Bản án 43/2019/HS-ST ngày 31/07/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH T

BẢN ÁN 43/2019/HS-ST NGÀY 31/07/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 31 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh T, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 42/2019/HSST ngày 04 tháng 7 năm 2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2019/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: PHẠM TUẤN V, sinh ngày 20/8/1996; tại: T; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Ấp N 1, xã C, huyện D, tỉnh T; Chỗ ở hiện nay: Ấp N 1, xã C, huyện D, tỉnh T; Nghề nghiệp: Làm mướn; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Điện và bà Nguyễn Kim Liên; Vợ con: chưa có.

- Tiền sự, tiền án: Không có.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 10/5/2019 đến ngày 19/5/2019 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Anh Trần Mã Qui, sinh năm 1983.

Trú tại: Ấp Hiệp Long, xã Hiệp Tân, huyện H, tỉnh T (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Tuấn V là nhân viên bảo vệ của Công ty trách nhiệm hữu hạn xuất nhập khẩu - thương mại - vận tải - dịch vụ Bảo Duy, địa chỉ số 250, đường Lý Thường Kiệt, khu phố 4, thị trấn H, huyện H, tỉnh T. Sáng ngày 29/4/2019, sau khi hết ca trực về nhà, V nảy sinh ý định lén lút đến Công ty Bảo Duy lấy trộm xe mô tô đem bán lấy tiền trả nợ và tiêu xài.

Khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, V điều khiển xe mô tô biển số 70L8-6254 đến quán cà phê Bảy Thời Gian thuộc khu phố 4, thị trấn H, huyện H (Đối diện Công ty Bảo Duy) gửi xe và ngồi uống nước. Sau đó, V đi bộ sát tường rào vào khu vực nhà xe của Công ty Bảo Duy. Sau khi quan sát không thấy ai, V lén lút lấy xe mô tô hiệu Honda Wave biển số 70G1-46397 của anh Trần Mã Qui là nhân viên giao hàng của Công ty Bảo Duy, đẩy bộ đến tiệm sửa xe Thành Công do anh Mai Hoàng Sơn, sinh năm 1994 làm chủ. V nói bị mất chìa khóa xe và nhờ anh Sơn cắt dây nguồn điện để nổ máy. Sau khi nổ máy, V điều khiển sang khu vực Casino – Camphuchia cầm cố cho một người Campuchia không quen biết được 4.000.000 đồng, xong thuê xe ôm chở về quán cà phê Bảy Thời Gian lấy xe chạy về nhà. Số tiền có được từ việc cầm cố xe lấy trộm, V trả nợ 1.616.000 đồng, số còn lại tiêu xài. Đến ngày 10/5/2019, V ra đầu thú.

* Tại Kết luận định giá tài sản số 64/KLĐG-TTHS ngày 09/5/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H, kết luận: Xe mô tô hiệu Honda Wave biển số 70G1-46397 có giá trị 13.000.000 đồng.

Bản cáo trạng số: 44/QĐ/KSĐT ngày 04 tháng 7 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh T đã truy tố bị cáo Phạm Tuấn V về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh T vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo V về tội danh như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

* Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Tuấn V án từ 06 tháng đến 09 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo V vì bị cáo không có tài sản riêng.

* Về biện pháp tư pháp:

Bị cáo Phạm Tuấn V đã bồi thường xong cho bị hại Trần Mã Qui số tiền là 14.000.000 đồng (Mười bốn triệu đồng).

Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng: Bị cáo đã ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt ở mức thấp nhất để bị cáo sớm trở về gia đình làm ăn lương thiện trở thành công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp đúng theo quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi của bị cáo thể hiện: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 19/4/2019, tại nhà để xe Công ty Bảo Duy thuộc khu phố 4, thị trấn H, huyện H bị cáo Phạm Tuấn V đã có hành vi lén lút lấy trộm xe mô tô hiệu Honda Wave biển số 70G1-46397 có giá trị 13.000.000 đồng của anh Trần Mã Qui. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

[3] Bị cáo V vẫn biết việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền tiêu xài và chọn con đường kiếm tiền nhanh nhất mà không phải qua lao động nên dẫn đến việc phạm tội. Do đó, Viện kiểm sát huyện H truy tố bị cáo V về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Tuấn V là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác một cách trái pháp luật, nên phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi đã thực hiện Khi quyết định hình phạt có xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, phạm tội lần đầu và thộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường xong cho bị hại. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo tự ra đầu thú, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có Do bị cáo Phạm Tuấn V không có tài sản nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng:

- 01 (một) chiếc xe mô tô biển số 70L8-6254 nhãn hiệu Wave, Zinda, màu sơn xanh, số khung VOPPCHOO11P004946; số máy:VDPLC152FMH002446 xe này do bị cáo mua lại của khác chưa sang tên.

- 01 (một) điện thoai di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J3 pro, SM-J330G/DS 16 GB, màu xám, số imei 1: 354814/09/076689/6; imei 2: 354815/09/076689/3.

- 01 (một) mũ bảo hiểm màu trắng sọc màu cam, hai bên nón có ghi chữ “Bạch yến Karaoke gia đình”.

- 01 (một) cái quần Jean màu xanh, loại quần dài.

- 01 (một) đôi dép quai kẹp bằng nhựa, màu đen.

Tại phiên tòa bị cáo V có yêu cầu nhận lại số tài sản trên. Xét thấy số tài sản mà bị cáo yêu cầu được nhận lại không liên quan đến việc thực hiện phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trần Tuấn V đã bồi thường xong cho bị hại anh Trần Mã Qui số tiền 14.000.000 đồng. Tại phiên tòa, anh Qui không yêu cầu bồi thường gì thêm.

[7] Bị cáo V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Tuấn V phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Tuấn V 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 10/5/2019 đến ngày 19/5/2019.

2. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo V đã bồi thường xong cho bị hại Trần Mã Qui số tiền 14.000.000 đồng (Mười bốn triệu đồng). Anh Qui không yêu cầu bồi thường gì thêm.

3. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả lại cho bị cáo Phạm Tuấn V: 01 (một) chiếc xe mô tô biển số 70L8-6254 nhãn hiệu Wave, Zinda, màu sơn xanh, số khung VOPPCHOO11P004946; số máy: VDPLC152FMH002446; 01 (một) điện thoai di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J3 pro, SM-J330G/DS 16 GB, màu xám, số imei 1: 354814/09/076689/6; imei 2: 354815/09/076689/3, đã qua sử dụng; 01 (một) mũ bảo hiểm màu trắng sọc màu cam, hai bên nón có ghi chữ “Bạch yến Karaoke gia đình”, đã qua sử dụng; 01 (một) cái quần Jean màu xanh, loại quần dài, đã qua sử dụng; 01 (một) đôi dép quai kẹp bằng nhựa, màu đen, đã qua sử dụng. (Hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện H, tỉnh T đang tạm giữ).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Phạm Tuấn V phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).

Án hình sự sơ thẩm xử công khai báo cho bị cáo và bị hại biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


18
Bản án/Quyết định được xét lại
 
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 43/2019/HS-ST ngày 31/07/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:43/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hòa Thành - Tây Ninh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 31/07/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về