Bản án 66/2018/HS-ST ngày 14/11/2018 về tội vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI

BẢN ÁN 66/2018/HS-ST NGÀY 14/11/2018 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

Trong ngày 14 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 59/2018/HSST ngày 04 tháng 9 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2018/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Tấn T, sinh ngày 27 tháng 9 năm 1972 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tấn P và bà Võ Thị Cẩm T; có vợ là Nguyễn Thị Hồng C, sinh năm: 1973 và có 02 con: lớn sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Bà Nguyễn Thị Y1, sinh năm 1943 (đã chết);

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Các ông bà Trần Văn T, sinh năm 1971; Trần Thị Q, sinh năm 1975; Trần Quí D, sinh năm 1981; Trần Xuân L, sinh năm 1985; cùng trú tại: Thôn T, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Các ông (bà) T, Q có mặt, D, L vắng mặt.

- Bị đơn dân sự: Công ty T; trụ sở: Số 195/2 đường H, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Mạnh H, chức vụ: Chủ tịch Công ty T, vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty Vận tải DANV; trụ sở: Số 195/2 đường H, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Duy H, chức vụ: Giám đốc Công ty Vận tải DANV, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 25 phút ngày 15/02/2018, Nguyễn Tấn T điều khiển xe ô tô biển số 76A - 040.23 lưu thông trên đường Quốc lộ 24B theo hướng từ Đông sang Tây trong điều kiện thời tiết có nhiều sương mù, tầm nhìn bị hạn chế nhưng không bật đèn chiếu sáng phía trước. Khi đi đến Km 11+ 208,9m Quốc lộ 24B thuộc thôn H, xã T, thành phố Q do không chú ý quan sát chướng ngại vật phía trước nên đã dẫn đến mặt trước phía dưới ốp nhựa bên phải cản trước của xe ô tô 76A-040.23 va chạm với với mặt ngoài phía sau chân chống xe đạp do bà Nguyễn Thị Y1 điều khiển đi cùng chiều phía trước, dẫn đến hậu quả bà Y1 chết tại chỗ.

Tại Kết luận giám định dấu vết cơ học số 277/KLGĐ-PC54 ngày20/3/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự  (PC54) Công an tỉnh Quảng Ngãi kết luận: Điểm va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện là mặt trước phía dưới ốp nhựa bên phải cản trước xe ô tô 76A-040.23 (ngay dấu vết bể vỡ nhựa bảo vệ cản trước bên phải) với mặt ngoài phía sau chân chống xe đạp. Khi va chạm nhau ô tô 76A-040.23 và xe đạp chuyển động cùng chiều theo hướng từ Đông sang Tây.

Vị trí va chạm đầu tiên trên mặt đường giữa xe ô tô 76A-040.23 với xe đạp do bà Nguyễn Thị Y1 điều khiển là khu vực phía Đông đầu Đông Bắc dấu vết xước mặt đường số 1 thuộc phần đường phía Bắc của Quốc lộ 24B.

Vị trí va chạm đầu tiên giữa xe ô tô 76A-040.23 với nạn nhân Nguyễn Thị Y1 là mặt trước bên phải kính chắn gió phía trước của xe ô tô với đầu của nạn nhân.

Trong quá trình trước khi xảy ra tai nạn, xe ô tô và xe đạp không để lại vết phanh trên hiện trường nên không có cơ sở giám định tốc độ của hai xe trước khi xảy ra tai nạn.

Tại Kết luận giám tử thi số 19/2017/PY-PC54 ngày 18/02/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi kết luận nguyên nhân chết của bà Nguyễn Thị Y1 như sau: “Đa thương tích, chấn thương sọ não, vỡ hở xương hộp sọ, dập não dẫn đến chết”.

Bản cáo trạng số 51/QĐ-VKS, ngày 24/8/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi truy tố bị cáo Nguyễn Tấn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi giữ nguyên quyết định truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, 54, 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù cho hưởng án treo. Về phần dân sự, đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì thêm đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

 [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tấn T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là đúng quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận bị cáo T điều khiển xe ô tô trong điều kiện thời tiết có sương mù, tầm nhìn bị hạn chế nhưng không giảm tốc độ thấp hơn tốc độ tối đa cho phép (có thể dừng lại một cách an toàn), không chú ý quan sát nên đã va chạm với xe đạp do bà Nguyễn Thị Y1 điều khiển đi cùng chiều đúng phần đường phía trước dẫn đến hậu quả bà Y1 chết; ngày 08/01/2018, bị cáo T bị Công an thành phố Quảng Ngãi ra Quyết định xử phạt hành chính, tước giấy phép lái xe trong thời hạn 02 tháng từ ngày 08/1/2018 đến ngày 09/3/2018 nhưng bị cáo vẫn lái xe tham gia giao thông nên hành vi của bị cáo vi phạm các quy định tại các khoản 2, 5 Điều 5 Thông tư 91/2015/TT- BGTVT ngày 31/12/2015 của Bộ Giao thông vận tải, Điều 25 của Luật xử lý vi phạm hành chính, khoản 9, khoản 23 Điều 8 của Luật Giao thông đường bộ. Hành vi của bị cáo T đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bồi thường khắc phục hậu quả, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[4] Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo có lỗi hoàn toàn trong việc gây tai nạn giao thông dẫn đến hậu quả bà Y1 chết, nhưng bị cáo có nhân thân tốt, có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51, có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nơi cư trú rõ ràng để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục; có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo quy định tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

[5] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi về cho bị cáo T hưởng án treo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe ô tô 76A- 040.23 cho là Công ty T và trả lại xe đạp mini màu trắng đen cho những người đại diện của bà Nguyễn Thị Y1 là đúng với quy định của pháp luật.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Công ty T và bị cáo T đã bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng); đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì khác về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí: Bị cáo T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn T 03 (ba) năm tù, cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Tấn T cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, bị cáo Nguyễn Tấn T cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo T phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo T phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

3. Buộc bị cáo Nguyễn Tấn T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, sung công quỹ Nhà nước.

4. Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đại diện hợp pháp của bị hại, bị đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.


109
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về