Bản án 60/2018/HNGĐ-ST ngày 12/01/2018 về xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 60/2018/HNGĐ-ST NGÀY 12/01/2018 VỀ XIN LY HÔN

Ngày 12 tháng 01 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 38/2017/TLST - HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2017 về việc Xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2017/QĐXX-ST ngày 14 tháng 12 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Vì Thị N – Sinh năm 1994.

Địa chỉ: Tiểu khu A, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thành K – Sinh năm 1991.

Địa chỉ: Tiểu khu A, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La.

Nguyên đơn chị Vì Thị N có mặt, bị đơn anh Nguyễn Thành K vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn ngày 16 tháng 10 năm 2017 và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Vì Thị N trình bày.

Chị Vì Thị N và anh Nguyễn Thành K về ở với nhau từ năm 2012, đến ngày 20/12/2013 thì làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La.

Sau khi kết hôn hai anh chị về sống chung cùng bố mẹ anh K tại Tiểu khu A, thị trấn N, huyện M. Cuộc sống chung vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc đến năm 2016 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh K không chịu khó tu chí làm ăn hay cờ bạc, rượu chè ghen tuông và đánh đập chị N. Mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã được hai bên gia đình cùng địa phương hòa giải xong không đạt kết quả. Hai anh chị sống ly thân từ tháng 10 năm 2017 đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị Vì Thị N có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Thành K.

Về con chung: Có 01 cháu là cháu Nguyễn Gia H – Sinh ngày: 19/10/2012. Trường hợp ly hôn, chị N xin được nuôi dưỡng giáo dục cháu Nguyễn Gia H đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi, chị không yêu cầu anh K phải góp tiền nuôi con cùng với chị.

Về tài sản chung: Không có.

Về vay nợ chung: Không có.

Về án phí: Chị Vì Thị N xin chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu phát biểu ý kiến như sau:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký: Từ khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án cho đến khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện các thủ tục tố tụng theo đúng quy định pháp luật.

- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử tham gia đúng thành phần như trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, các trình tự của phiên tòa sơ thẩm diễn ra theo đúng quy định của pháp luật.

- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án cụ thể như sau:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147; khoản 16 Điều 70; điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

- Xử cho chị Vì Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Thành K.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Gia H – Sinh ngày: 19/10/2012 cho chị Vì Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Tạm hoãn việc đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con đối với anh Nguyễn Thành K.

- Về án phí: Chị Vì Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ kiện, chị N đã cung cấp đầy đủ các chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện.

Anh Nguyễn Thành K đã được Toà án tiến hành triệu tập hợp lệ hai lần hai vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Thành K đã cố tình trốn tránh không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án. Nguyên đơn chị Vì Thị N đã có đơn đề nghị Tòa án tiến hành thu thập các tài liệu chứng cứ liên quan đến vụ án.

Quá trình xác minh với Ban lãnh đạo Tiểu khu A, thị trấn N được biết: Ban lãnh đạo Tiểu khu A có nhận được giấy triệu tập của Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu 02 lần cụ thể vào các ngày 16/11/2017 và ngày 20/11/2017, tiểu khu đã giao cho anh K, nhưng anh K không chịu ký, xác nhận đã nhận được giấy triệu tập của Tòa án.

Ngày 29/11/2017 và ngày 14/12/2017 Tòa án đã phối kết hợp cùng với ban lãnh đạo Tiểu khu A, thị trấn N, huyện M đến gia đình anh K xong không gặp được anh K ở nhà, nên đã tiến hành làm việc với bố, mẹ đẻ anh K là ông, bà H – N xong ông, bà H – N cũng không chịu hợp tác và không cung cấp bất cứ nội dung gì liên quan đến việc xin ly hôn của chị Vì Thị N và anh Nguyễn Thành K.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Vì Thị N và anh Nguyễn Thành K có đăng ký kết hôn ngày 20/12/2013. Việc kết hôn đã tuân thủ các quy định của Luật hôn nhân và gia đình, do đó được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Sau khi kết hôn, tình cảm vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn do anh K không chịu khó tu chí làm ăn hay cờ bạc, rượu chè, ghen tuông và đánh đập chị N một cách vô cớ. Xét thấy mâu thuẫn của vợ chồng anh, chị đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, quá trình giải quyết việc kiện anh K đã được triệu tập, đã được nhận giấy triệu tập nhưng cố tình không đến Tòa án để giải quyết mục đích là gây khó khăn cho chị N, căn cứ vào khoản 1 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Vì Thị N và xử cho chị

Vì Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Thành K.

[3] Về con chung: Xét cần giao cháu Nguyễn Gia H cho chị Vì Thị N trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục là đảm bảo, do vậy cần giao cháu Nguyễn Gia H cho chị Vì Thị N tiếp nuôi dưỡng giáo dục.

Về trách nhiệm đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung, do chị Vì Thị N không yêu cầu nên cần tạm hoãn việc đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con đối với anh K.

[4] Về tài sản chung: Không có; về nợ chung: Không có.

[5] Về án phí: Chị Vì Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 16 Điều 70; điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

1. Xử cho chị Vì Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Thành K.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Gia H – Sinh ngày: 19/10/2012 cho chị Vì Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Tạm hoãn việc đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con đối với anh Nguyễn Thành K.

3. Về án phí:

Chị Vì Thị N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 03826 ngày 16/11/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La. 

Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.


87
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 60/2018/HNGĐ-ST ngày 12/01/2018 về xin ly hôn

Số hiệu:60/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mộc Châu - Sơn La
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 12/01/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về