Bản án 35/2019/HS-ST ngày 06/05/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN

BẢN ÁN 35/2019/HS-ST NGÀY 06/05/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 06 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2019/TLST-HS, ngày 28 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2019/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo:

Nông Văn T, sinh ngày 25 tháng 5 năm 1993 tại huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn N, xã T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Gia N và bà Lộc Thị P; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không có; tiền sự: Có một tiền sự, bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã theo Quyết định số 197/QĐ ngày 05 tháng 6 năm 2017 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện C thời gian 03 tháng; nhân thân: Năm 2017 nghiện ma túy bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã; bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Cao Lộc từ ngày 28/01/2019 đến nay; có mặt.

- Bị hại:

+ Bà Hoàng Thị L, sinh năm 1973; cư trú tại: Thôn N, xã T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.

+ Ông Nông Văn A, sinh năm 1985; cư trú tại: Thôn N, xã T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 28/12/2018, Cơ quan điều tra Công an huyện Cao Lộc nhận được báo cáo sự việc của Ban công an xã T, về việc tại nhà chị Hoàng Thị L, sinh năm 1973; trú tại: thôn N, xã T, huyện C, bị mất trộm 01 bao thóc 40kg, 01 xe mô tô biển kiểm soát 12D1-1xx.xx. Qua rà soát các đối tượng nghi vấn trên địa bàn, xác định đối tượng Nông Văn T, sinh năm 1993; trú tại: thôn N, xã T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn có biểu hiện nghi vấn liên quan đến hoạt động tội phạm trộm cắp tài sản trên địa bàn, khi tiến hành triệu tập lấy lời khai Nông Văn T đã thừa nhận trộm cắp số tài sản trên.

Tại Cơ quan điều tra bị cáo Nông Văn T khai nhận: Đầu tháng 12/2018, Nông Văn A gửi xe mô tô biển kiểm soát 12D1-1xx.xx tại nhà chị dâu bên vợ là Hoàng Thị L, sinh năm 1973; trú tại: thôn N, xã T, huyện C, để đi làm thuê ở Trung Quốc. Khoảng 11h ngày 27/12/2018, Nông Văn T (là em trai của Nông Văn A) đi qua nhà chị Hoàng Thị L nhìn qua cửa sổ thấy xe mô tô của anh trai mình và một số bao thóc để ở cạnh xe mô tô, nên nảy sinh ý định trộm cắp. Quan sát thấy không có ai ở nhà, Nông Văn T dùng thanh tre cậy then mở cửa, đi vào nhà thấy chìa khóa xe cắm ở ổ điện, liền lấy một bao thóc đặt lên xe mô tô và điều khiển xe đi đến khu vực xã H, huyện C bán bao thóc cho một người phụ nữ không biết tên, địa chỉ được 240.000 đồng, số tiền này Nông Văn T đi mua ma túy về sử dụng và tiêu dùng hết. Còn chiếc xe mô tô Nông Văn T mang đi bán, nhưng không bán được, nên đã đi đến nhà cậu ruột là Lộc Văn C, sinh năm 1983; trú tại: Thôn B, xã T, huyện C ngủ nhờ. Sau khi sự việc bị phát hiện Cơ quan điều tra triệu tập Nông Văn T lấy lời khai, Nông Văn T thừa nhận hành vi phạm tội và giao nộp xe mô tô biển kiểm soát 12D1-1xx.xx.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 12D1-1xx.xx, màu sơn nâu vàng, cũ đã qua sử dụng; 01 (một) chứng nhận đăng ký xe mô tô số 001808 mang tên Nông Văn A (do anh Nông Văn A nộp).

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số: 01/KLĐGTSHS ngày 07/01/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Cao Lộc kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 12D1-162.26, màu sơn nâu vàng, cũ đã qua sử dụng, giá trị tài sản là 22.050.000 đồng; 01 (một) bao thóc 40kg giá trị là 360.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 22.410.000 đồng (hai mươi hai triệu bốn trăm mười nghìn đồng).

Đối với người phụ nữ mua thóc với Nông Văn T, do không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, nên Cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra xác minh làm rõ.

Vật chứng vụ án: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 12D1-1xx.xx, màu sơn nâu vàng, cũ đã qua sử dụng; 01 (một) chứng nhận đăng ký xe mô tô số 001808 mang tên Nông Văn A. Ngày 15/02/2019 Công an huyện Cao Lộc đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bị hại anh Nông Văn A.

Về phần bồi thường dân sự: Bị hại anh Nông Văn A, chị Hoàng Thị L không yêu cầu bồi thường.

Tại bản cáo trạng số 30/CT-VKS ngày 27/3/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc đã truy tố bị cáo Nông Văn T về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát trong phần tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự

- Tuyên bố bị cáo Nông Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản. Xử phạt bị cáo Nông Văn T từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo nghề nghiệp không có, tài sản không có, nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự

- Xác nhận Cơ quan điều tra Công an huyện Cao Lộc đã trả cho anh Nông Văn A 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 12D1-1xx.xx, màu sơn nâu vàng, cũ đã qua sử dụng; 01 (một) chứng nhận đăng ký xe mô tô số 001808 mang tên Nông Văn A.

Số tiền bị cáo Nông Văn T bán thóc được 240.000 đồng. Xác định đây là số tiền do phạm tội mà có, đề nghị truy thu để sung ngân sách Nhà nước.

Về phần bồi thường dân sự: Bị hại anh Nông Văn A, chị Hoàng Thị L không yêu cầu bồi thường, nên đề nghị không giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Tại lời nói sau cùng bị cáo chỉ xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Khoảng 11 giờ ngày 27/12/2018, lợi dụng sự sơ hở của gia đình chị Hoàng Thị L, tại thôn N, xã T, huyện C đi vắng không có ai ở nhà, bị cáo Nông Văn T đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản gồm: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 12D1–1xx.xx, màu sơn nâu vàng, cũ đã qua sử dụng của anh Nông Văn A gửi tại nhà chị Hoàng Thị L và 01 (một) bao thóc 40kg của gia đình chị Hoàng Thị L. Tổng giá trị tài sản là 22.410.000 đồng (hai mươi hai triệu bốn trăm mười nghìn đồng).

[2] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại, kết luận định giá tài sản và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, do vậy bị cáo có đủ khả năng để nhận thức việc thực hiện hành vi lấy tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Tài sản bị cáo trộm cắp có tổng trị giá là 22.410.000 đồng, nên hành vi đó của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Do vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý nghiêm, nhằm răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm. Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc truy tố bị cáo ra trước Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc theo tội danh và điều khoản trong Bộ luật Hình sự như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, nhưng có một tiền sự, năm 2017 nghiện ma túy bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã theo Quyết định số 197/QĐ ngày 05 tháng 6 năm 2017 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện C với thời hạn là 03 tháng.

[7] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ mới đảm bảo tính nghiêm minh, răn đe đối với bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nông Văn A, chị Hoàng Thị L không yêu cầu bị cáo bồi thường, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[9] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, nghiện ma túy, không có tài sản, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[10] Đối với người phụ nữ mua thóc với Nông Văn T, do không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, nên Cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra xác minh làm rõ là có căn cứ.

[11] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 12D1-1xx.xx, màu sơn nâu vàng, cũ đã qua sử dụng; 01 (một) chứng nhận đăng ký xe mô tô số 001808 mang tên Nông Văn A. Xác nhận Cơ quan điều tra Công an huyện Cao Lộc đã trả cho bị hại Nông Văn A.

[12] Đối với số tiền bị cáo Nông Văn T bán thóc được 240.000 đồng, bị cáo đã mua ma túy về sử dụng và chi tiêu hết. Xác định đây là số tiền do phạm tội mà có, nên cần phải truy thu để sung ngân sách Nhà nước.

[13] Về án phí: Bị cáo Nông Văn T bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[14] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo phù hợp với các chứng cứ khác và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên là hợp pháp.

[15] Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[16] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Căn cứ Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản.

2. Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nông Văn T 09 (chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 28/01/2019.

- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng: Xác nhận Cơ quan điều tra Công an huyện Cao Lộc đã trả cho bị hại Nông Văn A 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 12D1-1xx.xx, màu sơn nâu vàng, cũ đã qua sử dụng; 01 (một) chứng nhận đăng ký xe mô tô số 001808 mang tên Nông Văn A.

4. Xử truy thu số tiền 240.000 đồng (hai trăm bốn mươi nghìn đồng) đối với bị cáo Nông Văn T để sung ngân sách Nhà nước.

5. Về án phí: Bị cáo Nông Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

96
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 35/2019/HS-ST ngày 06/05/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:35/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cao Lộc - Lạng Sơn
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:06/05/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về