Bản án 34/2019/HS-ST ngày 05/03/2019 về tội trộm cắp tài sảnc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH  CÀ MAU

BẢN ÁN 34/2019/HS-ST NGÀY 05/03/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 05 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2019/TLST-HS ngày  21  tháng  01  năm  2019  theo  Quyết  định  đưa  vụ  án ra  xét  xử  số: 35/2019/QĐXXST- HS ngày 23/01/2019 đối với bị cáo.

Lê Hoàng P; tên gọi khác: không; giới tính: Nam; sinh năm 1993, tại Cà Mau; Nơi ĐKNKTT: Ấp Xẻo Ngay, xã VAn Đ, huyện N, tỉnh Cà Mau; chỗ ở hiện nay: không nơi cư trú ổn định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 6/12; con ông Lê Văn H và bà Huỳnh Thị H; Vợ: Lê Trúc L, con: 01 người sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: không; nhân thân: đến ngày phạm tội chưa có án tích. Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/11/2018 cho đến nay.

Người bị hại: Huỳnh Cao Đ, sinh năm 2002

Địa chỉ : Ấp 2, xã T, huyện T B, tỉnh Cà Mau

Người đại diện hợp pháp cho bị hại : Ông Huỳnh Văn B, sinh năm 1979 là cha ruột của bị hại.

Địa chỉ : Ấp 2, xã T, huyện T B, tỉnh Cà Mau

(Bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 giờ 30 ngày 10 tháng 10 năm 2018, Lê Hoàng P đi đến nhà trọ Nguyễn Trọng N thuê tại khóm 5, phường 5, thành phố C để lấy tiền N thiếu P trước đó. Sau khi lấy tiền xong P hỏi N cho P ngủ nhờ một đêm thì N đồng ý, sau dó N đi chơi còn P ở lại trong phòng. Đến 01 giờ 30 phút ngày 11/10/2018, thì Huỳnh Cao Đ (là bạn chung phòng trọ với N) về kêu cửa nên P mở cửa. Đ hỏi P là ai thì P trả lời là bạn N xin ngủ nhờ, rồi cả hai cùng ngủ. Đến 06 giờ sáng, P thức dậy nhìn thấy bọc đồ Đ để trên đầu nằm, trong bọc có 03 cái áo sơ mi, 02 cái quần và 01 điện thoại di động hiệu Vivo nên P nảy sinh ý định lấy trộm bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Thực hiện ý định đó P đi đến chỗ để cái bọc đựng quần áo và điện thoại để lấy mang đi nhằm mục đích chiếm đoạt.

Sau khi lấy được tài sản của Đ, P mang điện thoại di động đến cửa hàng điện thoại di động Thu thuộc khóm 1, phường 8, thành phố Cà Mau cầm điện thoại giá1.000.000 đồng, sau đó P đón xe honđa khách qua khóm 5, phường 9, thành phố C chơi thì bị Đẳng phát hiện báo công an phường 9, thành phố C mời P về trụ sở làm việc, đồng thời thu giữ bọc quần áo gồm có 03 cái áo sơ mi, 02 cái quần và số tiền 933.000 đồng số tiền trên do P vừa cầm điện thoại có được.

* Tại Bản kết luận định giá tài sản số 176/KL-HĐĐG ngày 05 tháng 11 năm2018 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Cà Mau kết luận:

- 01 (một) cái áo sơ mi hiệu Giue (Slim Fit), có giá 120.000 đồng

- 01 (một) cái áo sơ mi hiệu Giue, có giá  120.000 đồng

- 01 (một) cái áo sơ mi màu xanh đen hiệu X88(Look) Made in Việt Nam, có giá 150.000 đồng.

- 01 (một) cái quần Kaki màu đen hiệu X88 (Look) Made in Việt Nam, cógiá 200.000 đồng,

- 01 (một) cái quần Jeans màu xanh đen hiệu HT Jean Made in Việt Nam, có giá 250.000 đồng,

- 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu vàng trắng, giá trị còn lại 80%4.500.000 đồng x 80% = 3.600.000 đồng.

Tổng cộng: 4.440.000 đồng.

Ngày 11 tháng 10 năm 2018, Cơ quan điều tra Công an thành phố C đã thu hồi được điện thoại di động hiệu Vivo mà Lê Hoàng P đã cầm cho cửa hàng điệnthoại di động T do bà Chung Ngọc T C đại diện. Khi bà C nhận càm điện thoại di động của Lê Hoàng P thì bà C không biết đây là tài sản do P trộm cắp mà có nên nên không đề cặp xử lý trong vụ án. Đối với số tiền cầm điện thoại là 1.000.000 đồng  bà C yêu cầu được nhận lại. Ngày 25/10/2018, Lê Hoàng P đã nộp thêm số tiền 67.000 đồng. Cơ quan điều tra Công an thành phố C đã trả lại cho bà C số tiền1.000.000 đồng do P nộp khắc  phục, bà C đã nhận tiền và không yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự. 

Ngày 06 tháng 11 năm 2018, Cơ quan điều tra Công an thành phố C đã trả lại cho bị hại Đẳng 03 cái áo sơ mi, 02 cái quần và 01 điện thoại di động hiệu Vivo. Bị hại Đ đã nhận lại tài sản bị mất nên anh không yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự.

Tại cáo trạng số 28/CT - VKS ngày 18/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dânThành phố C truy tố bị cáo Lê Hoàng P về tội “Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghi áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, h, s khoản 1 Điều 51 BLHS đối với bị cáo Lê Hoàng P. Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Hoàng P từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã qua tranh tụng tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 [1] Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Lê Hoàng P thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo đúng như cáo trạng truy tố, không oan sai. Cụ thể, khoảng 06 giờ ngày 11/10/2018, tại nhà trọ của Đ thuộc khóm 5, phường 5, thành phố C, Lê Hoàng P đã lén lúc lấy đi của Đ một bọc quần áo trong đó có 03 cái áo sơ mi, 02 cái quần và 01 điện thoại nhằm mục đích chiếm đoạt. Sau khi lấy được tài sản bị cáo P mang điện thoại đi cầm để lấy tiền tiêu xài cá nhân thì bị công an phường 9 mời về làm việc và thu giữ tang vật.

[2] Xét lời khai nhận tội của bị cáo là có cơ sở chấp nhận, bởi lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, vật chứng thu giữ được và cùng nhiều tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Xét khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người đã trưởng thành, bị cáo nhận thức rất rõ việc lén lút lấy tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, phải bị pháp luật trừng trị. Nhưng do bảntính lười lao động lại muốn có tiền tiêu xài  cá nhân nên bị cáo đã bất chấp pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 176/KL-HĐĐG ngày 05 tháng 11 năm 2018 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố C kết luận, tổng số tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại là: 4.440.000 đồng.

Do đó, Cáo trạng số 28/CT - VKS ngày 18/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố C truy tố bị cáo Lê Hoàng P về tội “Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo lợi dụng sơ hở của bị hại nên đã lén lút lấy tài sản của bị hại nhằm mục đích chiếm đoạt. Sau khi lấy được tài sản bị cáo mang điện thoại đi cầm với giá 1.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo không chỉ xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại, mà còn gây hoang mang, bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân, làm cho quần chúng nhân dân không an tâm lao động sản xuất, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, vi phạm pháp luật hình sự.

Với hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, cần thiết phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự, để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích, đồng thời cũng để nhằm răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên có xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Ngày 06/11/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau đã trả lại cho bị hại Đẳng 03 cái áo sơ mi, 02 cái quần và 01 điện thoại di động hiệu Vivo. Anh Đ đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6] Đối với bà Chung Ngọc T C nhận cầm điện thoại của P nhưng bà C không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có nên không đề cặp xử lý là phù hợp. Đối với số tiền cầm điện thoại là 1.000.000 đồng, bà C đã nhận đủ số tiền cầm điện thoại và bà C đã giao lại điện thoại trên và bà không có yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét.

[7] Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên ;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, h, s khoản 1 Diều 51 Bộ luật hình sự; Nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Hoàng P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Hoàng P 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp

hành án.

Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Lê Hoàng P phải nộp 200.000 đồng (chưa nộp).

Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


29
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 34/2019/HS-ST ngày 05/03/2019 về tội trộm cắp tài sảnc

Số hiệu:34/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Cà Mau - Cà Mau
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:05/03/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về