Bản án 49/2018/HNGĐ-ST ngày 25/09/2018 về ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 49/2018/HNGĐ-ST NGÀY 25/09/2018 VỀ LY HÔN

Ngày 25 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 80/2018/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2018 về việc "Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2018/QĐXX-HNGĐ ngày 13 tháng 9 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Vũ Văn Q – sinh năm 1984 (có mặt)

ĐKHKTT: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh B

Địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện N, tỉnh N

- Bị đơn: Chị Tạ Thị T – sinh năm 1990. (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Đ, xã N, huyện N, tỉnh N

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 01 tháng 6 năm 2018 và quá trình tham gia tố tụng tại Toà án, nguyên đơn anh Vũ Văn Q trình bày: Anh và chị Tạ Thị T đăng ký kết hôn ngày 09/4/2009 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Y, tỉnh B trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống không hạnh phúc. Nguyên nhân do anh và chị T không có sự đồng cảm, không tìm được tiếng nói chung, luôn bất đồng quan điểm sống, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau. Năm 2016 chị T bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở, đã nhiều lần anh tìm gặp chị T để động viên khuyên nhủ vợ chồng về đoàn tụ nhưng chị T không nghe. Cũng từ đó anh và chị T sống ly thân, không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể kéo dài cuộc hôn nhân này được nữa, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Tạ Thị T.

Về con chung: Anh và chị T không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết

Về tài sản chung và công nợ chung: Vợ chồng anh không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết

Tại bản tự khai ngày 13/9/2018 bị đơn chị Tạ Thị T trình bày: Về thời gian kết hôn, quá trình vợ chồng chung sống anh Q trình bầy là đúng; về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn, do anh Q không quan tâm đến gia đình, chơi bời có quan hệ bất chính với người khác, dẫn đến vợ chồng hay cãi chửi nhau. Tháng 01 năm 2015 chị xin về nhà đẻ ở, từ đó chị và anh Q sống ly thân. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh Q làm đơn xin ly hôn chị nhất trí đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vũ Văn Q;

Về con chung; tài sản chung và công nợ chung: Chị và anh Q không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa: Anh Q giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và quan điểm đã trình bầy và đề nghị nêu trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

 [1]. Về thủ tục tố tụng: Chị Tạ Thị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên được chấp nhận.

 [2]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Vũ Văn Q và chị Tạ Thị T kết hôn do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình vợ chồng chung sống không hạnh phúc, đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn chị T về nhà bố mẹ đẻ ở, cũng từ đó vợ chồng sống ly thân, không quan tâm gì với nhau nữa. Nay cả hai đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ, đều đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn, nên Tòa án chấp nhận xử cho anh Vũ Văn Q ly hôn với chị Tạ Thị T là có căn cứ.

 [3]. Về con chung: Các đương sự không có con chung không đề nghị Tòa án giải quyết, nên Tòa án không đặt ra xem xét.

 [4]. Về tài sản chung và công nợ chung: Các đương sự không đề nghị giải quyết, nên Tòa án không đặt ra xem xét.

 [5]. Về án phí: Anh Vũ Văn Q phải nộp án phí ly hôn theo quy định của của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147; khoản 1, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,

1. Xử ly hôn giữa anh Vũ Văn Q và chị Tạ Thị T

2. Về án phí: Anh Vũ Văn Q phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng anh Q đã nộp theo Biên lai số 0002023 ngày 11 tháng 6 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Trực (anh Q đã nộp đủ án phí).

3. Anh Vũ Văn Q có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Tạ Thị T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày được tống đạt hợp lệ.


74
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 49/2018/HNGĐ-ST ngày 25/09/2018 về ly hôn

Số hiệu:49/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Nam Trực - Nam Định
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:25/09/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về