Bản án 36/2018/HNGĐ-ST ngày 26/02/2018 về xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 36/2018/HNGĐ-ST NGÀY 26/02/2018 VỀ XIN LY HÔN

Trong ngày 26 tháng 02 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại  Sơn,  tỉnh  An  Giang,  xét  xử  sơ  thẩm  công  khai  vụ  án  thụ  lý  số 328/2017/TLST-HNGĐ ngày 17/10/2017, về tranh chấp “Hôn nhân và gia đình - Xin ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2018/QĐXXST- HNGĐ ngày 11/01/2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Võ Thị L, sinh năm 1985 (có mặt)

Cư trú: Số 99, tổ 6, ấp Giồng Cát, xã Lương An Trà, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Anh Võ Nguyễn H, sinh năm 1987 (vắng mặt)

Cư trú: Ấp Tân Xuân N, xã Xuân N Phú Đông, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, nguyên đơn chị Võ Thị L trình bày: Tôi với anh Võ Nguyễn H chung sống với nhau từ năm 2006, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Lương An Trà, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc và có 02 con chung tên Võ Thị Xuân M, sinh ngày 10/9/2007, Võ Thị Xuân N, sinh ngày 17/4/2016. Sau khi sinh con thứ hai thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, vợ chồng thường xuyên cự cãi, anh H thường hay đánh tôi, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Vợ chồng ly thân từ tháng 10 năm 2016 cho đến nay, sau khi ly thân anh H trở về nhà cha mẹ ruột sinh sống, vợ chồng không còn gặp nhau. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không thể hàn gắn được nên tôi yêu cầu được ly hôn với anh Võ Nguyễn H; về con chung sau khi ly hôn tôi yêu cầu được nuôi 02 con, không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng; về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết; nợ chung không có.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt cho anh Võ Nguyễn H thông báo thụ lý, thông báo hòa giải với nội dung: Chị Võ Thị L yêu cầu xin ly hôn với anh Võ Nguyễn H; về con chung yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng; về tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết; nợ chung không có. Do anh H vắng mặt tại nơi cư trú nên Tòa án đã niêm yết các thủ tục tố tụng, lập biên bản không hòa giải được và tiến hành đưa vụ án ra xét xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình xin ly hôn, bị đơn anh Võ Nguyễn H cư trú tại ấp Tân Xuân N, xã Xuân N Phú Đông, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Theo quy định tại Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn. Tại phiên tòa, anh Võ Nguyễn H vắng mặt, Tòa án triệu tập hợp lệ 2 lần. Do vậy, căn cứ vào khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh H.

[2] Về nội dung: Chị Võ Thị L chung sống với anh Võ Nguyễn H từ năm 2006, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Lương An Trà, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn, chị L, anh H có thời gian chung sống hạnh phúc. Đến năm2016 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẩn, chị L cho rằng anh H có tánh cờ bạc, không chịu lo làm ăn và thường hay đánh chị, từ đó làm cho không khí gia đìnhngày càng căng thẳng, mặc dù mâu thuẩn của chị L với anh H đã được gia đìnhhai bên hòa giải đoàn tụ nhưng vẫn không thành, vợ chồng đã ly thân từ năm2016 cho đến nay, trong thời gian ly thân anh H về nhà cha mẹ ruột sinh sống, hai người không còn tới lui thăm nhau. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh H đến tòa nhằm mục đích hòa giải để hàn gắn quan hệ hôn nhân nhưng anh H vắng mặt không lý do nên Tòa án không thể hòa giải đoàn tụ được. Về phía chị L kiên quyết yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H vì tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Từ những nhận định phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị L với anh H mâu thuẩn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do vậy cần chấp nhận yêu cầu của chị Võ Thị L được ly hôn với anh Võ Nguyễn H.

[3] Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống chị L với anh H có 02 con chung tên Võ Thị Xuân M, sinh ngày 10/9/2007, Võ Thị Xuân N, sinh ngày 17/4/2016. Hiện nay cháu Xuân M và cháu Xuân N chung sống với chị L, được chị L chăm sóc, nuôi dưỡng và cho đi học ổn định, qua lấy ý kiến cháu Xuân Xuân M thì nguyện vọng của cháu muốn sống với mẹ. Để tránh xáo trộn về mặt tâm lý, Hội đồng xét xử nghĩ nên giao cháu Võ Thị Xuân M, Võ Thị Xuân N cho chị L tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của chị L không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con, chị L phải tạo điều kiện cho anh H đến thăm nom chăm sóc con, khi cần thiết có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con theo qui định pháp luật.

[4] Về quan hệ tài sản chung: Do chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét; về nợ chung không có.

[5] Về án phí Hôn nhân sơ thẩm: Chị L yêu cầu xin ly hôn nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 điều 227, Điều 266, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH.14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị L được ly hôn với anh Võ Nguyễn H

- Về quan hệ con chung: Chị Võ Thị L được nuôi 02 con chung tên Võ

Thị Xuân M, sinh ngày 10/9/2007 và Võ Thị Xuân N, sinh ngày 17/4/2016; anh H không phải cấp dưỡng nuôi con; chị L phải tạo điều kiện cho anh H được quyền đến thăm nom, chăm sóc con, khi cần thiết có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con theo quy định pháp luật.

- Về quan hệ tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết

- Về nợ chung: Không có

Về án phí sơ thẩm: Chị Võ Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0000597 ngày 16/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang (chị L đã nộp xong).

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại trụ sở UBND xã, thị trấn nơi đương sự cư trú để yêu cầu xét xử phúc thẩm.


78
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 36/2018/HNGĐ-ST ngày 26/02/2018 về xin ly hôn

Số hiệu:36/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thoại Sơn - An Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:26/02/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về