Bản án 45/2019/HNGĐ-ST ngày 08/04/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 45/2019/HNGĐ-ST NGÀY 08/04/2019 VỀ LY HÔN

Trong ngày 08 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 39/2019/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2019/QĐXX-ST ngày 01 tháng 3 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị V, sinh năm 1987 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Bình Thủy, xã Hòa Khánh Đông, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An

2. Bị đơn: Ông Lê Minh T, sinh năm 1981 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp 2, xã Hựu Thạnh, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An 

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 02 tháng 01 năm 2019 và trong những lời khai tiếp theo tại Tòa án bà Trần Thị V trình bày:

Về hôn nhân: bà và ông Lê Minh T có tìm hiểu nhau thời gian khoảng 03 tháng tiến đến hôn nhân vào năm 2007, hai người có đến Ủy ban nhân dân xã Hựu Thạnh, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào ngày 12/12/2007. Trong quá trình chung sống hai vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn cãi vã do ông T không lo làm ăn không quan tâm chăm sóc vợ con mặc dù bà có khuyên can nhưng ông T không thay đổi tính tình. Hai người đã ly thân từ năm 2015 đến nay. Cả hai không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình. Nay bà kiên quyết xin được ly hôn với ông T.

Về con chung: có 02 con chung tên Lê Anh D sinh ngày 06/3/2007 và Lê Hoàng A sinh ngày 20/6/2014. Hiện ông T đang nuôi con tên Anh D còn bà nuôi con tên Hoàng A. Khi ly hôn bà đề nghị giữ nguyên tình trạng nuôi con không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung: tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung: không có.

Đi với bị đơn: ông Lê Minh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không phản hồi ý kiến gì về việc giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Quan hệ pháp luật tranh chấp là hôn nhân gia đình, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Đức Hoà theo quy định tại Điều 35 Bộ luật dân sự. Ông Lê Minh T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử văn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông T. Đối với bà Trần Thị V có đơn xin xét xét xử vắng mặt nên căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà.

[2] Về hôn nhân: Xét thấy bà Trần Thị V và ông Lê Minh T hai người trước khi kết hôn có tìm hiểu nhau thời gian 03 tháng và tự nguyện kết hôn chung sống với nhau vào năm 2007, hai người có đăng ký kết hôn nên Hôn nhân của ông bà là phù hợp Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Thấy rằng từ khi chung sống, hai người chỉ hạnh phúc thời gian đầu về sau cuộc sống chung không hợp nhau, cãi vã do ông Tâm không lo làm ăn không quan tâm chăm sóc vợ con nên hai người ly thân từ năm 2015 đến nay. Bà V kiên quyết ly hôn. Hội đồng xét xử thấy rằng mâu thuẫn vợ chồng giữa bà V và ông T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Đối với ông T được Tòa án triệu tập hợp lệ đến Tòa để hòa giải đoàn tụ nhưng không đến. Do đó cần chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của bà Vẫn đối với ông T.

[3] Về con chung: bà V và ông T có 02 con chung tên Lê Anh D sinh ngày 06/3/2007 và Lê Hoàng A sinh ngày 20/6/2014. Hiện ông T đang nuôi con tên Anh D còn bà V nuôi con tên Hoàng A. Khi ly hôn bà V đề nghị giữ nguyên tình trạng nuôi con không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu này của bà V là phù hợp nên chấp nhận.

[4] Về tài sản chung: bà V khai tự thỏa thuận nên không đề cập xem xét.

[5] Về nợ chung: bà V khai không có nên không đề cập xem xét.

[6] Về án phí: bà V là nguyên đơn trong vụ án phải chịu án phí Hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 35, Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1/ Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị V được ly hôn ông Lê Minh T 2/ Về con chung: Giữ nguyên tình trang nuôi con là bà V tiếp tục nuôi con Lê Hoàng A sinh ngày 20/6/2014 và ông T tiếp tục nuôi con tên Lê Anh D sinh ngày 06/3/2007 không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con vì bà V không yêu cầu. Vì quyền lợi của trẻ, các đương sự được quyền thăm nom chăm sóc giáo dục con chung không ai có quyền ngăn cản. Khi cần thiết các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi tình trạng nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

3/ Về án phí: Bà V phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước, được khấu trừ số tiền đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà V đã nộp theo biên lai số 3972 ngày 08/01/2019 tại Chi cục thi hành án huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”./. 


42
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 45/2019/HNGĐ-ST ngày 08/04/2019 về ly hôn

Số hiệu:45/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đức Hòa - Long An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 08/04/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về