Bản án 66/2017/HNGĐ-ST ngày 13/07/2017 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 66/2017/HNGĐ-ST NGÀY 13/07/2017 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 13 tháng 7 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án thụ lý số 46/2017/TLST- HNGĐ ngày 20 tháng 4 năm 2017 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1043/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2017 giữa các đương sự.

1. Nguyên đơn: Chị Vũ Huyền, sinh năm 1972; địa chỉ: Nhà số 41 Đông An, tổ 15, phường Thành Tô, quận Hải An, thành phố Hải Phòng; có mặt

2. Bị đơn: Anh Chang, sinh năm 1965; Hiện cư trú: Nhà số 20 ngõ 2 phố ĐôngViên 1, cụm 001, thôn Đông Hưng, xã Bi Nam, tỉnh Đài Đông, Đài Loan; vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn của nguyên đơn và lời khai tại Tòa án chị Vũ Huyền trình bày: Chị và anh Chang kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tai Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng vào ngày 27/7/2012. Thời gian đầu vợ chồng sống ở Việt Nam được 1 thời gian ngắn thì anh Chang quay về Đài Loan để làm thủ tục bảo lãnh cho chị Huyền nhưng do điều kiện kinh tế không đảm bảo nên cơ quan có thẩm quyền từ chối. Do xa cách về địa lý, khả năng đoàn tụ không có dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng nhạt phai. Nay xác định tình cảm không còn chị đề nghị được ly hôn với anh Chang.

- Về con chung và tài sản chung: Vợ chồng không có con chung và tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong đơn xin ly hôn anh Chang gửi về Tòa án anh trình bày thống nhất về quá trình kết hôn, lý do xin ly hôn, con chung, tài sản chung như chị Vũ Huyền.

Vì điều kiện anh Chang ở nước ngoài nên theo Khoản 2 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án không tiến hành hòa giải được. Trong đơn xin ly hôn anh đề nghị được xét xử vắng mặt.

Tại phiên tòa nguyên đơn chị Vũ Huyền có mặt vẫn giữ nguyên quan điểm xin ly hôn vì chị cho rằng khả năng đoàn tụ vợ chồng không có, tình cảm vợ chồng không còn. Vì vậy chị đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh Chang

Về con chung và tài sản chung: Vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòaán giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ lời trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Chị Vũ Huyền và anh Chang cùng có đơn đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết việc hôn nhân của anh chị. Theo quy định tại khoản 3Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Anh Chang là bị đơn hiện đang cư trú tại Đài Loan vắng mặt tại phiên toà nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Chị Vũ Huyền và anh Chang kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tai Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng vào ngày 27/7/2012, theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 đây là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc tại Việt Nam được 1 thời gian ngắn thì anh Chang quay về Đài Loan để làm thủ tục bảo lãnh cho chị Huyền sang đoàn tụ nhưng do điều kiện kinh tế nên cơ quan có thẩm quyền từ chối. Do xa cách về địa lý, khả năng đoàn tụ không có dẫn đến vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm sống, lối sống. Nay cả chị Vũ Huyền và anh Chang đều xác định tình cảm không còn, khả năng đoàn tụ không có và đều có đơn xin ly hôn để giải phóng cho nhau là hoàn toàn chính đáng.

Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Vũ Huyền và anh Chang mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài, cần áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 châp nhân đê nghi ly hôn của chị Vũ Huyền

Về con chung và tài sản chung: Vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Vũ Huyền là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo chị Vũ Huyền và anh Chang được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

- Căn cứ khoản 3 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 207, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 273, Điều 479 của Bộ luật Tố tụngdân sự.

- Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

XỬ:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Huyền được ly hôn anh Chang

- Về con chung và tài sản chung: Chị Vũ Huyền và anh Chang không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Vũ Huyền phải chịu 300.000 đông (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng đươc trư vao sô tiên tam ưng an phi dân sư sơ thâm đa nôp la 300.000 đông theo biên lai sô 0003638 ngày 20 tháng 4 năm 2017 của Cục thi hành án dân sự thành phố Hải Phong. Chị Huyền đa nôp đu.

- Về quyền kháng cáo:

+ Anh Chang được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 1 tháng kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.

+ Chị Vũ Huyền được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


66
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 66/2017/HNGĐ-ST ngày 13/07/2017 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:66/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hải Phòng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:13/07/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về