Bản án 69/2017/HNGĐ-ST ngày 18/07/2017 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM TỈNH VĨNH LONG

BẢN ÁN 69/2017/HNGĐ-ST NGÀY 18/07/2017 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 18 tháng 7 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 290/2017/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2017 về “Tranh chấp Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 129/2017/QĐXX-ST ngày 27 tháng 6 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị A – sinh năm 1982 (có mặt) Nơi cư trú: ấp C, xã D, huyện E, tỉnh F.

2. Bị đơn: Anh Trần Minh B – sinh năm 1980 (vắng mặt) Nơi cư trú: ấp C, xã D, huyện E, tỉnh F.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện ngày 07 tháng 3 năm 2017 và những lời khai khác có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị A trình bày:

Hôn nhân giữa chị và anh Trần Minh B do mai mối rồi đi đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới vào năm 2003 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện E, tỉnh F ngày 27 tháng 11 năm 2003. Sau ngày cưới vợ chồng sống tại ấp C, xã D, huyện E, tỉnh F được khoảng 01 năm thì về sống chung gia đình cha mẹ của chị tại tỉnh G được 02 năm sau đó vợ chồng lên tỉnh H sinh sống. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2014 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm thường hay cãi vã mất hạnh phúc. Chị và anh B không còn sống chung từ năm 2014 đến nay.

Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Trần Minh B.

- Con chung: Trong đời sống chung vợ chồng anh chị có 01 người con chung tên Trần Thị Ngọc M – sinh ngày 15 tháng 9 năm 2005, hiện cháu M đang sống với anh B. Sau khi ly hôn chị đồng ý giao cháu M cho anh B nuôi dưỡng, chị tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000đ cho đến khi cháu M đủ 18 tuổi.

- Tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Nợ chung phải thu, phải trả: không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra chị không còn yêu cầu nào khác.

* Đối với bị đơn anh Trần Minh B:

Anh Trần Minh B có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp C, xã D, huyện E, tỉnh F nhưng hiện anh B không có mặt tại địa phương. Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng anh B cố tình không hợp tác vì hiện nay gia đình cha mẹ anh B còn ở địa phương.

* Tại bảng khai ý kiến ngày 24 tháng 3 năm 2017 Trần Thị Ngọc M – sinh ngày 15 tháng 9 năm 2005 trình bày: khi cha mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng được sống với cha.

Tài liệu, chứng cứ trong vụ án:

Nguyên đơn đã nộp: Đơn khởi kiện ngày 07 tháng 3 năm 2017; giấy chứng minh nhân dân bản sao; sổ hộ khẩu bản sao; giấy chứng nhận kết hôn; đơn xin xác nhận đăng ký hộ khẩu thường trú của bị đơn Trần Minh B; trích lục khai sinh bản sao; bảng khai ý kiến của cháu Trần Thị Ngọc M.

Bị đơn anh Trần Minh B không đến tham gia tố tụng tại tòa án nên anh B không nộp tài liệu, chứng cứ nào.

Ngoài ra đương sự không còn yêu cầu nào khác giữ nguyên quan điểm của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu và các chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

 [1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng từ khi thụ lý vụ án đến khi vụ án được đưa ra xét xử anh Trần Minh B cố tình vắng mặt không lý do, không hợp tác với Tòa án để giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh B theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

 [2] Mối quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị A và anh Trần Minh B là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Hôn nhân của anh chị do mai mối có tổ chức lễ cưới vào năm 2003 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện E, tỉnh F ngày 27 tháng 11 năm 2003. Theo lời trình bày của chị A thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm thường hay cãi vã mất hạnh phúc, hiện nay anh chị không còn sống chung. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc chị A yêu cầu ly hôn với anh B là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

 [3] Con chung: tại phiên tòa chị Nguyễn Thị A đồng ý giao con chung tên Trần Thị Ngọc M – sinh ngày 15 tháng 9 năm 2005 cho anh Trần Minh B nuôi dưỡng, chị A tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000đ cho đến khi cháu M đủ 18 tuổi là phù hợp với Điều 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

 [4] Tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết. Miễn xét.

 [5] Các khoản nợ phải thu, phải trả: không yêu cầu Tòa án giải quyết. Miễn xét.

 [6] Án phí dân sự sơ thẩm hôn nhân và gia đình: Chị Nguyễn Thị A nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

 [7] Án phí về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị A nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016.

* Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị A.

 [1] Về mối quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị A được ly hôn với anh Trần Minh B.

 [2] Con chung: Giao cháu Trần Thị Ngọc M – sinh ngày 15 tháng 9 năm 2005 cho anh B nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị A tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000đ (Một triệu đồng) cho đến khi cháu M đủ 18 tuổi. Chị Nguyễn Thị A có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

 [3] Tài sản chung: Chị Nguyễn Thị A không yêu cầu Tòa án giải quyết. Miễn xét.

 [4] Nợ chung phải thu, phải trả: Chị Nguyễn Thị A không yêu cầu Tòa án giải quyết. Miễn xét.

 [5] Án phí dân sự sơ thẩm hôn nhân và gia đình: Chị Nguyễn Thị A nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

 [6] Án phí về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị A nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

Tổng cộng chị Nguyễn Thị A phải nộp 600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số N0 0007803 ngày 09 tháng 3 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũng Liêm. Chị A phải nộp thêm 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ sau ngày tuyên án. Riêng bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử lại phúc thẩm./.


109
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 69/2017/HNGĐ-ST ngày 18/07/2017 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:69/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Vũng Liêm - Vĩnh Long
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:18/07/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về