Bản án 35/2019/HS-ST ngày 22/05/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH

BẢN ÁN 35/2019/HS-ST NGÀY 22/05/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 22 tháng 5 năm 2019, tại Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 30/2019/TLST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2019; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2019/HSST-QĐ ngày 08 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:

* Họ và tên: Nông Văn Q (tên gọi khác: không), sinh ngày 28 tháng 11 năm 1998 tại: huyện B, tỉnh Cao Bằng; nơi ĐKHKTT: Bản N, xã Q, huyện B, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nông Văn G và bà Nông Thị T; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh; Có mặt tại phiên tòa.

* Người chứng kiến: Anh Phạm Văn H; vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 12 giờ ngày 15/01/2019, Nông Văn Q đi đến khu vực Trung tâm y tế thành phố M tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây, Q gặp và hỏi mua ma túy của một người đàn ông (không rõ lý lịch) thì người đàn ông này điều khiển xe mô tô (không rõ biển kiểm soát) chở Q đến gần khu vực Cây xăng Q đội thuộc khu X, phường H, thành phố M và bán cho Q 01 gói ma túy với giá 200.000đ. Sau khi mua được gói ma túy, Q cất giấu vào túi quần phía trước bên phải đang mặc thì bị Tổ công tác của Công an phường Hòa 1 Lạc kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ 01 gói giấy chứa chất bột màu trắng, kích thước khoảng (01 x 02)cm. Người đàn ông bán ma túy cho Q điều khiển xe mô tô bỏ chạy thoát.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như nội dung vụ án nêu trên.

Quá trình điều tra, người chứng kiến anh Phạm Văn H có lời khai: Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 15/01/2019, tại khu vực cây xăng Q, thuộc khu X, phường H, thành phố M, anh H được chứng kiến lực lượng chức năng kiểm tra, phát hiện, thu giữ tại túi quần phía trước bên phải Nông Văn Q đang mặc 01 gói giấy màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng. Nông Văn Q khai đó là chất ma túy vừa mua được với giá là 200.000đ, mục đích để sử dụng cho bản thân.

Tại Bản kết luận giám định số 208/GĐMT ngày 19/01/2019, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: 01 gói giấy chứa chất bột màu trắng thu giữ của Nông Văn Q gửi giám định là ma túy, loại: Heroine, khối lượng: 0,268g (không phẩy hai sáu tám gam).

Tại bản cáo trạng số 37/CT-VKS-MC, ngày 16 tháng 4 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh truy tố Nông Văn Quý về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phần tranh luận: Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Nông Văn Q từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ: ngày 15/01/2019.

- Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 0,21g ma túy, loại: Heroin (mẫu vật hoàn lại sau giám định), được niêm phong trong phong bì theo đúng quy định của pháp luật.

Bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

*Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Móng Cái, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Nhận định của Hội đồng xét xử về những chứng cứ xác định bị cáo có tội:

t lời nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác thể hiện trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 15/01/2019, tại khu vực cây xăng Q thuộc khu X, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, Nông Văn Q có hành vi cất giấu trái phép 0,268g (không phẩy hai sáu tám gam) ma túy, loại: Heroine tại túi quần phía trước bên phải đang mặc, mục đích để sử dụng cho bản thân.

Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi do lỗi cố ý, xâm phạm đến chế độ của Nhà nước về quản lý các chất ma túy.

Do đó, hành vi nêu trên của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng qui định của pháp luật Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine … có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”…

Bị cáo nhận thức rõ về tác hại của ma túy và qui định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, nhưng do lối sống buông thả, thiếu ý thức chấp hành pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo góp phần làm cho tệ nạn nghiện chất ma túy gia tăng, tiếp tay cho các loại tội phạm, gây ảnh hưởng xấu đến mọi mặt của đời sống xã hội. Do đó, thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, mới có tác dụng giáo dục và phục vụ công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ. Tuy nhiên, xét bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: 0,21g ma túy, loại: Heroin (mẫu vật hoàn lại sau giám định), là vật nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Về lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát: Xét những chứng cứ mà Kiểm sát viên dùng để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo đã được cơ quan điều tra thu thập theo đúng trình tự, thủ tục mà Bộ luật tố tụng Hình sự quy định; Tại phiên tòa bị cáo cũng đã thừa nhận thực hiện hành vi như bản cáo trạng của Viện kiểm sát. Do đó, Lời luận tội của Kiểm sát viên về tội danh, khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Nông Văn Q là người dân tộc Tày, địa bàn bị cáo cư trú (bản N, xã Q, huyện B, tỉnh Cao Bằng) thuộc danh sách thôn đặc biệt khó khăn, xã khu vực III, khu vực II, khu vực I vùng dân tộc thiểu số về miền núi giai đoan 2016-2020 theo Quyết định số 582/QĐ-TTg ngày 28/4/2017 của Thủ tướng chính phủ. Tại phiên tòa, bị cáo đề nghị được miễn án phí. Do đó, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, cần xét miễn án phí đối với bị cáo.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[10] Liên quan trong vụ án có người đàn ông đã bán trái phép chất ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra không xác định được lý lịch của đối tượng, nên không có căn cứ để xử lý.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Về áp dụng pháp luật:

n cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; khoản 1, 4 Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

n cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

2. Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Nông Văn Q (tên gọi khác: Không) Phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Xử phạt: Nông Văn Q 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt: ngày 15/01/2019.

3. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu, tiêu hủy: 0,21g (không phẩy hai một gam) ma túy, loại: Heroin (mẫu vật hoàn lại sau giám định), được niêm phong trong phong bì số: 208/GĐM.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 40/2019/THA ngày 19/4/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh).

4. Về nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nông Văn Q được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


17
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về