Bản án 49/2018/HNGĐ-ST ngày 12/06/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC - TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 49/2018/HNGĐ-ST NGÀY 12/06/2018 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 12 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 106/2018/TLST-HN ngày 05 tháng 4 năm 2018 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Dương Thị Bích T, sinh năm 1993, địa chỉ: ấp Ô, xã T1, huyện M, tỉnh Bến Tre, có đơn xin giải quyết vắng mặt đề ngày 07/5/2018;

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Huỳnh Q, sinh năm 1994, địa chỉ: ấp Ô, xã T1, huyện M, tỉnh Bến Tre, vắng mặt không lý do lần thứ 2.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 05/4/2018 và trong quá trình giải quyết vụ án; nguyên đơn chị Dương Thị Bích T trình bày:

Về hôn nhân: Trên cơ sở tự tìm hiểu quen biết nhau trước chị và anh Nguyễn Huỳnh Q tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T1, vào năm 2017. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 04 tháng thì bắt đầu mất hạnh phúc. Nguyên nhân mất hạnh phúc là do anh Q không quan tâm đến vợ con, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt dẫn đến cự cãi nhau và anh Q đánh chị. Nay chị xin được ly hôn với anh Q vì không còn tình cảm.

Về nuôi con chung: Trong thời gian chung sống anh chị có 01 con chung tên Nguyễn Dương Bảo T2, sinh ngày 18/01/2018, hiện đang sống với chị. Nay ly hôn chị xin được tiếp tục trực tiếp nuôi con, không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản: Trong thời gian chung sống anh chị không có tài sản chung và cũng không có nợ ai.

Bị đơn anh Nguyễn Huỳnh Q vắng mặt vào các lần mời của Tòa cũng như tại phiên tòa hôm nay nên không có lời trình bày. Tòa án đã ra thông báo giao nộp chứng cứ yêu cầu anh Q cung cấp văn bản trình bày ý kiến về việc chị T xin ly hôn và yêu cầu Tòa giải quyết những vấn đề về nuôi con chung, chia tài sản chung khi ly hôn nhưng anh Q không cung cấp.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

- Về tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử là đảm bảo đúng pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đảm bảo, bị đơn không chấp hành đúng quy định pháp luật.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T; Về con chung: Chị T tiếp tục trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Dương Bảo T2, sinh ngày 18/01/2018, anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con do chị T không có yêu cầu; Tài sản chung, nợ chung: Không có nên không đề cập.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà, Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc nhận định:

[1] Đối với nguyên đơn chị Dương Thị Bích T có đơn xin giải quyết vắng mặt đề ngày 07/5/2018 nên căn cứ vào Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị T là phù hợp. Đối với bị đơn anh Nguyễn Huỳnh Q đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên Tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Q là phù hợp.

[2] Về hôn nhân: Hôn nhân của chị Dương Thị Bích T và anh Nguyễn Huỳnh Q là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 04 tháng thì bắt đầu mất hạnh phúc. Theo chị T trình bày nguyên nhân mất hạnh phúc là do anh Q không quan tâm đến vợ con, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt dẫn đến cự cãi nhau và anh Q đánh chị. Anh Q vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nên không có lời trình bày. Tuy nhiên, sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã thông báo cho anh Q đến Tòa để tham gia hòa giải nhằm tạo điều kiện cho anh chị hàn gắn nhưng anh Q vẫn vắng mặt không lý do chứng minh anh không có thiện chí hàn gắn đoàn tụ. Và chị T cương quyết xin được ly hôn với anh Q vì không còn tình cảm. Điều đó chứng tỏ rằng cuộc sống hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T là có căn cứ.

[3] Về nuôi con chung: Chị Tuyền và anh Q có một con chung tên Nguyễn Dương Bảo T2, sinh ngày 18/01/2018, hiện đang sống với chị T. Nay ly hôn chị T có nguyện vọng nuôi con, không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con. Anh Q vắng mặt vào các lần mời của Tòa nên không có lời trình bày. Tuy nhiên, cháu T2 hiện chưa đủ 36 tháng tuổi, cháu đang sống với chị T và hiện tại chị T đảm bảo trực tiếp nuôi cháu T2. Vì vậy, nhằm đảm bảo sự phát triển ổn định về thể chất, tinh thần, tâm sinh lý của cháu T2 nên để cháu T2 cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định pháp luật. Đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con thì việc chị T không yêu cầu cấp dưỡng là sự tự nguyện của chị nên ghi nhận.

[4] Về chia tài sản: Theo chị T trình bày là vợ chồng anh chị không có tài sản chung và không có nợ ai, anh Q đã nhận được thông báo thụ lý vụ án và thông báo giao nộp chứng cứ của Tòa án tuy nhiên anh không có ý kiến hay yêu cầu, tranh chấp gì. Do đó không có căn cứ để xác định anh chị có tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Nếu sau này có tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.

[5] Về án phí: Chị Dương Thị Bích T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

[6] Xét về quan điểm giải quyết vụ án của vị Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc là phù hợp với nhận định của Tòa nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 17 Luật phí và lệ phí; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Dương Thị Bích T. Chị Dương Thị Bích T được ly hôn với anh Nguyễn Huỳnh Q.

2. Về nuôi con chung: Chị Dương Thị Bích T tiếp tục trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Dương Bảo T2, sinh ngày 18/01/2018, anh Nguyễn Huỳnh Q không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Dương Thị Bích T không có yêu cầu cấp dưỡng.

Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và các luật khác có liên quan. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3.Về chia tài sản: Trong thời gian chung sống anh chị không có tài sản chung và cũng không có nợ ai nên không đề cập.

4. Về án phí:

Chị Dương Thị Bích T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị T đã nộp theo Biên lai thu số ******* ngày **/*/**** của Chi cục Thi hành án dân sự huyện M.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


41
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 49/2018/HNGĐ-ST ngày 12/06/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:49/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mỏ Cày Bắc - Bến Tre
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:12/06/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về