Bản án 51/2019/HSST ngày 03/05/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH

BẢN ÁN 51/2019/HSST NGÀY 03/05/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 03 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Uông Bí công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 35/2019/HSST ngày 27/03/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 49/QĐXX ngày 18/04/2019 đối với bị cáo:

Phạm Văn H; Tên gọi khác: (không có); sinh ngày: 02/7/1986. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn 9, xã T, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn T (đã chết ) và bà Đoàn Thị M ; Gia đình có 3 anh em bị cáo là con thứ nhất. Vợ là Bùi Thị Kim Th, có 01 con sinh năm 2009.

Tiền án: Không có.

Tiền sự: Tháng 2/2016 đến tháng 2/2018 đi cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy Gia Minh, Hải Phòng.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 17/01/2019, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Uông Bí, có mặt tại phiên tòa.

*Người chứng kiến:

+ Ông Nguyễn Khắc Đ – sinh năm 1964.

Nơi cư trú: Tổ 1, khu Bí Trung 1, phường Đ, thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh

Vắng mặt tại phiên tòa.

+ Chị Nguyễn Phương Anh – Sinh năm 1994

Nơi ĐK HKTT: Khu T, phường L, thàng phố Việt Trì, Phú Thọ.

Chỗ ở: Tổ 2, khu B, phường N, thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 17/01/2019, tại nhà nghỉ Đ thuộc khu T thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh, Công an Uông Bí phối hợp công an phường Đ kiểm tra Phạm văn H có biểu hiện tàng trữ trái phép chất ma túy. Khi bị phát hiện H thả từ lòng bàn tay trái xuống nền nhà 02 túi ni lon màu trắng thì bị Công an phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng.

Vật chứng thu giữ: 02 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (2,5x3)cm và (3x5)cm, bên trong các túi nilon đều chứa chất tinh thể màu trắng; 01 căn cước công dân mang tên H; 1.650.000 đồng (một triệu sáu trăm năm mưới nghìn đồng) và 01 điện thoại di động hiệu Oppo.

Kiểm tra phòng nghỉ số 203, nhà nghỉ Đ, Công an còn thu giữ trong giỏ đựng rác tại phòng 203 nhà nghỉ Đ: 01 ống thủy tinh (một đầu thẳng, một đầu uốn cong) và 01 ống hút bằng nhựa dạng xoắn.

Bản Kết luận giám định số 215/GĐMT, ngày 21/01/2019, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M1, M2), thu giữ của Phạm Văn H là ma túy; Loại: Methamphetamine; Tổng khối lượng: 0,971gam (không phẩy chín bẩy một gam).

Tại Cơ quan điều tra, Phạm văn H khai nhận: Khoảng 20 giờ ngày 16/01/2019, H điều khiển xe mô tô mượn của bạn và manng theo số tiền 4.000.000đ đi đến đoạn đường cầu quay thuộc quận Hồng Bàng thành phố Hải Phòng Nguyễn Thế H mục đích mua ma túy đá để sử dụng. Khi đến Cầu Quay H đi sâu vào ngõ gặp 1 người phụ nữ đứng bên trong cánh cổng hổi mua 1 triệu tiền ma túy đá, người phụ nữ cầm tiền rồi đi vào trong nhà khoảng 1 phút thì quay ra đưa qua ô cửa cho H 2 túi ni lông màu trắng bên trong đều chứa chất tinh thể màu trắng, H cầm và kiểm tra đúng là ma túy và cất vào túi áo khoác trước ngực bên trái đang mặc. Sau khi mua được ma túy H điện thoại rủ bạn gái là chị Nguyễn Phương A đi chơi. Khoảng 0h 30 phút ngày 17/01/2019 H manng số ma túy mua được đến đón Phương A ở khu vực B sau đó cả 2 đi tắc xi đến nhà nghỉ Đ thuê phòng 203 để tâm sự, khi vào phòng H bỏ 1 ống thủy tinh mang theo ( thường gọi là nỏ để sử dụng ma túy ) định sử dụng nhưng chiếc nỏ bị vỡ nên không sử dụng được. Sau đó H cầm 2 gói ma túy trong lòng bàn tay rồi cùng chị Phương A đi xuống quáy lễ tân thanh toán thì bị công an kiểm tra, H thả 02 túy ma túy trong tay xuống nền nhà nhưng bị công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ số ma túy nêu trên.

Bản Cáo trạng số 46/KSĐT-HS ngày 25/3/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Phạm Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo như cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử:

- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Văn H từ 15 (Mười năm) tháng tù đến 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bắt 17/01/2019.

- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị:

+ Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định số 215/GĐMT của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh,01 ống thủy tinh màu trắng,một đầu thẳng, một đầu uốn cong, 01 ống nhựa dạng soắn.

+ Trả lại bị cáo Phạm Văn H 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPOS màu trắng vàng cùng sim liên lạc trong máy có dòng số 89840;20002;15938;49067 và 1.650.000đ (Một triệu sáu trăm năm mươi ngàn) đồng nhưng tạm giữ số tiền để đảm bảo thi hành án.

Tại phiên tòa bị cáo nhận tội, không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo thừa nhận: Việc truy tố và đưa bị cáo ra xét xử là đúng người đúng tội, không oan tội, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Mặc dù vắng mặt tại phiên tòa xong lời khai của những người chứng kiến ông Bùi Khắc Điệp và chị Nguyễn Phương Atrong quá trình điều tra được chứng kiến cơ quan công an bắt giữ H, thu giữ vật chứng như đã nêu trên phù hợp với lời khai của bị cáo .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định, tài liệu, chứng cứ, của Cơ quan điều tra Công an thành phố Uông Bí, của Điều tra viên, của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tài liệu chứng cứ của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng và các tài liệu, chứng cứ được thu thập sử dụng tại phiên tòa của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về việc định tội đối với bị cáo Phạm Văn H:

Lời khai của bị cáo Phạm Văn H tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người chứng kiến, vật chứng thu giữ của bị cáo, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận:

Hồi 2 giờ 30 phút ngày 17/01/2019, tại nhà nghỉ Đ thuộc tổ 1, khu T, phường Đ, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, Phạm Văn H bị bắt quả tang khi đang thực hiện hành vi hành vi tàng trữ để sử dụng 0,971 gam (Không phẩy chín bẩy một gam) ma túy loại Methamphetamine.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự phạm tội do lỗi cố ý.

Hành vi của bị cáo xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy. Với các chứng cứ, hành vi, của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí truy tố bị cáo và lời luận tội của kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Về hình phạt:

[3.1] Về hình phạt chính

Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

Xét về nhân thân: Bị cáo Phạm Văn H phạm thuộc trường hợp nghiêm trọng và khi phạm tội có 1 tiền sự.

Tình tiết tăng nặng: Không có

Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bị cáo do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Để tăng cường biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm nói chung cũng như để giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo cần có một hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để bị cáo sửa chữa lỗi lầm của bản thân.

[3.2] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự, người phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” còn có thể bị phạt tiền từ5.000.000đ (Năm triệu đồng) đến 500.000.000đ (Năm trăm  triệu đồng). Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Phạm Văn H là người không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Về đối tượng bán ma túy cho bị cáo .

Đối với người phụ nữ ma túy cho bị cáo quá trình điều tra cơ quan điều tra không xác định được lai lịch vụ thể nên không đề cập xử lỵ

[5] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPOS màu trắng vàng cùng sim liên lạc trong máy có dòng số 89840;20002;15938;49067 và số tiền 1.650.000 đ( Một triệu sáu trăm năm mươi ngàn đồng) không liên quan đến hành vi phạm tội, trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ tiền để đảm bảo thi hành án.

- Số ma túy hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Từ nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy’’. Xử phạt: Phạm Văn H 18 ( Mười tám ) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt 17/01/2019.

2. Áp dụng: Điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

+ Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định số 215/GĐMT ngày 21-01-2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, 01 ống thủy tinh màu trắng,một đầu thẳng, một đầu uốn cong, 01 ống nhựa dạng soắn.

+ Trả lại bị cáo Phạm Văn H: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPOS màu trắng vàng cùng sim liên lạc trong máy có dòng số 89840;20002;15938;49067 và số tiền 1.650.000 đ( Một triệu sáu trăm năm mươi ngàn đồng) nhưng tạm giữ số tiền để đảm bảo thi hành án.

(Toàn bộ vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/03/2019 giữa Công an TP. Uông Bí và Chi cục thi hành án dân sự TP Uông Bí).

3. Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Phạm Văn H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4/ Áp dụng: Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


37
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 51/2019/HSST ngày 03/05/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:51/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Uông Bí - Quảng Ninh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:03/05/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về