Bản án 48/2019/HSST ngày 31/07/2019 về tội cố ý làm hư hỏng tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 48/2019/HSST NGÀY 31/07/2019 VỀ TỘI CỐ Ý LÀM HƯ HỎNG TÀI SẢN

Ngày 31/7/2019 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/2019/TLST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2019/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đặng Hữu L, sinh ngày 07/10/1985. Nơi sinh, nơi cư trú: thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh T. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Đặng Xuân H, sinh năm: 1961. Con bà: Bùi Thị L1, sinh năm: 1965. Vợ, con: chưa có. Tin sự: không.

Tin án: 01 tiền án. Ngày 01/10/2018 L có hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản, giá trị 2.380.080 đồng, Bản án số 01/2019/HS-ST ngày 15/01/2019 Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng xử phạt L 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 2 nă m kể từ ngày 15/01/2019, L đang trong thời gian thử thách của án treo. L chấp hành xong án phí ngày 15/3/2019 (bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/10/2018 đến ngày 10/10/2018).

Nhân thân: Quyết định số 278/QĐ-XPVPHC ngày 10/4/2007 Công an huyện Đông Hưng xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi đánh bạc, đã nộp tiền 1 ngày 13/4/2007. Năm 2004 đi nghĩa vụ trong lực lượng công an nhân dân đến năm 2007 ra quân. Năm 2008 được tuyển dụng hợp đồng lái xe tại Trại giam Sông Cái, Tổng cục VIII, Bộ công an, đến tháng 9/2009 b iên chế vào lực lượng công an nhân dân, đến ngày 01/7/2017, xuất ngũ về địa phương lao động tự do.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/5/2019, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Có mặt tại phiên toà.

* Bị hại:

- Ông Đặng Xuân H, sinh năm 1961

- Bà Bùi Thị L1, sinh năm 1965

Cùng cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh T.

(Tại phiên tòa vắng mặt ông H, bà L1)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ông Đặng Xuân H cùng vợ là bà Bùi Thị L1 và bị cáo Đặng Hữu L (là con của ông H, bà L) sống cùng một nhà. Ông H và bà L1 ở phòng ngủ tầng 1 còn L ở trên tầng 2. Sáng ngày 24/4/2019 ông H và bà L1 sang nhà con gái là chị Đặng Thị Trà M, ở nhà chỉ có bị cáo L. Khi đi ông H, bà L1 cầm chìa khóa phòng ngủ riêng, bị cáo L chỉ có chìa khóa nhà ở, không có chìa khóa phòng ngủ của ông H và bà L1. Khoảng 15 giờ ngày 24/4/2019 do bị cáo cần sổ hộ khẩu gia đình để vay tiền ngân hàng nhưng không hỏi ông H, bà L1 về sổ hộ khẩu ở đâu mà tự đi tìm. Bị cáo L nghĩ sổ hộ khẩu ở két sắt trong phòng ngủ của bố mẹ để ở tầng 1 nên nảy sin h ý định mở phòng ngủ của ông H, bà L1 để tìm. Khi bị cáo L mở cửa phòng ngủ thì thấy cửa khóa không vào được. Cửa phòng ngủ làm bằng gỗ có 2 cánh mỗi cánh được gắn một ô kính, mỗi ô kính có kích thước (40x11) cm, loại kính trắng, dày 4mm. Bị cáo L lấy ở trong hòm đựng đồ của gia đình một chiếc đục bằng kim loại màu đen dạng hình chữ T dài 12,5 cm, một đầu dẹt, bề ngang phần lưỡi rộng 1,5 cm đã bị mẻ một phần và một chiếc búa dài 29,8 cm, cán búa bằng gỗ hình trụ, đầu cán sơn màu đỏ, chiều dài 27,2 cm, đầu búa làm bằng kim loại màu đen, kích thước (10,5x2,27) cm, gồm một đầu đóng đinh, một đầu nhổ đinh. Sau đó bị cáo L dùng tay trái cầm búa, tay phải cầm đục, đục thẳng theo chiều từ sau ra trước vào 2 ô cửa kính lắp tr ên cánh cửa phòng ngủ của ông H, bà L1. Bị cáo L đục hai nhát vào lần lượt hai ô cửa kính thì kính vỡ. Bị cáo L thò tay qua ô kính để vặn khóa cửa bên trong và mở cửa đi vào phòng ngủ của ông H, bà L1. Bị cáo L quan sát thấy có một két sắt nhãn hiệu Comeco, màu xanh, kích thước (88x45x35) cm đặt ở góc trái, cạnh cửa đi vào phòng ngủ. Bị cáo L dùng tay trái cầm búa, tay phải cầm đục và đục hai nhát vào núm vặn trên cánh cửa của chiếc két sắt thì núm vặn bị vỡ rơi xuống đất. Bị cáo L tiếp tục dùng búa và đục để đục vào núm tay cầm bên cạnh núm vặn trên cửa két sắt thì núm tay cầm bị vỡ rơi x uống đất. Do két sắt vẫn không mở được nên bị cáo L bỏ đi ra ngoài. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, bị cáo L gọi điện thoại cho bà L1 nói bị cáo đã đập cửa kính phòng ngủ và phá két sắt trong phòng ngủ. Về chi ếc két sắt là tài sản của ông H, bà L1 bỏ tiền mua cách đây khoảng 4 năm, hai ô cửa kính có từ ngày xây nhà năm 2011 là tài sản của ông H, bà L1, bị cáo L không đóng góp công sức, tài sản gì đối với các tài sản này. Đến sáng ngày 27/4/2019 khi ông H, bà L1 về nhà phát hiện cửa kính phòng ngủ bị vỡ, két sắt bị đục đã có đơn trình báo Công an huyện Đông Hưng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đông Hưng tiến hà nh khám nghiệm hiện trường nhà ở của ông Đặng Xuân H ở thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh T quản lý: 01 máy cắt bằng kim loại vỏ màu đỏ, có lưỡi kim loại; nhiều mảnh kính vỡ, loại kính lắp trên cánh cửa gỗ; nhiều mảnh vỡ của một bộ khóa két sắt nhãn hiệu Comeco sơn màu xanh. Ngày 28/4/2019 Công an huyện Đông Hưng quản lý của Đặng Hữu L: 01 chiếc búa đinh dài 29,8 cm, cán búa bằng gỗ hình trụ, đầu cán sơn màu đỏ, chiều dài 27,2 cm, đầu búa làm bằng kim loại màu đen, kích thước (10,5x2,27) cm, gồm một đầu đóng đinh, một đầu nhổ đinh; một chiếc đục bằng kim loại màu đen dạng hình chữ T dài 12,5 cm, một đầu dẹt, bề ngang phần lưỡi rộng 1,5 cm đã bị mẻ một phần.

Ti bản Kết luận định giá tài sản số 125 ngày 07/5/2019 của Hội đồng định giá tài sản huyện Đông Hưng kết luận: 02 tấm kính màu trắng, kích thước đo (40x11) cm dày 0,4 cm, loại kính dùng để lắp đặt trên cánh cửa gỗ, đã qua sử dụng còn 20% có giá trị là 18.000 đồng. Trị giá 01 bộ khóa két sắt nhãn hiệu comeco và công thợ là 950.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 968.000 đồng.

Bản cáo trạng số 46/CT-VKSĐH ngày 08/7/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Đặng Hữu L về tội: "Cố ý làm hư hỏng tài sản" theo điểm b khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà sơ thẩm:

Bị cáo Đặng Hữu L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đã truy tố. Bị cáo thừa nhận có hành vi dùng búa và đục kim loại làm hư hỏng 02 tấm kính cửa phòng ngủ và 01 cánh két sắt của ông Đặng Xuân H và bà Bùi Thị L1, trị giá tài sản bị thiệt hại là 968.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng tham gia phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Đặng Hữu L phạm tội "Cố ý làm hư hỏng tài sản".

* Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 178; điểm s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Đặng Hữu L từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Áp dụng Điều 56, Khoản 5 Điều 65 đề nghị tổng hợp hình phạt với bản án số 01/2019/HS – ST ngày 15/01/2019 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Đặng Xuân H và bà Bùi Thị L1 không yêu cầu bị cáo Đặng Hữu L phải bồi thường về tài sản bị thiệt hại do L gây ra, nên không đặt ra giải quyết.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng và án phí.

Bị cáo Đặng Hữu L nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tn cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Đông Hưng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét lời khai nhận tội của bị cáo Đặng Hữu L phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa như:

- Sơ đồ hiện trường và biên bản khám nghiệm hiện trường do Công an huyện Đông Hưng lập hồi 11 giờ 30 phút ngày 27/4/2019 .

- Biên bản ghi lời khai của bị hại là ông Đặng Xuân H và bà Bùi Thị L1.

- Biên bản giao nhận đồ vật.

- Biên bản xác định tài sản bị thiệt hại.

- Bản kết luận định giá tài sản số 125 ngày 07/5/2019 Có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 15 giờ ngày 24 tháng 4 năm 2019, tại gia đình ông Đặng Xuân H,bà Bùi Thị L1, bị cáo Đặng Hữu L là người có 01 tiền án về tội cố ý làm hư hỏng tài sản chưa được xóa án tích có hà nh vi dùng búa và đục kim loại làm hư hỏng 02 tấm kính cửa phòng ngủ và 01 cánh két sắt của ông Đặng Xuân H và bà Bùi Thị L1, trị giá tài sản bị thiệt hại là 968.000 đồng ( Chín trăm sáu mươi tám nghìn đồng). Hành vi của bị cáo đã phạm tội "Cố ý làm hư hỏng tài sản" theo điểm b khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.

Điều 178. Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản

1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

.................

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

[3] Đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, làm cho chủ sở hữu tài sản không yên tâm trong việc quản lý tài sản của mình, bị cáo chỉ vì cần sổ hộ khẩu gia đình để vay tiền ngân hàng mà cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác nên đã phạm tộị. Vì vậy, cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX thấy: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào; Về tình tiết giảm nhẹ bị cáo sau khi phạm tội thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, bị cáo có thời gian tham gia lực lượng công an nhân dân, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: ông Đặng Xuân H và bà Bùi Thị L1 không yêu cầu bị cáo Đặng Hữu L phải bồi thường về tài sản bị thiệt hại do L gây ra nên không đặt ra giải quyết.

[7] Về vật chứng: Đối với 01 máy cắt quản lý tại nhà ông H, bị cáo L không sử dụng làm công cụ phạm tội; 01 búa và 01 đục kim loại bị cáo L sử dụng vào việc đục 2 tấm kính và két sắt; qua xác minh toàn bộ đồ vật t ài sản trên là của ông Đặng Xuân H và bà Bùi Thị L1. Vì vậy cần trả lại cho ông Đặng Xuân H và bà Bùi Thị L1.

- Đối với mảnh kính vỡ và mảnh vỡ của một bộ khóa két sắt nhãn hiệu Comeco không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[9] Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Đặng Hữu L phạm tội "Cố ý làm hư hỏng tài sản"

2. Áp dụng:

* Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 178; điểm s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt bị cáo Đặng Hữu L 06 (sáu) tháng tù.

Áp dụng Điều 56, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Tổng hợp hình phạt của bản án số 01/2019/HS-ST ngày 15/01/2019 Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng xử phạt bị cáo Đặng Hữu L 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 2 năm kể từ ngày 15/01/2019 về tộ i “Cố ý làm hư hỏng tài sản” và hình phạt của bản án này.

Buộc bị cáo Đặng Hữu L phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 01 năm 06 tháng (một năm sáu tháng) tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/5/2019 được trừ 09 ngày bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/10/2018 đến ngày 10/10/2018 của lần bị cáo phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo bản án số 01/2019/HS-ST ngày 15/01/2019 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về trách nhiệm dân sựKhông đặt ra giải quyết.

4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự:

- Tuyên trả: Ông Đặng Xuân H, sinh năm 1961 và Bà Bùi Thị L1, sinh năm 1965; Cùng cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh T. 01 máy cắt bằng kim loại vỏ màu đỏ, có lưỡi kim loại; 01 chiếc búa đinh dài 29,8 cm; một chiếc đục bằng kim loại màu đen dạng hình chữ T dài 12,5 cm.

- Tịch thu tiêu hủy nhiều mảnh kính vỡ, nhiều mảnh vỡ của một bộ khóa két sắt nhãn hiệu Comeco.

(Đưc thể hiện chi tiết tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/7/2019 giữa Công an huyện Đông Hưng và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Hưng)

5. Về án phí: Bị cáo Đặng Hữu L phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai, sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt ông H, bà L1 báo cho biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


36
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 48/2019/HSST ngày 31/07/2019 về tội cố ý làm hư hỏng tài sản

Số hiệu:48/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đông Hưng - Thái Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 31/07/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về