Bản án 43/2019/HSST ngày 20/06/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN

BẢN ÁN 43/2019/HSST NGÀY 20/06/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Vào hồi 07 giờ 30 phút ngày 20 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 43/2019/TLST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2019/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn H; tên gọi khác: Không; sinh năm: 1997; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Bản B, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên; dân tộc: Thái; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 8/12; con ông: Lò Văn T, sinh năm: 1960; con bà: Lò Thị H, sinh năm: 1960; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: 01 tiền sự về tội trộm cắp tài sản; tiền sự: Không; nhân thân: Bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/02/2019 tại Nhà tạm giữ của Công an huyện Tuần Giáo cho đến nay, bị cáo được trích xuất áp giải đến phiên tòa.

* Bị hại: Họ và tên: Phan Thị Lan T; sinh năm: 1980; trú tại: Khu 3, xã Y, huyện C, tỉnh Phú Thọ; vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Họ và tên: Phạm Hùng T; sinh năm: 1973; trú tại: Khu 3, xã Y, huyện C, tỉnh Phú Thọ; vắng mặt.

* Người làm chứng:

1. Họ và tên: Lò Thị Inh; sinh năm 1974; trú tại: Bản B, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên; vắng mặt.

2. Họ và tên: Lò Văn Bảy; sinh năm 1973; trú tại: Bản B, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 08 giờ ngày 18/8/2018, bị cáo Lò Văn H một mình đi bộ từ nhà ở bản B, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên đi ra Quốc lộ 279. Khi bị cáo đi qua nhà Lò Văn T; sinh năm 1987; trú tại bản B, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên, T đã vẫy tay gọi bị cáo H vào và nói “Mày có thấy chiếc xe ô tô kia không, để ý nó vào rửa tay thì vào xem có gì đáng giá thì lấy”, T vừa nói vừa chỉ tay về phía chiếc xe ô tô tải đang đỗ trước cửa nhà anh Th T, xe đỗ đầu xe quay về hướng Điện Biên. Bị cáo đồng ý và quan sát thì thấy chị Phan Thị Lan T; sinh năm 1980; trú tại khu 3, xã Y, huyện C, tỉnh Phú Thọ cùng một số nhân viên đang giao hàng cho chị Lường Thị T trú tại bản B, xã C. Khoảng 5 phút sau thì thấy lái xe và chủ hàng đều đi vào trong nhà chị T. Khi thấy không còn ai, bị cáo đã lén ra mở của bên lái của ô tô và trèo lên xe để tìm tài sản. Lúc này bị cáo phát hiện có 01 túi xách màu đỏ để trên cabin xe, nên đã cầm lấy túi xách rồi xuống xe chạy vào nhà T. Bị cáo liền bỏ chiếc túi vừa trộm cắp được vào trong xô nhựa của nhà T và xách xô đi vào khu vực phía sau nhà ông T trú cùng bản. Bị cáo quan sát không thấy ai, bị cáo liền mở túi ra xem, lúc này T cũng chạy đến và đứng xem bị cáo mở túi xách. Khi mở túi xách, bị cáo thấy bên trong túi có 01 ví da màu nâu, bên trong có 10.500.000đ, 01 quyển sổ bìa cứng màu đen, 01 sợi dây chuyền vàng, 01 chứng minh nhân dân, 01 giấy phép lái xe ô tô, 01 chìa khóa xe máy và 02 khẩu trang bằng vải. Sau khi xem xong, bị cáo đếm tiền đưa cho T 4.000.000đ; T nhận tiền và đi về, còn bị cáo lấy chiếc ví da mầu nâu và sợi dây chuyền cho vào túi quần. Số tài sản còn lại bị cáo cho vào túi sách màu đỏ vứt xuống suối ở khu vực cầu bản Bó, xã Chiềng Đông. Sáng ngày 19/8/2018, bị cáo đón xe khách xuống Sơn La và bán sợi dây chuyền vàng cho một cửa hiệu vàng bạc, nhưng bị cáo không nhớ tên, địa chỉ được 1.100.000đ. Sau khi bán dây chuyền xong, bị cáo vào nghỉ trọ tại bến xe khách Sơn La. Sáng ngày 20/8/2018, H bắt xe khách xuống Hà Nội để đi làm thuê và đã tiêu xài hết số tiền trộm cắp được. Chiếc ví da màu nâu bị cáo làm mất tại Hà Nội. Đến ngày 21/02/2019 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuần Giáo đã bắt được bị cáo và đưa bị cáo về Cơ quan điều tra để điều tra làm rõ.

Ngày 02/10/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Tuần Giáo đã ra Yêu cầu định giá tài sản số: 180/QĐ để trưng cầu định giá số tài sản do bị cáo trộm cắp. Tại bản kết luận giá trị tài sản số: 32/KL-GTTS ngày 03/10/2018 của Hội đồng định giá tài sản đã kết luận: 01 dây chuyền vàng, trọng lượng 02 chỉ có giá trị 6.900.000đ; 01 đồng hồ nam hiệu Hublot đã qua sử dụng có giá trị 3.600.000đ; tổng giá trị là 10.500.000đ (Mười triệu năm trăm nghìn đồng).

Tại Cáo trạng số: 42/QĐ-VKS-HS ngày 14/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đã truy tố bị cáo Lò Văn H về tội: Trộm cắp tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Văn H từ 18 đến 24 tháng tù. Áp dụng khoản 5 Điều 173 BLHS không phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo vì bị cáo nghiện ma túy, sống phụ thuộc gia đình. Về phần bồi thường thiệt hại, do bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không giải quyết.

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Lò Văn H được miễn án phí HSST.

Tại đơn đề nghị bị hại không yêu cầu bị cáo Lò Văn H phải bồi thường; không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về phần bồi thường thiệt hại và về hình phạt đề nghị xét xử theo quy định của Pháp luật. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anhPhạm Hùng T cũng không có yêu cầu gì.

Tại phiên tòa, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo H nhận mình đã có hành vi phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét về hành vi, thì bị cáo Lò Văn H đã thừa nhận: Vào ngày 18/8/2018, bị cáo H đã lợi dụng sự sơ hở của chị Phan Thị Lan T, bị cáo đã lén lút trộm cắp của chị T một số tài sản gồm: 01 dây chuyền vàng 9999 trị giá 6.900.000đ, 01 ví nam màu nâu, 10.500.000đ tiền mặt; tổng giá trị trộm cắp được là 17.400.000đ (Mười bảy triệu bốn trăm nghìn đồng). Số tiền trộm cắp được bị cáo khai đã chia cho Lò Văn T là người đã chỉ cho bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là 4.000.000đ; số tiền còn lại và 01 dây chuyền bị cáo đã đem đi bán được 1.100.000đ, bị cáo đã tiêu xài hết tại Hà Nội; chiếc ví nâu do quá trình đi làm thuê tại Hà Nội bị cáo đã làm mất. Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án; kết luận vụ án và nội của Cáo trạng và tại phiên tòa. Hành vi của bị cáo Lò Văn H đã cấu thành tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS. Bởi vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản nêu trên là hoàn toàn chính xác.

[2] Xét tính chất, mức độ vụ án thấy: Hành vi bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của chị Phan Thị Lan T được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo khiến cho người dân lo lắng, tác động xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Bởi vậy, cần xử lý bị cáo nghiêm minh trước pháp luật.

[3] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, đối với bị cáo thấy: Sau khi xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và thẩm vấn công khai, cũng như đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của Đại diện viện kiểm sát với tình tiết trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; do đó Hội đồng xét xử thấy rằng cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo phạm tội trong trường hợp tái phạm nên cần áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.

Xét nhân thân bị cáo thấy, bị cáo sinh ra và lớn lên tại bản B, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên được bố mẹ cho ăn học hết lớp 8/12 rồi bỏ học ở nhà lao động sản xuất cùng gia đình. Bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo xét xử về tội Trộm cắp tài sản và bị xử phạt 12 tháng tù đến ngày 21/3/2018 trở về địa phương sinh sống. Ngày 18/8/2018 có hành vi trộm cắp tài sản, ngày 21/02/2019 bị Cơ quan cảnh sát điều tra khởi tố. Bị cáo tuổi đời còn trẻ, có sức lao động nhưng không chịu khó lao động để có thu nhập phục vụ nhu cầu bản thân. Hơn nữa bị cáo đã một lần phạm tội và nhận sự cải tạo giáo dục của Pháp luật nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện trở thành người lương thiện mà bị cáo lại tiếp tục có hành vi trộm cắp tài sản, từ đó có thể thấy bị cáo lười lao động, muốn có tiền một cách dễ dàng nên đã cố tình thực hiện hành vi trộm cắp tài sản để có tiền phục vụ tiêu xài cá nhân và một phần dùng để mua ma túy sử dụng vì bị cáo nghiện ma túy.

Vì vậy để cải tạo bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội và gia đình cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo sửa chữa lỗi lầm của bản thân.

[4] Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tài sản của bị cáo thì thấy rằng bị cáo không có tài sản, bản thân bị cáo sống phụ thuộc gia đình, không có khả năng về kinh tế, không có điều kiện để thi hành án nên có thể không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 BLHS.

[5] Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo H là từ 18 tháng đến 24 tháng tù; Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo nên chấp nhận.

[6] Đối với phần bồi thường dân sự: Chị Phan Thị Lan T không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại; anh Phạm Hùng T cũng không có ý kiến yêu cầu đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Đối với Lò Văn T; sinh năm 1987; trú tại bản B, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên là người mà bị cáo khai đã chỉ cho bị cáo nơi để trộm cắp tài sản và được bị cáo chia 4.000.000đ; quá trình điều tra, xác minh hiện nay T không có mặt tại địa phương, nên chưa có cơ sở kết luận. Cơ quan điều tra đã khoanh cắt để tiếp tục điều tra, xác minh đối với Lò Văn T, nếu có đủ cơ sở để xử lý sẽ xử lý theo quy định của Pháp luật; nên HĐXX không xem xét.

[8] Về vật chứng vụ án: Không có.

[9] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án bị cáo đủ điều kiện miễn án phí hình sự sơ thẩm.

[10] Trong quá trình tiến hành tố tụng thấy rằng: Các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật và bị cáo cũng không có ý kiến khiếu nại đối với các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng theo quy định của Pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; tuyên xử:

1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn H phạm tội Trộm cắp tài sản.

2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn H 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 21/02/2019.

3. Án phí: Bị cáo Lò Văn H được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (Ngày 20/6/2019). Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án. Anh Phạm Hùng T vắng mặt có lý do được quyền kháng cáo phần liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.


46
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 43/2019/HSST ngày 20/06/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:43/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tuần Giáo - Điện Biên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:20/06/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về