Bản án 37/2019/HSST ngày 10/05/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH N

BẢN ÁN 37/2019/HSST NGÀY 10/05/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 10/5/2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện V, tỉnh N, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 28/2019/HSST ngày 22/3/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2019/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 04 năm 2019, đối với bị cáo:

* Lương Trung Hiếu (Tên gọi khác không), sinh n¨m 1997; tại xã Gia Sinh, huyện V, tỉnh N; trú tại xóm 6, xã G, huyện V, tỉnh N; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn P vµ bµ Vũ Thị H; vợ con: Chưa có; tiền án; tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/01/2019, chuyển tạm giam ngày 24/01/2019 tíi nay, tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

* Người làm chứng:

Anh Đinh Hồng D, sinh năm 1996. Vắng mặt tại phiên tòa.

Anh Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1984. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Lương Trung H là người đã sử dụng ma túy đá. Khoảng 20 giờ ngày 21/01/2019, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên H đi bộ từ nhà ra đường trục xóm 6, xã G đón ô tô taxi (H không nhớ biển kiểm soát và hãng xe taxi) đến khu vực chân cầu Non Nước thuộc xã Y, huyện Ý, tỉnh Đ để tìm mua ma túy đá. Đến nơi, Hiếu xuống xe đi bộ về hướng thành phố Đ khoảng 50m thì gặp và mua của một người phụ nữ (không rõ lai lịch) đứng ở ven đường 01 túi ma túy đá (bên trong có các tinh thể màu trắng) đựng trong 01 túi nilon màu trắng kích thước (1,5 x2)cm với giá 300.000 đồng. Xác định đó là túi ma túy đá nên H cầm trên tay trái. Sau đó H hỏi người phụ nữ “Chị còn cái coóng nào không, cho em xin một cái”, người phụ nữ lấy trong túi xách ra cho H 01 chiếc coóng thủy tinh màu trắng, hình trụ dài khoảng 06cm, đường kính khoảng 0,5cm; gấp khúc 1/2 thân ống. H cầm chiếc coóng cất vào túi quần đang mặc phía trước bên trái và quay lại chỗ xe taxi đang đợi để đi về nhà. Về đến nhà, H lấy một phần ma túy đá vừa mua được cho vào coóng và sử dụng bằng hình thức hút. Khoảng 03 giờ ngày 22/01/2019, anh Đinh Hồng D, sinh năm 1996 trú tại thôn Đ, xã S, huyện Q, tỉnh N (là bạn bè quen biết với H) đi chơi về muộn nên đến nhà H xin ngủ nhờ, H đồng ý. Khoảng 10 giờ ngày 22/01/2019, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân nghi vấn tại nhà Lương Trung H có tụ tập sử dụng ma túy, Tổ công tác của Đồn Công an S phối hợp với Công an xã S cùng chính quyền cơ sở đến nhà H yêu cầu kiểm tra; phát hiện thu giữ tại mặt bàn sofa 01 coóng thủy tinh màu trắng, 03 đoạn ống hút bằng nhựa, 01 nắp chai nhựa màu vàng trên có đục hai lỗ tròn nhỏ, 01 bật lửa ga màu trắng. Biết không thể che giấu được hành vi của mình, H đã tự nguyện lấy từ nền nhà vị trí phía dưới chiếc ghế sofa 01 túi nilon mầu trắng, kích thước (1,5x2)cm, bên trong đựng các tinh thể màu trắng giao nộp cho Tổ công tác và khai nhận đó là túi ma túy đá, H cất giấu để sử dụng cho bản thân.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Lương Trung H, Cơ quan CSĐT công an huyện V thu tại ngăn dưới bên phải tủ tôn trong gian phòng ngủ 14 vỏ túi nilon màu trắng đều có kích thước (2x2)cm, trong đó có 04 túi tại vị trí miệng túi có đường viền chỉ ngang màu xanh, 10 túi miệng túi có đường viền chỉ ngang màu trắng.

Cơ quan điều tra Công an huyện V đã tiến hành niêm phong các tinh thể mầu trắng thu giữ của Lương Trung H, lấy mẫu giám định để gửi đi xác định trọng lượng và giám định chất ma túy (Ký hiệu M).

Ngày 24/01/2019, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh N tiến hành cân xác định khối lượng chất dạng tinh thể màu trắng thu giữ của Lương Trung H ký hiệu M. Kết quả: M có khối lượng 0,1561 gam.

Ti bản kết luận giám định số 94/KLGĐ-PC09-MT ngày 24/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh N kết luận:

Mẫu chất dạng tinh thể mầu trắng gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1561 gam là ma túy, loại Methamphetamine.

Methamphetamine là chất ma túy thuộc bảng danh mục II, số thứ tự 323; Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Hoàn lại đối tượng giám định gồm: Chất dạng tinh thể màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1137 gam, là ma túy, loại Methamphetamine; Toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong.

Ti bản Cáo trạng số 30/CT-VKS-GV ngày 21/03/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh N đã truy tố Lương Trung H ra trước Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh N để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Ti phiên tòa, bị cáo Lương Trung H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, xác nhận nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh N thực hành quyền công tố tại phiên tòa, phát biểu luận tội đã giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích đánh giá tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lương Trung H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lương Trung H từ 12 tháng đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/01/2019.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ghi số 94/KLGĐ-PC09-MT, bên trong đựng: Chất dạng tinh thể màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1137 gam Methamphetamine và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong. 01 phong bì niêm phong theo quy định, bên trong gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu và 01 vỏ túi nilon màu trắng kích thước (1,5x2)cm.

01 coóng thủy tinh màu trắng hình trụ dài 06cm, đường kính 0,5cm gấp khúc tại 1/2 thân ống; 03 đoạn ống hút bằng nhựa; 01 bật lửa ga màu trắng nhãn hiệu Hoa Việt, 01 nắp chai nhựa màu vàng trên nắp có 02 lỗ tròn nhỏ đường kính 0,5 cm; 14 vỏ túi nilon màu trắng kích thước (2x2) cm, trong đó có 04 túi có đường viền chỉ ngang màu xanh ở phần miệng túi, 10 túi có đường viền chỉ ngang màu trắng ở phần miệng túi, là vật chứng thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và vật chứng không còn giá trị sử dụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa bị cáo Lương Trung H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện V đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng của vụ án đã được thu hồi, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ ngày 22/01/2019, tại nhà của mình tại xóm 6, xã G, huyện V, tỉnh N, bị cáo Lương Trung H đã có hành vi cất giấu trái phép 0,1561 gam Methamphetamine, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.

Bộ luật Hình sự quy định:

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý 1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a, ……..;

b, ……..;

c, Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR- 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến 05 gam;

…….

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

[3]. Hành vi của bị cáo Lương Trung H đã nêu trên là phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh N truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4]. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma tuý, tác động rất xấu đến trật tự trị an và an toàn xã hội, là một trong các nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác, gây ảnh hưởng đến sức khỏe, trí tuệ và sự phát triển bình thường của nòi giống, làm khánh kiệt kinh tế của người sử dụng chất ma túy, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm minh để giáo dục, cải tạo bị cáo và là bài học răn đe phòng ngừa chung cho xã hội. Mức hình phạt áp dụng được căn cứ vào tính chất tội phạm, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo trong vụ án để quyết định cho phù hợp.

[5]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lương Trung H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đưa ra tại phiên tòa, đó là: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; khai nhận hành vi phạm tội của mình trước khi bị phát hiện. Đây là các tình tiết được quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cần được áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[7]. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng với hành vi của bị cáo gây ra, mới có tác dụng giáo dục, cải tạo và nâng cao công tác phòng ngừa chung, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

[8]. Về hình phạt bổ xung: Xét bản thân bị cáo Lương Trung H là người sử dụng ma túy, tàng trữ ma túy trái phép chất ma tóy nhằm mục đích sử dụng, không mang tính vụ lợi, không có tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

[9]. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Số ma túy thu giữ của Lương Trung H là 0,1561 gam Methamphetamine. Sau khi lấy mẫu giám định, khối lượng Methamphetamine còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1137 gam và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong, đã được niêm phong trong phong bì ghi số 94/KLGĐ-PC09-MT; 01 phong bì niêm phong theo quy định, bên trong gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu và 01 vỏ túi nilon màu trắng kích thước (1,5x2)cm; 01 coóng thủy tinh màu trắng hình trụ dài 06cm, đường kính 0,5cm gấp khúc tại 1/2 thân ống; 03 đoạn ống hút bằng nhựa; 01 bật lửa ga màu trắng nhãn hiệu Hoa Việt, 01 nắp chai nhựa màu vàng trên nắp có 02 lỗ tròn nhỏ đường kính 0,5 cm; 14 vỏ túi nilon màu trắng kích thước (2x2) cm, trong đó có 04 túi có đường viền chỉ ngang màu xanh ở phần miệng túi, 10 túi có đường viền chỉ ngang màu trắng ở phần miệng túi, là vật chứng thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và vật chứng không còn giá trị sử dụng. Do vậy, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với anh Đinh Hồng D, quá trình điều tra xác định: Ngày 22/01/2019 anh D đến nhà Lương Trung H xin ngủ nhờ, việc H mua, sử dụng và cất giấu ma túy đá, anh D không biết. Vì vậy, không có căn cứ để xử lý đối với anh D.

Đối với người lái xe taxi chở Lương Trung H đi mua ma túy, H khai đón xe taxi dọc đường, không nhớ biển kiểm soát và hãng xe taxi. Việc H mua ma túy, người lái xe không biết. Cơ quan điều tra Công an huyện V đã tiến hành điều tra xác minh nhưng không xác minh được. Do đó, không đủ căn cứ để xử lý.

[10]. Về nguồn gốc số Methamphetamine, bị cáo Lương Trung H khai mua của người phụ nữ tại khu vực chân cầu Non Nước, thuộc xã Y, huyện Y, tỉnh Đ vào ngày 21/01/2019. Tuy nhiên, H không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không xác định được. Do đó, không đủ căn cứ để xử lý.

[11] Về án phí: Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[12] Về quyền kháng cáo:  Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Lương Trung H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

n cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử bị cáo Lương Trung H 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị bắt, tạm giữ 22/01/2019.

2. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

n cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ghi số 94/KLGĐ-PC09-MT, bên trong đựng: Chất dạng tinh thể màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1137 gam Methamphetamine và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong. 01 phong bì niêm phong theo quy định, bên trong gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu và 01 vỏ túi nilon màu trắng kích thước (1,5x2)cm.

01 coóng thủy tinh màu trắng hình trụ dài 06cm, đường kính 0,5cm gấp khúc tại 1/2 thân ống; 03 đoạn ống hút bằng nhựa; 01 bật lửa ga màu trắng nhãn hiệu Hoa Việt, 01 nắp chai nhựa màu vàng trên nắp có 02 lỗ tròn nhỏ đường kính 0,5 cm; 14 vỏ túi nilon màu trắng kích thước (2x2) cm, trong đó có 04 túi có đường viền chỉ ngang màu xanh ở phần miệng túi, 10 túi có đường viền chỉ ngang màu trắng ở phần miệng túi, là vật chứng thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và vật chứng không còn giá trị sử dụng. (Đặc điểm các vật chứng tịch thu tiêu hủy theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 25/3/2019, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện V).

Trưng hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự”.

3. Về án phí:

n cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Lương Trung H phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


75
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 37/2019/HSST ngày 10/05/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:37/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Vụ Bản - Nam Định
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 10/05/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về