy Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

[3.2] Về hình phạt bổ sung: khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[4] Về phần dân sự: Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.

[5] Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển kiểm soát 36B3-507.16, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 008114, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 223103.

Xét thấy: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển kiểm soát 36B3-507.16 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 008114 cơ quan điều tra đã trả cho bị hại nên không đề cập giải quyết.

Đi với 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 223103, cơ quan điều tra th ành phố Uông Bí đã gửi Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Thanh Hóa xử lý theo thẩm quyền nên không đề cập giải quyết.

Đi với số tiền 13.700.000 đồng là tiền bị cáo bán xe cho Q có được và sau đó đã sử dụng hết, anh Q không yêu cầu bồi thường nhưng xét thấy đây là tiền bị cáo thu lợi từ việc bán tài sản trộm cắp mà có nên cần thiết buộc bị cáo nộp lại số tiền trên sung vào ngân sách nhà nước.

[6] Đối với anh Đỗ Văn Q và Vũ Văn Đ không biết nguồn gốc xe mô tô do trộm cắp mà có nên không đề cập xử lý.

[7] Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

[8] Bị cáo phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: khoản 1 Điều 173, điểm b khoản 1 Điều 47, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên bố: Phạm Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Phạm Văn C 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo C cho Ủy ban nhân dân xã Thượng Hiền, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Gia đình bị cáo được hưởng án treo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Truy thu sung vào ngân sách nhà nước đối với bị cáo Phạm Văn C số tiền là 13.700.000 (mười ba triệu bảy trăm nghìn) đồng.

Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Văn C phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, bị hại, vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Báo cho bị cáo và bị hại biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.


31
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 69/2019/HSST ngày 21/06/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:69/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Uông Bí - Quảng Ninh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 21/06/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về