Bản án 64/2019/HNGĐ-ST ngày 28/06/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN 64/2019/HNGĐ-ST NGÀY 28/06/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 28 tháng 6 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 74/2019/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2019 về “Tranh chấp Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1994;

Địa chỉ cư trú: Thôn T, xã V, huyện Th, tỉnh Nghệ An, có mặt tại phiên tòa.

- Bị đơn: Anh Hồ Anh S, sinh năm 1991;

Địa chỉ cư trú trước xuất cảnh: Xóm Y, xã Th, huyện Th, tỉnh Nghệ An;

Địa chỉ cư trú hiện tại: U DVOŘISKA 1219 56501 CHOCEŇ (Cộng hòa Séc), vắng mặt tại phiên tòa và đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:

Chị và anh Hồ Anh S kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện Th, tỉnh Nghệ An vào ngày 22/01/2016. Sau 1 khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2016 thì anh S đi xuất khẩu lao động sang Cộng hòa Séc. Thời gian đầu vợ chồng thường xuyên liên lạc nhưng sau đó việc liên lạc với nhau ít dần và đã không liên lạc gần một năm nay. Do có sự xa cách về địa lý và không liên lạc với nhau nên tình cảm vợ chồng dần phai nhạt. Hiện tại, chị Nguyễn Thị H xác định tình cảm vợ chồng không còn. Vì vậy, chị H yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hồ Anh S.

Về con chung: Chị và anh Hồ Anh S không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị và anh Hồ Anh S không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Hồ Anh S đang sinh sống và làm việc tại nước Cộng Hòa Séc. Anh đã được chị H thông báo về việc chị nộp đơn ly hôn với anh tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Do đó, anh Hồ Anh S đã gửi các tài liệu, sổ hộ chiếu, giấy phép cư trú và bản tự khai (được hợp pháp hóa lãnh sự, có chứng thực của Đại sứ quán Việt Nam tại Cộng Hòa Séc) đến Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trình bày: Anh thừa nhận về thời gian, điều kiện, địa điểm đăng ký kết hôn và nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng đúng như chị Nguyễn Thị H trình bày. Do vợ chồng bất đồng quan điểm và sống xa nhau lại không liên lạc, quan tâm, chăm sóc nhau nên tình cảm vợ chồng dần phai nhạt. Nay chị Nguyễn Thị H làm đơn xin ly hôn thì anh cũng đồng ý ly hôn.

Về con chung: Anh và chị Nguyễn Thị H không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh và chị Nguyễn Thị H không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Hiện tại, anh Hồ Anh S đang sinh sống và làm việc tại nước Cộng Hòa Séc không thể về Việt Nam để trực tiếp giải quyết việc ly hôn với chị H nên trong bản tự khai, anh đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải và xét xử vụ án vắng mặt anh. Đồng thời, anh đề nghị Tòa án gửi các văn bản của Tòa án đến bố của anh là ông Hồ Xuân K, sinh năm 1964, địa chỉ: Xóm Y xã Th, huyện Th, tỉnh Nghệ An và ông K sẽ có trách nhiệm thông báo và gửi cho anh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án; lời trình bày của đương sự được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Vụ án Ly hôn không có tranh chấp con chung, tài sản chung và Tòa án không phải tiến hành thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát không phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị H hiện cư trú tại tỉnh Nghệ An khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hồ Anh S hiện cư trú tại nước Cộng Hòa Séc; trước xuất cảnh, anh S có địa chỉ cư trú tại tỉnh Nghệ An nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại các Điều 37, Điều 40, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình.

Về thủ tục hòa giải: Vụ án không tiến hành hòa giải được vì anh Hồ Anh S không thể tham gia hòa giải được do đang ở nước ngoài và yêu cầu không hòa giải là phù hợp với quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Anh Hồ Anh S vắng mặt tại phiên tòa nhưng có gửi các tài liệu, sổ hộ chiếu, giấy phép cư trú và bản tự khai (được hợp pháp hóa lãnh sự, có chứng thực của Đại sứ quán Việt Nam tại Cộng Hòa Séc) đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Tại phiên tòa chị H đã được xem các tài liệu, sổ hộ chiếu, giấy phép cư trú, đọc bản tự khai của anh S và thừa nhận đúng chữ viết, chữ ký của anh S. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Hồ Anh S.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Hồ Anh S kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện Th, tỉnh Nghệ An vào ngày 22/01/2016, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian thì mâu thuẫn. Do vợ chồng bất đồng quan điểm và sống xa nhau lại không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau nên tình cảm vợ chồng phai nhạt. Hiện tại, chị Nguyễn Thị H và anh Hồ Anh S thừa nhận tình cảm vợ chồng không còn và mong muốn Tòa án giải quyết cho ly hôn. Xét thấy, hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H và anh Hồ Anh S đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Nguyễn Thị H yêu cầu giải quyết ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận.

[3]. Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Hồ Anh S không yêu cầu giải quyết. Vì vậy, Tòa án không xem xét.

[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Hồ Anh S không yêu cầu giải quyết. Vì vậy, Tòa án không xem xét.

[5]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 56, Điều 122, Điều 123, Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ vào các Điều 37, Điều 40, khoản 4 Điều 147, khoản 2, khoản 4 Điều 207, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469, Điều 478 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Nguyễn Thị H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Hồ Anh S được ly hôn.

2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Hồ Anh S không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Hồ Anh S không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng chị đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0003914 ngày 09/5/2019 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Chị Nguyễn Thị H đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh Hồ Anh S có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.


94
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 64/2019/HNGĐ-ST ngày 28/06/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:64/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Nghệ An
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:28/06/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về