Bản án 56/2019/HNGĐ-ST ngày 25/09/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 56/2019/HNGĐ-ST NGÀY 25/09/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 25 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tỉnh Long An, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 95/2019/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2019 về việc tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 38/2019/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 9 năm 2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Hạ M, sinh năm 1993, địa chỉ: Số nhà 347/2, ấp L, xã A, huyện Châu Thành, tỉnh Long An. (có mặt)

Bị đơn: Ông Phan Cảnh N, sinh năm 1990, địa chỉ: Số nhà 44/1, ấp 1, xã H, huyện Châu Thành, tỉnh Long An. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bà Phạm Thị Hạ M là Nguyên đơn trình bày trong đơn khởi kiện, trong bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án như sau: Bà M và ông N kết hôn với nhau vào năm 2017, đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã A, huyện Châu Thành, tỉnh Long An. Bà M và ông N chung sống hạnh phúc được 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn, N nhân mâu thuẫn là do bà M và ông N bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, thường xuyên cải vã. Bà M và ông N không còn sống chung với nhau từ tháng 5 năm 2018 đến nay.

Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt, nên bà M quyết định ly hôn với ông Phan Cảnh N.

Về con chung: Bà M và ông Phan Cảnh N có 01 con chung tên Phan Hữu Đ, sinh ngày 22/5/2017, hiện nay con chung tên Phan Hữu Đ do ông N nuôi dưỡng. Nếu được ly hôn, bà M giao con chung tên Phan Hữu Đ cho ông N nuôi dưỡng, bà M không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà M không yêu cầu tòa án giải quyết tài sản chung.

Về nợ chung: Bà M và ông N không có nợ chung.

Bị đơn đã được Toà án tống đạt thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

Các đương sự không còn trình bày hay yêu cầu gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Bà Phạm Thị Hạ M và ông Phan Cảnh N kết hôn với nhau vào năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã A, huyện Châu Thành, tỉnh Long An, hai đương sự cư trú tại huyện Châu Thành, tỉnh Long An. Nay bà Phạm Thị Hạ M yêu cầu ly hôn với ông Phan Cảnh N, căn cứ vào các Điều 28, 35 và 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tỉnh Long An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

[2] Ông Phan Cảnh N vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227 và 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt đối với ông Phan Cảnh N.

[3] Bà Phạm Thị Hạ M và ông Phan Cảnh N chung sống hạnh phúc được 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau, nên thường xuyên cải vã. Các đương sự không hòa giải được mâu thuẫn làm cho mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Bà Phạm Thị Hạ M và ông Phan Cảnh N không còn sống chung với nhau từ tháng 5 năm 2018 đến nay. Xét thấy mâu thuẫn giữa các đương sự là trầm trọng, đời sống chung của các đương sự không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không Đ được. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị Hạ M, cho bà Phạm Thị Hạ M ly hôn với ông Phan Cảnh N.

[4] Về con chung: Bà Phạm Thị Hạ M và ông Phan Cảnh N có 01 con chung tên Phan Hữu Đ, sinh ngày 22/5/2017, hiện nay con chung tên Phan Hữu Đ do ông N nuôi dưỡng. Bà Phạm Thị Hạ M yêu cầu giao cho ông Phan Cảnh N tiếp tục trực tiếp nuôi con, bà Phạm Thị Hạ M không phải cấp dưỡng nuôi con. Yêu cầu của bà Phạm Thị Hạ M về việc nuôi con chung là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị Hạ M, giao cho ông Phan Cảnh N trực tiếp nuôi con chung tên Phan Hữu Đ, bà Phạm Thị Hạ M không phải cấp dưỡng nuôi con.

[5] Các đương sự không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Bà Phạm Thị Hạ M phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn, ông Phan Cảnh N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, theo quy định tại khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, Mễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, Mễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phạm Thị Hạ M, cho bà Phạm Thị Hạ M ly hôn với ông Phan Cảnh N.

2. Về nuôi con chung: Bà Phạm Thị Hạ M và ông Phan Cảnh N có 01 con chung tên Phan Hữu Đ, sinh ngày 22/5/2017, hiện nay con chung tên Phan Hữu Đ do ông Phan Cảnh N nuôi dưỡng. Giao cho ông Phan Cảnh N trực tiếp nuôi con chung tên Phan Hữu Đ, bà Phạm Thị Hạ M không phải cấp dưỡng nuôi con. Bà Phạm Thị Hạ M được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền cản trở. Các đương sự được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí: Bà Phạm Thị Hạ M phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn. Khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí bà Phạm Thị Hạ M đã nộp theo biên lai thu số 0002020, ngày 03 tháng 5 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành tỉnh Long An.

Ông Phan Cảnh N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

4. Bà Phạm Thị Hạ M được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông Phan Cảnh N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm.

5. Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


11
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 56/2019/HNGĐ-ST ngày 25/09/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:56/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành - Long An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 25/09/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về