Bản án 509/2019/HNGĐ-ST ngày 28/11/2019 về tranh chấp hôn nhân gia đình ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 509/2019/HNGĐ-ST NGÀY 28/11/2019 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN GIA ĐÌNH LY HÔN

Ngày 28 tháng 11 năm 2019, tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 449/ 2019/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 9 năm 2019 về tranh chấp “Hôn nhân gia đình – ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 209/2019/QĐXXST-HNGĐ, ngày 31 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Đinh Văn Ph, sinh năm 1977.

2. Bị đơn: Chị Lê Thị Kim Kh, sinh năm 1971.

Cùng địa chỉ: Tổ 13, ấp Phú C A, xã Phú Th, huyện Phú T, tỉnh An Giang.

(Anh Ph có mặt, chị Kh vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện cùng bản tự khai nguyên đơn anh Đinh Văn Ph trình bày: Sau khi tìm hiểu, anh và chị Kh tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 2000, không tổ chức lễ cưới, đến nay không đăng ký kết hôn, hôn nhân hạnh Ph đến khoảng năm 2011 thì xảy ra mâu thuẫn, không ai quan tâm đến ai, nguyên nhân vì anh bị tai nạn giao thông khi đi làm ở Bình Dương nên về quê sinh sống điều trị và sinh sống thì chị Kh bỏ đi không quan tâm chăm sóc đến anh, vợ chồng chính thức ly thân từ đó đến nay. Hiện tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên yêu cầu ly hôn với chị Kh.

Về con chung: có 01 con chung tên Lê Gia V, sinh năm 2000, đã trưởng thành, tự lập được, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung; nợ chung phải, thu phải trả: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra không có ý kiến nào khác.

Bị đơn: Chị Lê Thị Kim Kh đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do, không có lời trình bày.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên chị Kh vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án là chấp hành pháp luật chưa nghiêm.

- Về nội dung: Hôn nhân của anh Ph, chị Kh được xác lập trên cơ sở tự tìm hiểu, tự nguyện chung sông như vợ chồng, không tổ chức lễ cưới, không đăng ký kết hôn, nên không công nhận anh Ph, chị Kh là vợ chồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, sau khi nghe Kiểm sát viên phát biểu việc tuân theo pháp luật tố tụng và đề xuất nội dung giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Anh Đinh Văn Ph khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với chị Lê Thị Kim Kh nên xác định quan hệ “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình – Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Chị Lê Thị Kim Kh là bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại ấp Phú Cường A, xã Phú Thạnh, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

Chị Kh đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh, chị theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

Về hôn nhân: Sau khi tìm hiểu, anh Ph và chị Kh tự nguyện chung sống như vợ chồng vào năm 2000 nhưng đến nay vẫn chưa đăng ký kết hôn. Xét, do anh chị chung sống không đăng ký kết hôn (điều này được Ủy ban nhân dân xã Phú Thạnh xác nhận chị Lê Thị Kim Kh và anh Đinh Văn Ph chưa đến UBND xã Phú Thạnh làm thủ tục đăng ký kết hôn) theo quy định tại Điều 14 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC- VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân Tối cao - Viện kiểm sát nhân dân Tối cao - Bộ tư pháp hướng dẫn thi hành một số điều của Luật hôn nhân gia đình nên pháp luật không công nhận anh Ph và chị Kh là vợ chồng.

Về con chung: anh chị có 01 con chung tên Lê Gia V, sinh năm 2000, đã trưởng thành, tự lập được, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung; nợ chung phải thu, phải trả: Các bên không tranh chấp nên không đặt ra xem xét.

Ghi nhận lời trình bày đương sự không nợ chung ai, sau khi quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì anh Ph, chị Kh phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

Ngoài ra, các bên không tranh chấp về vấn đề gì khác.

[3] Về án phí: Anh Ph phải chịu án phí theo quy định pháp luật. Chị Kh không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 14 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 26; khoản 5, khoản 6 Điều 27 và khoản 1 Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

Xử:

- Về hôn nhân: Không công nhận anh Đinh Văn Ph và chị Lê Thị Kim Kh là vợ chồng.

- Về con chung: tên Lê Gia V, sinh năm 2000, đã trưởng thành, tự lập được, không yêu cầu xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung; nợ chung phải thu, phải trả: Các bên không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Đinh Văn Ph phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006160 ngày 16/9/2019 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh An Giang. Chị Lê Thị Kim Kh không phải chịu án phí.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng chị Kh được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản sao bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.


17
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về