Bản án 35/2017/DS-ST ngày 31/08/2017 về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản

 TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LÂM, TỈNH LÂM ĐỒNG

BẢN ÁN 35/2017/DS-ST NGÀY 31/08/2017 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VAY TÀI SẢN 

Hôm nay, ngày 31 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án dân sự thụ lý số 100/2016/TLST- DS ngày 29 tháng 12 năm 2016 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2017/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 7 năm 2017 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Trần Thị V- Sinh năm 1960

Địa chỉ: Lộc Thắng, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.

Bị đơn: Ông Phạm Văn H- Sinh năm 1962.

Địa chỉ: Thôn 11, xã Lộc An, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.

Ông Đỗ Xuân Trang - Sinh năm 1971

Địa chỉ: quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị Xuân- Sinh năm 1968

Địa chỉ: Thôn 13, xã Lộc Ngãi, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.

(Bà Vinh có mặt tại phiên tòa, ông Hoan, ông Trang, bà Xuân có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 09/11/2016 và những lời trình bày của nguyên đơn bà Trần Thị V thể hiện như sau:

Vào ngày 07/01/2016 bà Vinh có cho ông Phạm Văn H và ông Đỗ Xuân Trang vay số tiền 300.000.000 đồng. Khi vay ông Trang và ông Hoan có thế chấp cho bà Vinh 01 giấy CN QSD đất được UBND huyện Bảo Lâm cấp cho ông Phạm Văn H ngày 18/11/1997. Bà Vinh đã giao đủ số tiền 300.000.000 đồng cho ông Trang và ông Hoan. Khi vay hai bên có viết giấy vay tiền với nhau, ông Trang là người trực tiếp viết giấy nợ, sau đó ông Trang và ông Hoan ký tên ở chỗ người vay, hai bên có thỏa thuận lãi suất miệng là 2.000 đồng/ 1.000.000 đồng/1 ngày, thời hạn trả nợ là sau 20 ngày sẽ trả cả gốc + lãi cho bà Vinh.

Mặc dù đã quá thời hạn trả nợ bà Vinh đã đòi nhiều lần nhưng đến nay ông Trang và ông Hoan vẫn chưa trả cho bà Vinh nợ gốc + Lãi phát sinh nên bà Vinh làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm giải quyết buộc ông Đỗ Xuân Trang và ông Phạm Văn H mỗi người có trách nhiệm trả cho bà Vinh số tiền 150.000.000 đồng + Lãi phát sinh theo quy định của pháp luật. Bà Vinh đồng ý trả lại cho ông Hoan 01 giấy CN QSD đất được UBND huyện Bảo Lâm cấp cho ông Phạm Văn H ngày 18/11/1997.

Bị đơn ông Phạm Văn H trình bày:

Vào ngày 07/01/2016 ông Hoan cùng ông Trang đến gặp bà Vinh vay số tiền 300.000.000 đồng. Vì trước đó ông Hoan có nợ tiền ông Trang nên ông Hoan đồng ý thế chấp 01 giấy CN QSD đất được UBND huyện Bảo Lâm cấp cho ông Phạm Văn H ngày 18/11/1997. Bà Vinh đã giao đủ số tiền 300.000.000 đồng, mặc dù trong giấy vay tiền ông Hoan và ông Trang là người vay tiền nhưng ông Trang là người nhận toàn bộ số tiền trên.

Nay bà Vinh làm đơn khởi kiện yêu cầu ông Hoan và ông Trang mỗi người có trách nhiệm trả cho bà Vinh số tiền 150.000.000 đồng

+ Lãi phát sinh, ông Hoan đồng ý trả cho bà Vinh số tiền 150.000.000 đồng

+ Lãi phát sinh, còn lại số tiền 150.000.000 đồng và lãi phát sinh ông Hoan đề nghị ông Trang có trách nhiệm trả cho bà Vinh.

Ông Hoan yêu cầu bà Vinh trả lại cho ông Hoan 01 giấy CN QSD đất được UBND huyện Bảo Lâm cấp cho ông Phạn Văn Hoan ngày 18/11/1997. Giấy CN QSD đất trên là của ông Hoan, ông Hoan cam đoan không liên quan đến bất kỳ ai.

Bị đơn ông Đỗ Xuân Trang trình bày:

Vào ngày 07/01/2016 ông Trang cùng ông Phạm Văn H và bà Xuân đến tiệm vàng Kim Vinh. Ông Hoan có đưa cho bà vinh 01 giấy CN QSD đất mang tên ông Hoan để thế chấp vay số tiền 300.000.000 đồng. Bà Xuân giới thiệu cho ông Hoan gặp bà Vinh để vay tiền, sau đó bà Vinh đưa số tiền 300.000.000 đồng cho ông Hoan và bà Xuân, còn ông Trang không nhận bất cứ số tiền nào từ bà Vinh.

Chữ ký trong giấy vay tiền ngày 07/01/2016 là chữ ký của ông Trang nhưng ông Trang chỉ ký tên là người làm chứng.

Nay bà Vinh làm đơn khởi kiện yêu cầu ông Hoan và ông Trang mỗi người có trách nhiệm trả cho bà Vinh số tiền 150.000.000 đồng + Lãi phát sinh, ông Trang không đồng ý. Vì ông không vay tiền của bà Vinh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Xuân trình bày:

Vào ngày 07/01/2016 bà Xuân có dẫn ông Hoan và ông Trang đến gặp bà Vinh để vay số tiền 300.000.000 đồng. Ông Hoan và ông Trang là người vay tiền, là người trực tiếp nhận toàn bộ số tiền 300.000.000 đồng từ bà Vinh. Bà Xuân cam đoan toàn bộ số tiền trên không liên quan gì đến bà.

Nay bà Vinh làm đơn khởi kiện yêu cầu ông Hoan và ông Trang mỗi người có trách nhiệm trả cho bà Vinh số tiền 150.000.000 đồng + Lãi phát sinh, bà Xuân đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu của mình như trên, đề nghị Hội đồng xét xử buộc ông Hoan và ông Trang phải trả tiền gốc và lãi suất là 0,75%/tháng, thời gian tính lãi từ ngày 31/01/2016 cho đến ngày xét xử. Bị đơn ông Phạm Văn H và ông Đỗ Xuân Trang có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Sau khi đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị V về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”  với ông Phạm Văn H và ông Đỗ Xuân Trang.

Buộc ông Phạm Văn H phải có trách nhiệm trả cho bà Trần Thị V số tiền 150.000.000đ + Lãi phát sinh.

Buộc ông Đỗ Xuân Trang phải có trách nhiệm trả cho bà Trần Thị V số tiền 150.000.000đ + Lãi phát sinh.

Buộc bà Vinh phải trả lại cho ông Hoan 01 giấy CN QSD đất được UBND huyện Bảo Lâm cấp cho ông Phạm Văn H ngày 18/11/1997.

Về án phí: Đề nghị hội đồng xét xử buộc ông Hoan và ông Trang phải chịu án phí DSST theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Theo giấy vay tiền ngày 07/01/2016 do bà Vinh cung cấp thể hiện: Vào ngày 07/01/2016 bà Vinh có cho ông Phạm Văn H và ông Đỗ Xuân Trang vay số tiền 300.000.000 đồng. Khi vay ông Trang và ông Hoan có thế chấp cho bà Vinh 01 giấy CN QSD đất được UBND huyện Bảo Lâm cấp cho ông Phạm Văn H ngày 18/11/1997, thời gian trả nợ là sau 20 ngày sẽ trả cả gốc + Lãi cho bà Vinh, đến hạn trả nợ ông Hoan và ông Trang không trả nên bà Vinh làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Trang và ông Hoan mỗi người có trách nhiệm trả cho bà Vinh số tiền 150.000.000 đồng và lãi suất là 0,75%/tháng, thời gian tính lãi từ ngày 31/01/2016 cho đến ngày xét xử, yêu cầu trả tiền của bà Vinh là có cơ sở và đúng pháp luật vì bà Vinh xuất trình được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, đồng thời ông Hoan cũng thừa nhận vào ngày 07/01/2016 ông Hoan cùng ông Trang đến gặp bà Vinh vay số tiền 300.000.000 đồng. Bà Vinh đã giao đủ số tiền 300.000.000 đồng, nay bà Vinh làm đơn khởi kiện ông Hoan đồng ý trả cho bà Vinh số tiền 150.000.000 đồng + lãi phát sinh, ông Trang thừa nhận 07/01/2016 ông Trang cùng ông Hoan và bà Xuân đến tiệm vàng Kim Vinh, ông Hoan có đưa cho bà Vinh 01 giấy CN QSD đất mang tên ông Hoan để thế chấp vay số tiền 300.000.000 đồng. Bà Vinh đưa số tiền 300.000.000 đồng cho ông Hoan và bà Xuân, còn ông Trang không nhận bất cứ số tiền nào từ bà Vinh, nhưng ông Trang thừa nhận chữ ký trong giấy vay tiền ngày 07/01/2016 là chữ ký của ông Trang, ông Trang chỉ ký tên là người làm chứng, lời trình bày trên của ông Trang là không có cơ sở chấp nhận vì ông không có chứng cứ gì chứng minh cho lời trình bày của mình là có căn cứ, qua xem xét giấy vay tiền không thể hiện người làm chứng, mà thể hiện người vay tiền trong đó có chữ ký của ông Trang, đồng thời bà Xuân không thừa nhận nhận số tiền trên từ bà Vinh.

Do vậy cần áp dụng Điều 471; Điều 474 Bộ luật dân sự năm 2005, Điều 463; Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 cần buộc ông Hoan và ông Trang có trách nhiệm liên đới trả cho bà Vinh số tiền nợ gốc 300.000.000đ, theo tỷ phần ông Trang phải trả 150.000.000đ, ông Hoan phải trả 150.000.000đ.

[2] đối với lãi 300.000.000đ tiền gốc x 0,75%/tháng x 19 tháng  (Từ ngày 31/01/2016 đến ngày 31/8/2017)  = 42.750.000đ.

Do vậy cần buộc ông Hoan và ông Trang có trách nhiệm liên đới trả cho bà Vinh số tiền lãi 42.750.000đ theo tỷ phần ông Trang phải trả 21.375.000đ, ông Hoan phải trả 21.375.000đ.

[3] Cần buộc bà Vinh phải trả cho ông Hoan 01 giấy CN QSD đất được UBND huyện Bảo Lâm cấp cho ông Phạm Văn H ngày 18/11/1997.

[4] Về án phí: Căn cứ  (Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội số 10/2009/UBTVQH 12 ngày 27 tháng 02 năm 2009. Do ông Hoan và ông Trang mỗi người phải có trách nhiệm trả cho bà Vinh số tiền 171.375.000đ gốc + Lãi nên ông Hoan và ông Trang mỗi người phải nộp 8.568.750đ án phí DSST  (171.375.000đ x 5% = 8.568.750đ).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 khoản 2 Điều 207; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 471; Điều 474; Điều 478 Bộ luật dân sự năm 2005, Điều 463; Điều 466; Điều 470; Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015

1/ Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị V về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”  với ông Phạm Văn H và ông Đỗ Xuân Trang.

Buộc ông Phạm Văn H và ông Đỗ Xuân Trang phải có trách nhiệm liên đới trả cho bà Trần Thị V số tiền 342.750.000đ  (Ba trăm bốn mươi hai triệu bảy trăm năm mươi ngàn)  đồng gồm cả gốc và lãi, theo tỷ phần ông Hoan phải trả 171.375.000đ, trong đó gốc 150.000.000đ lãi 21.375.000đ. Ông Trang phải trả 171.375.000đ, trong đó gốc 150.000.000đ lãi 21.375.000đ.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án còn phải trả số tiền lãi, tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.

Buộc bà Trần Thị V phải trả lại cho ông Phạm Văn H01 giấy CN QSD đất được UBND huyện Bảo Lâm cấp cho ông Phạm Văn H vào ngày 18/11/1997.

2. Về án phí: Áp dụng điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội số 10/2009/UBTVQH 12 ngày 27 tháng 02 năm 2009.

Buộc ông Phạm Văn H và ông Đỗ Xuân Trang mỗi người phải nộp 8.568.750đ án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả lại cho bà Trần Thị V 7.500.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004542 ngày 29/12/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Lâm.

Báo cho đương sự có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án  (Hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự), để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

(Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chỉ được quyền kháng cáo phần có liên quan).

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


49
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 35/2017/DS-ST ngày 31/08/2017 về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản

Số hiệu:35/2017/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bảo Lâm - Lâm Đồng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 31/08/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về