Bản án 68/2017/HSST ngày 08/09/2017 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN Q.LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 68/2017/HSST NGÀY 08/09/2017 VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 08 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 80/2017/HSST ngày 15 tháng 8 năm 2017 đối với bị cáo: Nguyễn Tấn V1 - Sinh ngày 15 tháng 6 năm 1993 tại tỉnh Q; Nơi cư trú: Thôn H, xã Đ1, huyện Đ2, tỉnh Q; Trình độ văn hóa: 10/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Nguyễn Tấn H (Sinh năm 1963) và bà Đỗ Thị L (Sinh năm 1966); Tiền sự, tiền án: chưa; Hiện đang tại ngoại, (có mặt).

Người bị hại: Ông Nguyễn Văn V2 - Sinh năm 1962; Nơi cư trú: Tổ 01, phường H, quận L, TP. Đ, (có mặt).

Người làm chứng:

1. Chị Nguyễn Thị N1 - Sinh năm 1986; Nơi cư trú: 15 đường N, phường H, quận L, TP. Đ, (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Anh Huỳnh Quốc V3 - Sinh năm 1989; Nơi ĐKNKTT: Thôn T, xã B, huyện T, tỉnh Q; Nơi cư trú: phường HKB, quận L, TP. Đ, (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

3. Anh Huỳnh Công N2 - Sinh năm 1999; Trú tại: Thôn H, xã Đ1, huyện Đ2, tỉnh Q, (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

NHẬN THẤY

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Nguyễn Tấn V1 là người làm thuê cho ông Nguyễn Văn V2, nhiệm vụ hàng ngày của V1 là lái xe chở thơm từ Đại Sơn, Đại Lộc, Quảng Nam đi giao hàng cho khách và nhận tiền hàng về cho ông V2. Ngày 20.01.2017, ông V2 nói V1 lên Đại Sơn lấy thơm rồi về chợ Hoà Khánh giao cho chị Nguyễn Thị N1. V1 rủ Huỳnh Công N2 đi cùng và điều khiển xe tải 43C-025.78 chở N2 đi lên Đại Sơn lấy 2.640 trái thơm rồi chở xuống giao cho chị N1. Sau khi giao hàng, chị N1 đưa cho V1 19.800.000 đồng (mười chín triệu tám trăm ngàn đồng) về giao lại cho ông V2. Sau khi nhận được tiền, V1 điều khiển xe tải chở N2 về Đại Lộc. Lúc này, vì hết tiền nên V1 nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền 19.800.000 đồng nên sau khi chở N2 về nhà, V1 điều khiển xe chạy đến một bãi đất trống thuộc thôn V2 Phước, xã Đại Đồng, huyện Đại Lộc cất rồi đi vào Tam Kỳ. Đến chiều ngày 21.01.2017, V1 điện thoại nhờ N2 đến bãi đất trống ở xã Đại Đồng lấy xe tải về giao cho ông V2 và nhờ N2 nhắn với ông V2 là mình đi vào Tam Kỳ đám cưới tối sẽ mang tiền về, nhưng V1 không thực hiện, sau đó V1 cũng không liên lạc và gặp mặt ông V2, còn số tiền 19.800.000 đồng V1 đã tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 16.02.2017, ông V2 vẫn không liên lạc được với V1 nên đến Cơ quan Công an trình báo sự việc. Ngày 20.4.2017, Cơ quan điều tra mới làm việc được với Nguyễn Tấn V1 và V1 đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Về dân sự: Người bị hại - ông Nguyễn Văn V2 yêu cầu Nguyễn Tấn V1 bồi thường số tiền đã chiếm đoạt 19.800.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 75/KSĐT ngày 14 tháng 8 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Nguyễn Tấn V1 về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 140 của Bộ luật Hình sự Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu phát biểu quan điểm giữ nguyên nội dung truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 140; các điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo V1 từ 12 đến 15 tháng tù giam. Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc Nguyễn Tấn V1 bồi thường số tiền 19.800.000 đồng cho ông Nguyễn Văn V2.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và bị cáo,

XÉT THẤY

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Tấn V1 đã khai nhận: Được ông Nguyễn Văn V2 giao công việc lái xe chở thơm (dứa) bán cho khách hàng và nhận tiền bán thơm về, ngày 20.01.2017, sau khi nhận được 19.800.000 đồng - là số tiền bán thơm cho chị Nguyễn Thị N1 tại chợ Hòa Khánh, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, Nguyễn Tấn V1 đã chiếm đoạt số tiền trên của ông V2 để tiêu xài.

Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu thập được. Hội đồng xét xử kết luận: Hành vi của bị cáo V1 đã phạm vào tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 140 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tàisản của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an xã hội tại địa  phương. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội cố ý, mục đích là để có tiền tiêu xài nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất cho bản thân. Sau khi phạm tội, bị cáo không khắc phục, bồi thường cho người bị hại. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn bất chấp, thể hiện sự liều lĩnh, coi thường pháp luật. Do vậy, Hội đồng xét xử cần thiết xét xử bị cáo mức hình phạt tù tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai báo thành khẩn, tỏ ra ân hận với lỗi lầm, hứa không tái phạm; bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có cha là thương binh 4/4. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm h và p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

* Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại - ông Nguyễn Văn V2 yêu cầu Nguyễn Tấn V1 phải bồi thường số tiền 19.800.000 đã chiếm đoạt, Hội đồng xét xử cần áp dụng Điều 42 Bộ luật Hình sự tuyên buộc bị cáo phải bồi thường cho ông Nguyễn Văn V2 số tiền 19.800.000 đồng.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự và các điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn V1 phạm tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 140; các điểm h và p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tấn V1 12 (mười hai) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt giam thi hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 42 Bộ luật Hình sự, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, Buộc bị cáo Nguyễn Tấn V1 bồi thường cho ông Nguyễn Văn V2 số tiền 19.800.000 đồng (mười chín triệu tám trăm ngàn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Áp dụng tại Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a, c khoản 1 Điề 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Tấn V1 phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và990.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


88
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 68/2017/HSST ngày 08/09/2017 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Số hiệu:68/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Liên Chiểu - Đà Nẵng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:08/09/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về