Bản án 42/2019/HS-ST ngày 06/08/2019 về tội vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 42/2019/HS-ST NGÀY 06/08/2019 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

Ngày 06 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 32/2019/HSST ngày 23/5/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2019/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:

Võ M, sinh ngày 01/01/1976 tại Đà Nẵng; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Thôn T, xã L, huyện V, thành phố Đà Nẵng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: Lái xe; Con ông Võ Đ (đã chết) và con bà Mai Thị C; Có vợ là Lê Thị Thu B và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

* Người bị hại: Ông Nguyễn N, sinh năm 1940 (chết);

* Đại diện hợp pháp của người bị hại:

NĐD1, sinh năm 1966; địa chỉ: Thôn N, xã Đ, thị xã B, tỉnh Quảng Nam.

NĐD2, sinh năm 1971;

 NĐD3, sinh năm 1974;

NĐD4, sinh năm 1984;

NĐD5, sinh năm 1976;

NĐD6, sinh năm 1969;

Cùng trú tại: Thôn H, xã P, huyện V, thành phố Đà Nẵng.

NĐD7, sinh năm 1977; địa chỉ: Xã T, thị xã B, tỉnh Quảng Nam.

NĐD8, sinh năm 1973; địa chỉ: Đường H, thành phố L, tỉnh Lâm Đồng.

(NĐD1, NĐD2, NĐD3, NĐD4, NĐD5, NĐD6, NĐD7 đều ủy quyền cho NĐD8 tham gia tố tụng theo giấy ủy quyền ngày 16/01/2019 và 21/01/2019). NĐD8 có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 09 giờ 15 phút ngày 06/01/2019, Võ M điều khiển xe ô tô tải BKS 43C-135.16 chở cây gỗ bạc hà lưu thông trên đường Quốc lộ 1A theo hướng Quảng Nam đi Đà Nẵng. Khi đến địa phận thôn Giáng Nam 1, xã Hòa Phước, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng thì lúc này trời đang mưa vừa, đường ướt, mặc dù đã phát hiện phía trước cùng chiều có ông Nguyễn N đang điều khiển xe đạp chuyển hướng từ bên phải sáng bên trái đường cách khoảng 20m nhưng M vẫn chủ quan và không giảm tốc độ nên khi đến gần vị trí của ông N đang chuyển hướng thì M không xử lý kịp và tông vào xe đạp của ông N dẫn đến tai nạn giao thông. Hậu quả: Xe ô tô tải BKS 43C-135.16 và xe đạp bị hư hỏng, ông Nguyễn N bị thương đưa đi bệnh viện điều trị đến ngày 08/01/2019 thì chết.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 02/GĐ-PY ngày 13/02/2019 của Trung tâm giám định pháp y thành phố Đà Nẵng kết luận nguyên nhân dẫn đến cái chết của ông Nguyễn N là do đa chấn thương, nạn nhân hôn mê, suy hô hấp, trụy mạch, ngừng tim, ngừng thở và chết.

* Về dân sự: Võ M đã bồi thường cho gia đình người bị hại Nguyễn N số tiền 43.500.000đ. Gia đình người bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn bãi nại và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho Võ M.

* Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra tạm giữ 01 giấy phép lái xe hạng A1, B2 mang tên Võ M; 01 đĩa CD chứa dữ liệu được trích từ camera ghi lại hình ảnh vụ tai nạn;

Tại bản cáo trạng số 36/CT-VKS ngày 23 tháng 5 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng đã truy tố Võ M về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như Cáo trạng đã đề cập, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Võ M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và áp dụng khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo đồng thời đề nghị HĐXX ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Võ M đều khai nhận diễn biến vụ án đúng như cáo trạng đã đề cập. Bị cáo không có ý kiến gì về mặt tội danh c ng như điều luật mà đại diện Viện kiểm sát truy tố và đề nghị áp dụng, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ và cho bị cáo cơ hội để tiếp tục làm việc chăm lo cho gia đình.

Đại diện gia đình người bị hại không có ý kiến gì về việc Cáo trạng truy tố đối với bị cáo, đã nhận bồi thường của bị cáo với số tiền 43.500.000đ và không yêu cầu gì thêm về phần dân sự đồng thời xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Võ M.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm vấn công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo c ng như những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với biên bản, sơ đồ hiện trường, các biên bản khám nghiệm c ng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, do đó Hội đồng xét xử có cơ sở kh ng định: Khoảng 09 giờ 15 phút ngày 06/01/2019, Võ M điều khiển xe ô tô tải BKS 43C-135.16 lưu thông trên đường Quốc lộ 1A, khi đến địa phận thôn Giáng Nam 1, xã Hòa Phước, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng thì lúc này trời đang mưa vừa, đường ướt, mặc dù đã phát hiện phía trước cùng chiều có ông Nguyễn N đang điều khiển xe đạp chuyển hướng sang đường nhưng M không giảm tốc độ nên đã tông vào xe đạp của ông N dẫn đến tai nạn giao thông. Hậu quả: Ông Nguyễn N bị thương đưa đi bệnh viện điều trị đến ngày 08/01/2019 thì chết. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ; khoản 11 Điều 5 Thông tư 91/2015/TT-BGTVT ngày 31/5/2015 của Bộ giao thông vận tải. Do đó Hội đồng xét xử có cơ sở kh ng định Cáo trạng số 36/CT-VKSHV ngày 13 tháng 5 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã vi phạm các quy định của pháp luật về an toàn giao thông đường bộ và gây thiệt hại đến tính mạng của người khác, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn giao thông đường bộ nói riêng và tình hình trật tự trị an xã hội nói chung. Do đó, đối với bị cáo cần phải bị xử phạt tương xứng mới có tác dụng giáo dục đồng thời làm gương, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật về giao thông đường bộ cho người khác.

[4] Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có. Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, sau khi gây tai nạn đã chủ động bồi thường khắc phục hậu quả cho người bị hại và được đại diện gia đình người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; Bản thân bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, gia đình có công cách mạng, mặt khác trong vụ án này người bị hại c ng có lỗi. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà bị cáo được xem xét khi quyết định hình phạt.

[5] Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo, không cần thiết phải bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù nên HĐXX áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, cho bị cáo hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi gây tai nạn, bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 43.500.000đ, đại diện hợp pháp của gia đình người bị hại đã có đơn bãi nại và không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng: Đi với vật chứng là đĩa CD trích xuất từ camera ghi lại hình ảnh vụ tai nạn là chứng cứ, dữ liệu của vụ án cần được lưu tại hồ sơ để phục vụ công tác xét xử;

Đi với 01 giấy phép lái xe hạng A1,B2 mang tên Võ M là tài sản của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.

[8 Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định là 200.000đ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Võ M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

1. Căn cứ: khon 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Võ M 12 (M hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai bốn) tháng, tính từ tuyên án sơ thẩm (ngày 06/8/2019). Giao bị cáo Võ M về cho UBND xã Hòa Liên, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp Võ M thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 69 của Luật Thi hành án Hình sự.

Nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

2. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo Võ M phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 BLTTHS, tuyên trả 01 giấy phép lái xe hạng A1,B2 mang tên Võ M (đang lưu giữ tại hồ sơ) cho bị cáo Võ M.

4. Về quyền háng cáo: Án xử sơ thẩm, báo cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay.


34
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về