Bản án 60/2018/HNGĐ-ST ngày 12/09/2018 về xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ - TỈNH LÂM ĐỒNG

BẢN ÁN 60/2018/HNGĐ-ST NGÀY 12/09/2018 VỀ XIN LY HÔN

Ngày 12 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đ - tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 263/2018/TLST-HNGĐ ngày 02/5/2018 về việc “Xin ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 23/8/2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm: 1961

Trú tại: 94A Lộ Đ, Phường N, Thành Phố Đ, Tỉnh Lâm Đồng

Bị đơn: Ông Trần Quốc H, sinh năm: 1955

Trú tại: 94A Lộ Đ Phường H, Thành Phố Đ, Tỉnh Lâm Đồng

( Bà B, ông H có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện nộp tại Tòa án thành phố Đ ngày 19/4/2018 và các tài liệu khác có trong hồ sơ nguyên đơn bà Nguyễn Thị B trình bày: Bà và ông H đăng ký kết hôn vào năm 1983 tại Ủy ban nhân dân Phường Tam Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Hôn nhân tự nguyện và có tổ chức lể cưới. Sau khi kết hôn, bà và ông H chuyển lên Đ sinh sống. Cuộc sống chung hạnh phúc đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông H thường xuyên rượu chè, về nhà la mắng chưởi bới vợ con. Thời gian gần đây vợ chồng sống ly thân, không quan tâm gì đến nhau. Ông tiếp tục rượu chè, có những hành vi thô bạo đập phá nhà cửa, chưởi bới bà và các con. Nay bà nhận thấy không còn tình cảm giành cho ông H vì vậy bà xin được ly hôn với ông H.

Về con chung: Có 6 con chung Trần Hoàng Mai A, sinh ngày 14/08/1984; Trần Hoàng Trang V, sinh ngày 24/10/1986; Trần Hoàng Quỳnh V, sinh ngày 06/8/1988; Trần Nhật Q, sinh ngày 27/06/1991; Trần Hoàng Lan Ng, sinh ngày 05/4/1995; Trần Hoàng Nhật H, sinh ngày 21/04/2000. Hiện 6 con đã trưởng thành, nên không đề cập đến.

Về tài sản chung: Bà xác định có 1 căn nhà 94A Lộ Đ, phường N, thành phố Đ. Ly hôn cả hai tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà xác định không có tài sản chung.

Theo bản tự khai đề ngày 02/5/2018 ông Trần Quốc H trình bày thì: Ông thừa nhận việc kết hôn và chung sống với nhau đúng như lời trình bày của bà B. Cuộc sống chung vợ chồng hạnh phúc đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông đau ốm không làm ra tiền nên vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn. Ông khẳng định là không đánh vợ. Nay bà B xin ly hôn thì ông không đồng ý và yêu cầu đoàn tụ gia đình.

Về con chung: Có 6 con chung như bà B trình bày ở trên. Hiện 6 con đã trưởng thành.

Về tài sản chung: Ông xác định có 1 căn nhà 94A Lộ Đ, phường 5, thành phố Đ. Cả hai tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Ông xác định không có.

Trong quá trình xét xử: Bà B xác định không còn tình cảm với ông H, đề nghị Hội đồng xét xử cho bà và ông H được ly hôn. Ông H cho rằng còn thương vợ nên không đồng ý ly hôn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ có ý kiến về việc tuân theo pháp luật của thẩm phán, hội đồng xét xử, đương sự và đề xuất chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà B. Cho bà B và ông H được ly hôn. Về con chung tất cả đã trưởng thành. Tài sản chung không yêu cầu Tòa án giia3 quyết nên không đề cập.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về quan hệ hôn nhân: Giữa bà Nguyễn Thị B và ông Trần Quốc H kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại Ủy ban nhân dân Phường Tam Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai nên quan hệ hôn nhân giữa bà B và ông H là hợp pháp. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân theo bà B trình bày ông H thường xuyên uống rượu, về nhà quậy phá và đánh đập vợ con. Ông H xác định mâu thuẫn là do ông đau ốm không làm ra tiền nên vợ chồng xảy ra nhiều cải vã. Nay bà B xin ly hôn thì ông không đồng ý.

Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà B thì thấy: Bà B và ông H thừa nhận vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn từ năm 2012 đến nay. Nguyên nhân là do vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm sống, ông H đau ốm không làm ra tiền, buồn bực nên thường xuyên uống rượu về chưởi bới vợ con làm cho tình cảm vợ chồng càng càng mâu thuẫn trầm trọng. Bà B vì không còn tình cảm với ông H nên không thể hiện sự quan tâm chăm sóc chồng. Vợ chồng tuy sống chung một nhà nhưng không có sự thông cảm, yêu thương nhau. Ông H yêu cầu đoàn tụ nhưng trong một thời gian dài vẫn không đưa ra giải pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu của bà B. Cho bà B được ly hôn với ông H là phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Về con chung: Có 6 con chung nhưng đã trưởng thành nên không đề cập đến.

[4] Về tài sản chung: Hai bên xác định có 1 căn nhà 94A Lộ Đ, phường 5, thành phố Đ. Cả hai tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về nợ chung: Hai bên xác định không có.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên:

1- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị B; cho bà Nguyễn Thị B và ông Trần Quốc H được ly hôn.

2- Về con chung: Các con đã trưởng thành nên không đề cập đến.

3- Về án phí: Bà Nguyễn Thị B chịu 300.000đ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí bà B đã nộp theo biên lai thu số 0007993 ngày 2/5/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đ.

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bà B, ông H được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng để yêu cầu xét xử phúc thẩm.


79
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 60/2018/HNGĐ-ST ngày 12/09/2018 về xin ly hôn

Số hiệu:60/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Đà Lạt - Lâm Đồng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 12/09/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về