Bản án 47/2019/HNGĐ-ST ngày 15/07/2019 về tranh chấp xin ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG

BẢN ÁN 47/2019/HNGĐ-ST NGÀY 15/07/2019 VỀ TRANH CHẤP XIN LY HÔN

Trong ngày 15 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành A xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 102/2019/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2019 về tranh chấp xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2019/QĐXX-ST ngày 28 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Đỗ Hoài B

Địa chỉ cư trú: Ấp Trường Hiệp B, xã Trường Long B, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang. (có mặt tại phiên tòa)

2. Bị đơn: Nguyễn Thị T

Địa chỉ cư trú: Ấp Trường Hiệp B, xã Trường Long B, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 12 tháng 3 năm 2019 và trong quá trình tố tụng tại tòa án, nguyên đơn anh Đỗ Hoài B trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị T kết hôn với nhau tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào ngày 14/5/2015 tại Ủy ban Nhân dân xã Trường Long B. Quá trình chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm nên đã ly thân từ tháng 10 năm 2017 đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị T.

Về con chung: Anh và chị T có 01 con chung cháu tên Đỗ Minh T sinh ngày 25/12/2015. Hiện nay cháu T đang sống với anh từ khi chị T và anh ly thân cho đến nay. Anh yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu T và chưa yêu cầu chị T cấp dưỡng.

Về Tài sản chung và nợ chung: Không có.

Bị đơn chị Nguyễn Thị T vắng mặt nên Tòa án không thể tiến hành thu thập chứng cứ nên không có lời trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân huyện Châu Thành A phát biểu quan điểm về trình tự thủ tục tố tụng là đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đảm bảo cho đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ. Đối với chị Nguyễn Thị T Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T là đúng quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Chấp nhận cho anh Đỗ Hoài B được ly hôn với chị Nguyễn Thị T. Về con chung đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Đỗ Minh T sinh ngày 25/12/2015 cho anh Đỗ Hoài B được tiếp tục nuôi dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Anh Đỗ Hoài B và chị Nguyễn Thị T kết hôn với nhau tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Trong quá trình chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Nay tình cảm vợ chồng không còn, anh B làm đơn xin ly hôn với chị T nên phát sinh tranh chấp. Đây là tranh chấp về quan hệ hôn nhân và gia đình được Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 điều chỉnh thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do chị Nguyễn Thị T là người bị kiện (bị đơn) có địa chỉ cư trú tại Ấp Trường Hiệp B, xã Trường Long B, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang nên thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án Nhân dân huyện Châu Thành A theo quy định tại Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Quá trình tố tụng tại tòa án bị đơn chị Nguyễn Thị T đã được Tòa án đã tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật triệu tập chị T đến Tòa án để tiến hành thu thập chứng cứ nhưng chị T không có mặt theo thông báo của Tòa án và cũng không có cung cấp chứng cứ chứng minh sự vắng mặt của chị là có lý do chính đáng nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 228 xét xử vắng mặt chị T.

[2] Xét về quan hệ hôn nhân giữa anh Đỗ Hoài B và chị Nguyễn Thị T là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Quá trình sống chung do bất đồng quan điểm nên đã ly thân từ tháng 7 năm 2017 đến nay. Điều này chứng minh đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, tại phiên tòa hôm nay anh B vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện với chị T nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận cho anh Đỗ Hoài B được ly hôn với chị Nguyễn Thị T.

[3] Về con chung: Anh Đỗ Hoài B và chị Nguyễn Thị T có 01 con chung cháu tên Đỗ Minh T sinh ngày 25/12/2015. Hiện nay cháu T đang sống với anh B. Xét yêu cầu nuôi con chung của anh B Hội đồng xét xử nhận thấy cháu T sống chung với anh B từ khi cháu sinh ra đến nay nên nhằm ổn định chỗ ở và cuộc sống của cháu T nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho anh B được tiếp tục nuôi cháu T. Do anh B chưa có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung cho nên chị T chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tuy nhiên, do chị T là người không trực tiếp nuôi con chung cho nên anh B phải tạo điều kiện thuận lợi để cho chị T được thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[4] Về án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: Theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Do anh Đỗ Hoài B là nguyên đơn trong vụ án cho nên anh B phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đồng.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho anh Đỗ Hoài B được ly hôn với chị Nguyễn Thị T, đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Đỗ Minh T sinh ngày 25/12/2015 cho anh Đỗ Hoài B được tiếp tục nuôi dưỡng, về tài sản chung và nợ chung không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Về án phí nguyên đơn phải chịu là 300.000 đồng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 147, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đỗ Hoài B

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho anh Đỗ Hoài B được ly hôn với chị Nguyễn Thị T.

2. Về con chung: Giao cháu Đỗ Minh T, sinh ngày 25 tháng 12 năm 2015 cho anh Đỗ Hoài B được tiếp tục nuôi dưỡng. Do anh Đỗ Hoài B chưa có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung cho nên chị Nguyễn Thị T chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho chị Nguyễn Thị T không ai được quyền ngăn cản.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, anh Đỗ Hoài B phải chịu 300.000đồng. Chuyển 300.000đồng tiền tạm ứng án phí anh Đỗ Hoài B đã nộp theo biên lai số 0018793 ngày 01 tháng 4 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành A thành án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai tại trụ sở chính quyền địa phương nơi cư trú.


40
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 47/2019/HNGĐ-ST ngày 15/07/2019 về tranh chấp xin ly hôn

Số hiệu:47/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành A - Hậu Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 15/07/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về