Bản án 49/2018/HNGĐ-ST ngày 20/07/2018 về xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG

BẢN ÁN 49/2018/HNGĐ-ST NGÀY 20/07/2018 VỀ XIN LY HÔN

Ngày 20 tháng 7 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 203/2017/TLST- HNGĐ ngày 03 tháng 8 năm 2017 về việc: “Xin ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2018/QĐST-HNGĐ, ngày 06 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1983 (có mặt).

Địa chỉ: ấp Hiệp Trung, xã Mỹ Hiệp Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị K, sinh năm 1988 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp Hiệp Trung, xã Mỹ Hiệp Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn xin ly hôn ngày 20 tháng 7 năm 2017 và bản tự khai tại Toà án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang cũng như tại phiên tòa nguyên đơn là anh Nguyễn Văn H trình bày:

Anh và chị Nguyễn Thị K tự nguyện tìm hiểu thương nhau được cha, mẹ hai bên đồng ý tổ chức lễ cưới vào năm 2006 có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Mỹ Hiệp Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Sau khi cưới vợ chồng sống với nhau hạnh phúc và có với nhau có một người con chung tên Nguyễn Thị Ngọc Thơ, sinh ngày 08 tháng 5 năm 2007, chưa tạo dựng được tài sản chung. Năm 2008, thì vợ, chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do kinh tế gia đình khó khăn dẫn đến việc vợ, chồng thường xuyên cự cãi nhau và sống ly thân nhau cho đến nay. Tại phiên tòa anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được anh yêu cầu được ly hôn chị K.

Về con chung: Từ ngày vợ, chồng sống ly thân với nhau con chung là cháu Thơ anh H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến nay. Sau khi ly hôn anh H yêu cầu nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thàng 18 tuổi, không yêu cầu chị K cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn chị Nguyễn Thị K trong quá trình giải quyết vụ án tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng chị K cố tình né tránh vắng mặt không lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn nên không có lời khai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Trên cơ sở tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

 [1] Về thủ tục tố tụng: Căn cứ nội dung đơn khởi kiện của anh Nguyễn Văn H và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các bên đương sự là tranh chấp về hôn nhân và gia đình.

Bị đơn là chị Nguyễn Thị K có địa chỉ tại: ấp Hiệp Trung, xã Mỹ Hiệp Sơn, huyên Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và thụ lý đơn yêu cầu ly hôn theo quy định tại Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình. Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng cho bị đơn nhưng vẫn vắng mặt đến lần thứ hai. Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung vụ án: Anh Nguyễn Văn H và chị Nguyễn Thị K tự nguyện kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Mỹ Thái, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang vào ngày 01 tháng 6 năm 2007 là đúng quy định của pháp luật, không vi phạm điều kiện kết hôn. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa anh H và chị K là hôn nhân hợp

pháp.

 [3]. Sau khi kết hôn, theo lời khai của anh H thì anh và chị K chung sống hạnh phúc được một năm thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do cuộc sống chung giữa vợ chồng không hòa hợp, thường xuyên mâu thuẫn và sống ly thân nhau từ

năm 2008 đến nay. Xét thấy, anh H và chị K sống đã không quan tâm, chăm sóc cho nhau một thời gian dài, không giúp đỡ nhau và nghĩa vụ sống chung của vợ chồng cũng không còn theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Chứng tỏ mâu thuẫn giữa anh H và chị K đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu tiếp tục chung sống cũng không hạnh phúc. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu xin ly hôn của anh H.

 [4]. Về con chung: Cháu Huỳnh Thị Ngọc Thơ, sinh ngày 08 tháng 5 năm 2007, từ ngày ly thân đến nay cháu được anh H nuôi dưỡng chu toàn về mọi mặt. Tại phiên tòa anh H yêu cầu được tiếp tục cháu Thơ và việc này cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu (muốn ở với cha – tức anh H) nên giao cho anh H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật. Chị K không phải cấp dưỡng nuôi con do anh H không yêu cầu.

 [5]. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên miễn xét.

[6]. Về án phí hôn nhân và gia đình: Anh Nguyễn Văn H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 28,  điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 3 Điều 144, khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

- Áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Tuyên Xử  :

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Anh Nguyễn Văn H được ly hôn với chị Nguyễn Thị K.

2. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Thị Ngọc Thơ, sinh ngày 08 tháng 5 năm 2007 cho anh Nguyễn Văn H tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành là 18 tuổi. Chị K không phải cấp dưỡng nuôi con do anh H không yêu cầu.

Chị Nguyễn Thị K có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung. Không ai được cản trở. Không được lạm dụng việc chăm nom để cản hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Bảo lưu quyền thay đổi việc nuôi con chung và yêu cầu cấp dưỡng việc nuôi con chung khi một trong cac bên co yêu câu.

3. Vê tai san chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên miễn xét.

4. Về nơ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên miễn xét.

5. Về án phí hôn nhân và gia đình: anh Nguyễn Văn H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0009087 ngày 03 tháng 8 năm 2017 tại Chi cục Thi hành án huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

6. Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.


46
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 49/2018/HNGĐ-ST ngày 20/07/2018 về xin ly hôn

Số hiệu:49/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hòn Đất - Kiên Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:20/07/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về