Bản án 40/2019/HSST ngày 08/03/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N, TỈNH KHÁNH HÒA

BẢN ÁN 40/2019/HSST NGÀY 08/03/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 08/3/2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thụ lý số 418/2018/TLST-HS ngày 13/12/2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2019/QĐXXST-HS ngày 15/02/2019, đối với bị cáo:

Họ và tên: VÕ XUÂN M Sinh ngày 02/01/1996 Tên gọi khác: Quẹo; Nơi ĐKNKTT: Tổ 8, Lư Cấm, N. H, thành phố N, Khánh Hòa. Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không Trình độ học vấn: 05/12; Con ông: Võ Xuân Thanh (C) và bà: Trần Thị Thu Hà.

Tiền án:

- Ngày 23/1/2015 bị Tòa án nhân dân thành phố N tuyên phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2015/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/7/2015.

- Ngày 21/1/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố N tuyên phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2016/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/1/2017.

Nhân thân: Ngày 18/5/2012 bị đưa vào trường Giáo dưỡng số 3 theo

Quyết định đưa vào trường giáo dưỡng số 3459/QĐ-CT-UBND ngày 15/5/2012.

Chấp hành xong ngày 04/5/2014.

Bị can đang bị tạm giam trong vụ án khác.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại:

1/ Bà Nguyễn Thị Thu H; Địa chỉ: 275 đường 23/10 N. H, N, Khánh Hòa. Vắng mặt.

2/ Bà Nguyễn Thị Khánh L; Địa chỉ: 149/25 Bùi Văn Ngữ, Hiệp Thành, Q. 12, TP. Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Hải A; Địa chỉ: 149/25 Bùi Văn Ngữ, Hiệp Thành, Q. 12, TP Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị Cảnh; Địa chỉ: 275 đường 23/10 N. H, thành phố N, Khánh Hòa. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 03 giờ ngày 23/5/2017, Võ Xuân M đi bộ xuống khu vực chợ Đầm thuộc phường Vạn Thạnh, thành phố N để xem ai sơ hở thì trộm cắp tài sản. Khi đi ngang qua cửa hàng bán rau của bà Nguyễn Thị Thu H, M phát hiện bà H đang xắp xếp hàng hóa, phía sau lưng có để 01 giỏ xách. M đi vòng ra phía sau lấy trộm giỏ xách bên trong có 23.000.000đ và một số giấy tờ tùy thân. M đem giỏ xách đến chân cầu Hà Ra, thành phố N lục lấy toàn bộ số tiền, còn giỏ xách và giấy tờ thì vứt lại dưới chân cầu. Sau đó, M đi đến khu vực Lầu Bảy, phường V. P, thành phố N mua 3.000.000đ tiền ma túy để sử dụng cho bản thân. Tại đây, M gặp Khải (chưa xác định lai lịch) và rủ Khải cùng sử dụng ma túy, rồi nhờ Khải giữ hộ số tiền 15.000.000đ.

Về phía bà H, sau khi bị mất tài sản bà Hạnh có nói cho em dâu là bà Nguyễn Thị Cảnh biết sự việc. Bà Cảnh đã nhờ Hùng Nhóc (chưa xác định lai lịch) đi tìm M để đòi lại số tiền vì qua camera đã xác định được M là người trộm cắp tiền của bà H.

Trưa ngày 23/5/2017, Hùng Nhóc đã gặp M tại Lầu Bảy, phường V. P, thành phố N và yêu cầu M trả lại số tiền đã trộm cắp. M đã đưa cho Hùng Nhóc số tiền 5.050.000đ và chỉ chỗ vứt giỏ xách cho Hùng Nhóc biết, số tiền còn lại M nói dối đã tiêu xài hết. Sau khi lấy được tiền và giỏ xách, Hùng Nhóc đã đến gặp và đưa lại cho bà H. Bà H đã đến cơ quan công an trình báo sự việc mất trộm.

Mở rộng điều tra, đã chứng minh được: Khoảng 20 giờ 15 phút ngày 10/07/2017, tại Chung cư B chợ Đầm, phường V.T, thành phố N, Võ Xuân M đã có hành vi trộm cắp 01 điện thoại LG L60 của chị Nguyễn Thị Khánh L. Sau đó, M đi đến khu vực Lầu Bảy, phường V. P, N gặp Thành (chưa xác định được lai lịch) đổi điện thoại trộm cắp được lấy 3 tép ma túy và 100.000đ.

Tại Bản kết luận giá tài sản số 65/HĐĐG ngày 09/2/2018 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố N kết luận 01 điện thoại di động LG L60 có giá trị: 685.000đ

Tại Bản kết luận giá tài sản số 66/HĐĐG ngày 18/2/2018 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố N kết luận 01 giỏ xách tay bằng da, màu đỏ có giá trị là: 100.000đ.

Bản cáo trạng số 240/CT-VKS ngày 28/8/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N đã truy tố bị cáo Võ Xuân M về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận: Do không có tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng, bị cáo nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Khi đến khu vực Chợ Đầm, N, bị cáo phát hiện bà Nguyễn Thị Thu H đang sắp xếp hàng hóa, phía sau để một giỏ xách nên đến lấy mang đi. Bên trong giỏ xách có 23.000.000đ và một số giấy tờ tùy thân. Sau đó, bị cáo tiếp tục trộm cắp 01 chiếc điện thoại hiệu LG L60 của bà Nguyễn Thị Khánh L tại Chung Cư B, Chợ Đầm, N. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 23.785.000đ.

[2] Căn cứ diễn biến của vụ án, tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N kiểm sát xét xử tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 1999 xử phạt bị cáo Võ Xuân M từ 03 năm tù đến 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; xử lý trách nhiệm dân sự, án phí hình sự.

[3] Hội đồng xét xử nhận thấy:

[3.1] Lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với biên bản tiếp nhận sự việc, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, lời khai của người làm chứng có tại hồ sơ vụ án đã được công bố công khai tại phiên tòa; phù hợp các chứng cứ, tài liệu khác thu thập được có tại hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa.

[3.2] Những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát thu thập đều hợp pháp. Hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa tuân thủ quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3.3] Căn cứ chứng cứ, tài liệu hợp pháp tại hồ sơ vụ án đã được kiểm tra, lời khai bị cáo tại phiên tòa có cơ sơ khẳng định hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”.

[3.4] Bị cáo đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý là thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo điểm b khoản 2 Điều 49 Bộ luật Hình sự năm 1999, mà “Tái phạm nguy hiểm” là tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999.

[3.5] Do đó, Bản cáo trạng số 240/CT-VKS ngày 28/8/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N đã truy tố bị cáo Võ Xuân M về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 là có căn cứ, đúng tội.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm sở hữu của công dân, gây mất trật tự, trị an địa phương. Bản thân bị cáo đã từng bị xử phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ra tù không lo làm ăn chân chính mà tiếp tục đi vào con đường cũ; phạm tội nhiều lần. Sau khi chấp hành xong bản án trước đã bỏ trốn, gây khó khăn cho quá trình xét xử. Do đó, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét và đánh giá nhân thân của bị cáo và xử phạt bị cáo một mức án tương xứng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Tại cơ quan Điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo; tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi một phần, vì vậy, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết quy định tại điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

[5] Đối với người tên Khải, tên Hùng Nhóc Cơ quan công an chưa đủ căn cứ để xác định. Khi xác định, nếu chứng minh được hành vi vi phạm sẽ xử lý ở vụ án khác.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt và chỉ liên quan đến việc giải quyết bồi thường, nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự tách ra để giải quyết khi có yêu cầu theo quy định của pháp luật.

[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 và áp dụng điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 1999; Điều 136, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự đối với bị cáo Võ Xuân M,

Xử phạt: Bị cáo Võ Xuân M (Quẹo) 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

* Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, nên Hội đồng xét xử không xét. Nếu họ có yêu cầu sẽ xét xử sau theo quy định của pháp luật.

* Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Báo cho bị cáo biết, được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.


63
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Bản án/Quyết định đang xem

      Bản án 40/2019/HSST ngày 08/03/2019 về tội trộm cắp tài sản

      Số hiệu:40/2019/HSST
      Cấp xét xử:Sơ thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Nha Trang - Khánh Hoà
      Lĩnh vực:Hình sự
      Ngày ban hành:08/03/2019
      Là nguồn của án lệ
        Bản án/Quyết định sơ thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về