Bản án 53/2019/HSST ngày 17/05/2019 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 53/2019/HSST NGÀY 17/05/2019 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 17/5/2019, tại Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số: 58/2019/HSST, ngày 12/4/2019, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2019/HSST-QĐ ngày 03/5/2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh năm 1990; Giới tính: Nam; HKTT: Khu phố Tam Lư, phường Đồng Nguyên, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Bố đẻ: Nguyễn Văn Thắng, sinh năm 1964; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị Quyên (đã chết); Gia đình có 04 chị em bị cáo là thứ 2; Vợ, con: Chưa có;

Tiền án: Không có.

Tiền sự: Ngày 25/4/2017 Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc thời hạn 20 tháng (chưa chấp hành)

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/01/2019 đến nay có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Văn Hào, sinh năm 1997

Địa chỉ: Xóm 7 Ninh Hiệp, Gia Lâm, Hà Nội (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 19h ngày 09/01/2019 Phương là bạn mới quen biết với T có điện thoại cho T hỏi mua 400.000đ ma túy. T đồng ý và hẹn Phương đến ngã ba Đồng Xép, xã Hoàn Sơn, huyện Tiên Du để bán ma túy. Sau đó, T đi xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter BKS 29Y6-2222 từ nhà đến phòng trọ của Hoàng Văn Tuấn tại Tam Lư, phường Đồng Nguyên, thị xã Từ Sơn mượn Tuấn 200.000đ và rủ Tuấn đi cùng vì có việc riêng. Tuấn đồng ý. T chở Tuấn đến khu vực Phú Điền, phường Đồng Nguyên bảo Tuấn đứng ngoài trông xe còn T một mình đi bộ vào trong một ngõ tìm mua ma túy. T gặp và mua được 01 gói ma túy quấn ngoài bằng băng dính màu đen với giá 200.000đ của một người đàn bà không quen biết đứng ở rìa đường. Mua xong, T quay ra chỗ Tuấn chở Tuấn đi gặp Phương. Sau khi điện thoại với T xong Phương thuê xe ôm của anh Hưng đi đến chỗ hẹn với T. Đến nơi, Phương bảo anh Hưng đứng đợi bạn cùng Phương để chở Phương về luôn. Khoảng 19h20 phút cùng ngày T và Tuấn đến. Thấy Phương đang đứng đợi cùng bạn gần ghế đá, T đưa gói ma túy vừa mua cho Tuấn bảo mang đặt xuống ghế đá (T không nói cho Tuấn biết gói đó chứa ma túy). Tuấn cầm và để gói ma túy xuống ghế đá rồi quay lại ngồi sau xe T. Phương đến cầm gói ma túy mở ra xem rồi đi đến đưa cho T 400.000đ. Đúng lúc này Công an huyện Tiên Du kiểm tra bắt quả tang và thu giữ cùng tang vật.

Thu giữ của T: Tại lòng bàn tay trái của T 400.000đ, T khai đây là số tiền có được do vừa bán ma túy cho Phương; Tại túi quần sau bên trái T đang mặc 180.000đ; 01 điện thoại Iphone 5 màu đen xám; 01 xe máy Yamaha Exciter BKS 29Y6-2222;

Thu giữ của Phương: 01 gói quấn ngoài bằng băng dính đen, mở ra bên trong có 01 túi nilon màu xanh chứa chất tinh thể màu trắng; 01 điện thoại Nokia 1280 màu đen có thẻ sim

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội cuả mình như cáo trạng đã nêu là đúng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

Tại kết luận giám định số 186/KLGĐ-PC09 ngày 09/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: “Chất tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon màu xanh có khối lượng là 0,0282 gam là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine”.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì đối với kết luận giám định.

Bản cáo trạng số 50/CT-VKS ngày 11/4/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du phân tích lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa phù hợp với nhau; Phù hợp với biên bản phạm pháp quả tang và toàn bộ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội cuả bị cáo, cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, khoản 5 điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; xử phạt bị cáo T từ 28 đến 32 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/01/2019; Phạt bị cáo từ 5.000.000đ đến 7.000.000đ sung qũy nhà nước

Đề nghị áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Tịch thu tiêu hủy tang vật là số ma túy còn lại sau giám định;

Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 400.000đ; 01 điện thoại Iphone 5 màu đen xám có thẻ sim; 01 điện thoại Nokia 1280 màu đen có thẻ sim.

Trả lại bị cáo số tiền 180.000đ nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Trả lại anh Trần Văn Hào chiếc xe máy Yamaha Exciter.

Bị cáo nhận tội không tham gia tranh luận đối với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt;

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo;

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nội dung vụ án đã thể hiện rõ: Khoảng 19h20 ngày 09/01/2019 tại Đồng Xép, xã Hoàn Sơn, huyện Tiên Du; Công an huyện Tiên Du phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Văn T đang có hành vi bán trái phép 0,0282 gam ma túy chất Methamphetamine cho Bùi Huy Phương với giá 400.000đ. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” phạm vào khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du đã truy tố bị cáo với tội danh và điều luật viện dẫn ở trên là hoàn toàn phù hợp, có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật;

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội. Tệ nạn ma túy làm ảnh hưởng đến các chính sách phát triển kinh tế, xã hội cuả Nhà nước, việc đấu tranh đối với các tội phạm về ma túy hiện nay là nhiệm vụ cuả toàn Đảng, toàn dân. Nhà nước ta có nhiều chủ trương, chính sách để bài trừ tệ nạn này. Bất chấp sự ngăn cấm cuả pháp luật, bị cáo đã có hành vi bán ma túy cho người khác nên đã đi vào con đường phạm tội. Hành vi cuả bị cáo đã tiếp tay làm gia tăng tệ nạn ma túy trên địa bàn dân cư, đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng của nhiều loại tôi phạm khác.

Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cuả bị cáo thì thấy;

Tình tiết tăng nặng: Không có;

Tuy nhiên bị cáo có 01 tiền sự, ngày 25/4/2017 T bị Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc thời hạn 20 tháng đến nay chưa chấp hành nên đây là tình tiết cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, điều 51 BLHS.

Từ những phân tích trên xét cần có hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mới đủ giáo dục đối với bị cáo;

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo bán ma túy nhằm mục đích thu lời bất chính nên cần phạt bị cáo một khoản tiền sung quỹ nhà nước;

Về vật chứng: Áp dụng điều 106 BLTTHS; Điều 47 BLHS tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định; Số tiền 400.000đ thu giữ của bị cáo là tiền có được từ việc bán ma túy nên cần tịch thu sung qũy nhà nước. 02 chiếc điện thoại là phương tiện bị cáo và Phương sử dụng liên lạc vào việc mua bán ma túy nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước;

Số tiền 180.000đ là tiền hợp pháp của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo là phù hợp. 01 xe máy Yamaha Exciter số máy 1S94-045992; số khung RLCCE159409Y045996; số máy 1S94-045992 là tài sản hợp pháp của anh Trần Văn Hào, anh Hào cho T mượn xe không biết việc T sử dụng xe đi bán ma túy nên cần trả lại xe cho anh Hào là phù hợp.

Đối với chiếc biển số xe máy của anh Hào, T đã làm mất, anh Hào không yêu cầu bồi thường về biển số xe máy nên không đề cập giải quyết.

Chiếc BKS 29Y6-2222 cơ quan điều tra tra cứu là BKS thuộc sở hữu của Công ty TNHHTM&DV Hải Hiền tuy nhiên qua xác minh theo địa chỉ của công ty không có công ty có tên như vậy hoạt động do vậy cơ quan điều tra tách chiếc biển này tiếp tục điều tra khi nào làm rõ xử lý sau là phù hợp.

Đối với anh Hoàng Văn Tuấn và anh Nguyễn Văn Hưng quá trình điều tra xác định anh Tuấn và anh Hưng không biết và không liên quan đến việc T giao dịch mua bán ma túy với Phương nên cơ quan điều tra không xử lý Tuấn và Hưng là phù hợp;

Đối với người đàn bà bán ma túy cho T, T không biết tên, tuổi địa chỉ nên không làm rõ được, cơ quan điều tra tiếp tục xác minh khi nào làm rõ xử lý sau là phù hợp.

Đối với Bùi Huy Phương căn cứ vào lời khai của Phương về địa chỉ cũng như điện thoại và số thuê bao của Phương cơ quan điều tra đã xác minh tuy nhiên chưa làm rõ được con người cụ thể nên tách ra khi nào làm rõ xử lý sau là phù hợp;

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định cuả pháp luật; Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; Điều 38; Điều 47; Điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 136; Điều 329 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTV Quốc Hội;

Xử phạt: Nguyễn Văn T 28 (Hai mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/01/2019;

Phạt bị cáo 5.000.000đ sung quỹ nhà nước;

Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm;

Tịch thu tiêu hủy tang vật là số ma túy còn lại sau giám định; Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 400.000đ, chiếc điện thoại Iphone 5 có thẻ sim, chiếc điện thoại Nokia 1280 có thẻ sim;

Trả lại bị cáo 180.000đ nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Trả lại anh Trần Văn Hào chiếc xe máy Yamaha Exciter màu đen trắng.

(Tất cả các tang vật hiện có theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/4/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh).

Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận kết quả bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.


42
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 53/2019/HSST ngày 17/05/2019 về tội mua bán trái phép chất ma túy

Số hiệu:53/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tiên Du - Bắc Ninh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:17/05/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về